Kỳ 5: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

Ngôn ngữ tình ái thời bốn chấm không nghe là lạ bởi sự cập nhật chêm xen ngôn ngữ hiện sinh vui tai “Order chiếc vé mùa xuân đêm khuya nghẽn mạng/ Em thả icon “thương thương” làm giấy thông hành”. Sự hân hoan reo mừng đến độ nhân vật trữ tình “em” như muốn đưa tay gom tất cả các biểu tượng yêu thương trên facebook mà “làm giấy thông hành” thương yêu cho mình. Bởi thế, bài thơ tràn ngập năng lượng yêu. Giọng thơ da diết nồng nàn…

Nhà phê bình – nhà thơ Khang Quốc Ngọc

>> Kỳ 1: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 2: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 3: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 4: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

Thi sĩ Trần Thanh Dũng gửi gắm suy tư về sự đổi mới thi ca vào bài thơ của mình bằng những chi tiết phát hiện ngồ ngộ để rồi tạo ra cái duyên lôi cuốn. Ngay câu đầu đã định danh sự việc rồi, ấy là chuyện “trang trí nội thất cao cấp cho một tòa thơ mới”. Đổi mới thơ hay làm mới cuộc đời bằng “tính từ sang trọng và ủy mị”, “kết thúc bằng tiết tấu đắm say của ngôn tình” nó như là lời xác nhận sự chú trọng thay đổi chạy theo hình thức bởi cả tin vào kiểu cách bay bướm và lả lướt. Một sự kích hoạt quá đáng cho con chữ nhảy lên, rốt cuộc điều ấy chỉ như một kiểu chú trọng thái quá, bởi thực tế cuộc sống và xã hội đón nhận sự đổi mới ấy chỉ là một sự trống vắng hẩm hiu“lâu rồi không ai đến thăm”. Chứng tỏ sự đổi mới kia, hay nói cho sang hơn thì sự cách tân kia đã hoàn toàn thất bại trong thực tế của đời người mất rồi. Câu thơ cứ như giãy đành đạch lên mà xác tín bằng cả yếu tố thời gian “lâu rồi” lẫn yếu tố phủ nhận “không có ai đến thăm”. Nhưng phía sau, đột ngột ý thơ đổi chiều, vài người khách lạ ghé thăm trên trang phục lễ nghi thì hẳn nhiên trong suy nghĩ, điều ấy có thể khiến người ta liên tưởng đến những người trong đội mai táng? Vì họ đến để đưa “tiễn chủ nhân về với trăm năm” (là vĩnh hằng) hoặc có thể đến là để đưa tiễn chủ nhân vào thế giới vĩnh cửu (là sống mãi)? Hiểu theo kiểu thứ nhất thì sự cách tân trên kia, cuối cùng chỉ là con số không tròn trịa – cách tân ấy đã chết! Nhưng nếu hiểu theo cách thứ hai, rằng “vài vị khách không mời, lễ phục” là những người đọc hết sức khách quan, họ đã rà được sóng và phát hiện ra sự đổi mới độc đáo ấy, nên họ lên tiếng đồng hành để có thể đẩy sự cách tân trên kia mà họ đã phát hiện ra, băng băng đến chỗ vĩnh cửu? Bài thơ hay ở chỗ nó đa nghĩa. Giọng thơ ngợi ca tự nhiên, tự do và tự tại. Ý thơ điềm đạm, lời thơ đĩnh đạc trong sự lắng suy giàu chiêm nghiệm:

trang trí nội thất cao cấp cho một tòa thơ mới

 

bắt đầu với những tính từ sang trọng và ủy mị

kết thúc bằng tiết tấu đắm say của ngôn tình

 

nhưng lâu rồi không có ai đến thăm

vài vị khách không mời, lễ phục

tiễn chủ nhân về với trăm năm?

(Trần Thanh Dũng – Sóc Trăng)

Thi phẩm “Xoay kim đồng hồ về chuyến tàu anh” của nữ sỹ Vũ Trần Anh Thư là một thông điệp tiếng lòng cuống quýt bởi vội vàng nhưng vẫn ắp đầy nữ tính. Tiếng yêu đến với nhân vật trữ tình nhanh quá “em bỏ quên tháng mười hai” vì với “em” chỉ có một hướng anh thôi “xoay kim đồng hồ về chuyến tàu anh”. Anh chở tình em là anh cũng đang chở tình mình. Hẳn nhiên thế thì sao không vồ vập? Tình yêu ấy làm con tim “em” cuống cuồng run lên như “trái tim tháng giêng lỗi nhịp”. Cách nói trong tình yêu mới lạ và “độc quyền” thì làm sao mà “em” không “gỡ đúp tờ lịch” (là mong muốn cho thời gian đi nhanh hơn chăng?), rồi hào hứng mà “nhân đôi ban mai xanh” (là mong muốn hy vọng tươi vui cùng anh nhiều hơn nữa chăng?). Câu thơ cuống cuồng toan gấp đôi lại là cốt diễn tả ý thơ như được nhân hai hạnh phúc lên. Tình cảm dâng trào, sóng tình lan tỏa. Vui tươi, ngập tràn yêu thương và ngân nga luyến ái đầy ắp trong những chi tiết “gỡ đúp tờ lịch. Nhân đôi ban mai xanh”. Ngôn ngữ tình ái thời bốn chấm không nghe là lạ bởi sự cập nhật chêm xen ngôn ngữ hiện sinh vui tai “Order chiếc vé mùa xuân đêm khuya nghẽn mạng/ Em thả icon “thương thương” làm giấy thông hành”. Sự hân hoan reo mừng đến độ nhân vật trữ tình “em” như muốn đưa tay gom tất cả các biểu tượng yêu thương trên facebook mà “làm giấy thông hành” thương yêu cho mình. Bởi thế, bài thơ tràn ngập năng lượng yêu. Giọng thơ da diết nồng nàn. Lời thơ quấn quýt mượt mà, êm ái. Hai chữ tình yêu dường như được tô đậm độc đáo rõ nét hơn. Độc giả dường như cũng “ngộp thở” theo nhịp thơ tình nhanh, vội vàng và đáng yêu của bài thơ:

Xoay kim đồng hồ về chuyến tàu anh

 

Em bỏ quên tháng mười hai

Trái tim tháng giêng lỗi nhịp

 

Gỡ đúp tờ lịch. Nhân đôi ban mai xanh

Order chiếc vé mùa xuân đêm khuya nghẽn mạng

Em thả icon “thương thương” làm giấy thông hành.

(Vũ Trần Anh Thư – Hà Nội)

Một sự mường tượng khá độc đáo ăm ắp chất siêu thực, nhìn trời mưa sấm chớp mà liên tưởng đến sự hoài thai và ra đời của những sinh linh bé nhỏ của tác giả Lê Hải Kỳ. Do vậy, câu thơ đầu đã là sự lạ hóa “chiều nay trời ốm nghén”. Hàng loạt câu chữ nhân cách hóa “trời ốm nghén”, “ậm ọe”, “rưng rưng”, “ươm ti tỉ bào thai” phía sau nhấn nhá cái sự lạ trên kia để tiếp nối và bung tỏa. Những câu thơ chớp giật như trời đông chớp giật. Sau đùng đoàng là dịu êm sinh thành. Chất triết lí hòa vào sự lắng suy. Bài thơ giàu thi ảnh “trời ốm nghén”, “ậm ọe tím hoàng hôn”, “giọt đọa đày rưng rưng lã chã”, “căng tròn”, “ươm ti tỉ bào thai”, “sinh linh mang hình hài”, “trong đêm chớp giật”. Đích thị bài thơ miêu tả sự giao thoa đất trời trong cái nhìn phồn thực. Siêu thực hổn hển mà gợi hiện thực bừng giác. Bài thơ thấm đẫm chất tôn giáo phục sinh, nghe như vang ngân rền rền lời của “thượng đế giảng chân lí”, rằng trong muôn có một, trong một có vô cùng, trong ta có thượng đế vậy. Nhịp thơ chắc, lời thơ sắc, ý thơ bện xoắn lại, gọn mà lắng suy giàu chiêm nghiệm. Âm cuối câu kết là âm đóng khép gợi sự chắt lắng và suy tư.

Chiều nay trời ốm nghén

 

Ậm oẹ tím hoàng hôn

Những giọt đoạ đày rưng rưng lã chã

 

Trái đất căng tròn ươm ti tỉ bào thai

Mỗi sinh linh mang một hình hài duy nhất

Mẹ sinh tôi trong đêm chớp giật.

(Lê Hải Kỳ)

Văn hóa làng xã, nét đẹp sinh hoạt, tín ngưỡng miền quê đã được tác giả Đinh Hạ ghi lại trong bài thơ “Phảng phất từ đường hương khói bóng cổ nhân” như thổi được hồn quê vào từng câu chữ đã làm cho độc giả không khỏi nôn nao nhớ. Ở đó có sự nghiêm cẩn thành kính trang trọng và ấm cúng “phảng phất từ đường hương khói bóng cổ nhân”. Ở đó có cái tình quê dạt dào thắm thiết mà trong ngần “người om tình quê trong bát nước chè xanh sóng sánh”. Từ láy “sóng sánh” đặt đúng chỗ nên phát huy tối đa sức diễn ngôn, nó sống động hơn bởi chất an nhiên tự tại hiền hòa bung tỏa. Sự chuyển đổi cảm giác từ âm thanh (tiếng con sáo gù) sang cảm nhận (mát rượi) và có pha chút màu sắc (bóng lũy tre xanh) tạo nên một miền quê êm ả an bình. Ba câu sau điệp ngữ xuất hiện “bóng cha tôi…/ bóng ông bà tôi…/ bóng mảnh hồn làng…” thì rõ ràng kí ức đã như sống lại qua lần chắt nhớ. Phía trên “bóng cổ nhân” gắn chặt với ngôi “từ đường” tỏa xuống phía dưới để phủ trùm lên cả hiệu ứng hiện thực hóa từ con người “om tình quê trong bát nước chè sóng ánh” đến thiên nhiên trong lành “tiếng con sáo gù mát rượi bóng lũy tre xanh”, lẫn hiệu ứng “chập chờn trong kí ức nhớ quên”. Kiểu gợi tả cộng hưởng thực ảo đan cài rất ấn tượng trong việc vẽ nên hồn cốt hương quê. “Từ đường” là nơi thờ phượng tiên tổ thiêng liêng, là nơi tụ về linh khí dòng họ và bản quán. Phía trên là “phảng phất” thì phía dưới là “chập chờn”, trên hô dưới ứng nhịp nhàng, đã tạo ra một không khí linh thiêng cho bài thơ. Lời thơ ngọt. Ý thơ tri ân (với tiên tổ, cội nguồn), tri ngộ (với mình), tri giác (với thiên nhiên, văn hóa). Nói thế để thấy, bài thơ như một bức tranh vẽ phong cảnh thiên nhiên và hồn quê đậm sắc thái văn hóa quê hương Việt Nam êm đềm và trong lành.

Phảng phất từ đường hương khói bóng cổ nhân

 

Người om tình quê trong bát nước chè sóng sánh

Tiếng con sáo gù mát rượi bóng lũy tre xanh

 

Bóng cha tôi vê điếu thuốc lào rít vào tĩnh mịch

Bóng ông bà tôi bỏm bẻm nhai trầu nhân duyên thắm đỏ

Bóng mảnh hồn làng chập chờn trong kí ức nhớ quên

(Đinh Hạ – Nghệ An)

Một bài thơ tình nhẹ nhàng êm đềm như rải êm mùa vụ của nữ sỹ Huỳnh Thị Quỳnh Nga toát lên từ câu chữ ngọt ngào nữ tính và tỏa thơm hương con gái. Bắt đầu là cái lạ “những bình minh dịu dàng tỏa hương” để rồi “lấp lánh mầu hướng dương ngược nắng!” rất duyên thì lẽ đương nhiên bên trong bài thơ là cả một sơ ri những thi ảnh lóng lánh xuân thì “mùa xuân về”, “thơm lên những sợi tóc mây”, “xanh trong những đôi mắt vui”, “môi em những đóa mặt trời”… Cho nên có thể nói đây là bài thơ tình bộc bạch tiếng nói nữ tính hấp dẫn và ăm ắp tình tứ. Ba dòng thơ đầu là sự gợi tả ấn tượng vẻ đẹp thanh thoát tràn trề sức xuân. Sự hấp dẫn đã xuất hiện ngay câu đầu “những bình minh dịu dàng tỏa hương” (là cái đang có), kế tiếp là hình ảnh xác nhận trạng thái “mùa xuân về từ hôm trước” (là cái đã có) nó làm nền cho sự khẳng định “còn thơm lên những sợi tóc mây” (là cái sẽ còn mãi). Một sự nhịp nhàng khai triển gần như hoàn hảo. Em đến, anh đến, và tình ta đã đến, dư âm tình yêu tất yếu sẽ đến, miên viễn. Thơ vừa có chút ôm ấp, vừa có chút giãi bày. Tình yêu ấy sẽ ngân lên “xanh trong những đôi mắt vui” là hiển nhiên; “môi em hay những đóa mặt trời” bỏng cháy và hừng hực những khao khát là tất yếu. Để rồi cuối cùng mọi sự hấp dẫn tụ lại ở thi ảnh hứa hẹn bao nhiêu những dồn chứa khát khao “lấp lánh mầu hướng dương ngược nắng”.

Những bình minh dịu dàng toả hương

 

Mùa xuân về từ hôm trước

Còn thơm lên những sợi tóc mây

 

Và xanh trong những đôi mắt vui

Môi em hay những đoá mặt trời

Lấp lánh mầu hướng dương ngược nắng!

(Huỳnh Thị Quỳnh Nga – Tiền Giang)

Hai câu thơ liên tục xuất hiện dấu chấm giữa dòng như cố tình bẻ đôi ý thơ trong một thế tạo điểm nhấn ngữ cảnh ấn tượng “Tiếng người mòn mỏi gọi thiên nhiên. Chắt chiu đời yến/ Trùng khơi vọng sóng. Vọng thanh bình ríu rít, líu lo”. Rõ ràng, sự xác quyết “tiếng chim nhân tạo gọi bầy” phía trên có chủ ý nhấn mạnh thì phải chăng ý thơ đã có sự nhấn nhá so sánh ngầm giữa “nhân tạo” và “thiên nhiên”? Ý thơ chằng níu nhau gợi tả thật lạ, trong khi “tiếng người mòn mỏi gọi thiên nhiên” để “chắt chiu đời yến” thì âm thanh từ “tiếng chim nhân tạo gọi bầy” bung ra ám gợi “trùng khơi vọng sóng” cũng là tạo dư ba “vọng thanh bình ríu rít líu lo” đó thôi. Thành thử, yếu tố “nhân tạo” kia mở ra cả một thế giới thanh âm cuộc sống “thanh bình” từ những tiếng “ríu rít líu lo”. Sự liên tưởng co giãn biên độ không thể không tác động đến âm vang xúc cảm. Câu chữ đã chắt lọc ra những thi ảnh ám tượng. Nhưng đấy chỉ mới là bước tạo đà, sự bung tỏa thật sự đến là ở phía sau. Một câu hỏi xuất hiện đúng chỗ âu cũng nhằm thể hiện nội dung chủ đề day dứt “có ríu ran nào tương tự để con tim giục giã bầy đàn/ Tha thiết triền miên, đúng giờ, không gian dối/ Vỗ về hoang phế những miền đau”? Hóa ra, vấn đề cốt lõi vẫn là con người. Con người nghĩ ra được nhiều thứ, trong đó có “tiếng chim nhân tạo gọi bầy” thì có thể nào con người lại chẳng nghĩ thêm được “có ríu ran nào tương tự” để rồi thâm nhập vào “con tim” “giục giã”, “tha thiết” nhằm “vỗ về hoang phế những miền đau” của chính con người? Ao ước nhân văn vút lên nâng tầm giá trị cho bài thơ. Sự trăn trở ấy vì con người nên không thể ta không trân trọng. Do vậy, “tiếng chim nhân tạo gọi bầy” chỉ là cái cớ cho tác giả giãi bày những ưu tư trở trăn về cuộc sống con người. Bài thơ trầm vọng mà âm ba triết luận. Nhịp chậm, giọng trầm mang màu sắc chất vấn gửi gắm thông điệp khát khao giải tỏa “vỗ về hoang phế những miền đau” của cuộc người. Bởi thế, bài thơ là nỗi niềm cuộc đời lấp lánh giá trị nhân văn cao quý.

Tiếng chim nhân tạo gọi bầy

 

Tiếng người mòn mỏi gọi thiên nhiên. Chắt chiu đời yến

Trùng khơi vọng sóng. Vọng thanh bình ríu rít, líu lo

 

Có ríu ran nào tương tự để con tim giục giã bầy đàn

Tha thiết triền miên, đúng giờ, không gian dối

Vỗ về hoang phế những miền đau

(Huỳnh Thanh Liêm – Khánh Hòa)

Sài Gòn 19.01.2021

KHANG QUỐC NGỌC

(Còn nữa…)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.