Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 4

Nhà văn Đoàn Hữu Nam

5

VHSG- Lễ cấp sắc đang chuẩn bị xử án ma quỷ.

Trong hành trang chạy loạn, ngoài những thứ thiết yếu cho cuộc sống mang theo cha ông người Dao còn nuôi giữ trong mình nhân, hiếu, đễ, trung, thứ, lễ nhạc. Từ đạo của Thánh Khổng người Dao ý thức được việc lấy đức để trị, lấy phép tắc làm đầu, trong những dịp lễ trọng người Dao thiết lập tòa xử án đánh đuổi ma quỷ, giữ yên cho bàn thờ tổ tiên theo nghi lễ của triều đình.

Như mọi cuộc xử án khác, thánh đường nhà họ Triệu được dựng trong gian nhà thiêng. Hai tấm màn đỏ rực kéo từ cửa vào thánh đường tỏ rõ sự lộng lẫy, nghiêm cẩn. Điện đón vua quan, thánh thần, tổ tiên chín tầng, chín bậc. Bốn cây đèn đứng bốn góc điện. Mỗi cây đèn có chín cái đĩa đèn xòe ra, cháy rực làm nên bốn cây lửa. Phía trên điện là tấm màn mỏng vẽ sao trời chấp chới, trăng chiếu đỉnh đầu. Phía dưới điện cây thành hàng trĩu quả, sóc, khỉ truyền cành, rắn sưởi nắng trên bãi cỏ. Đường lên điện rồng chầu, hổ phục oai nghiêm. Nền điện được dát vàng, dát bạc, trên nhìn xuống như mặt hồ buổi sớm. Góc phải của thánh đường là cửa vào địa ngục. Trước cửa địa ngục gươm, đao, giáo mác tua tủa. Trong địa ngục vạc dầu sôi sùng sục, cùm gông chất đống, dây thừng treo lủng lẳng, từng bầy quỷ sứ đang diễu võ dương oai.

Trong âm u của giời đất, u mê của vòng vây núi rừng, luật tục, cứu cánh của con người là ma lành, sợ  hãi của con người là ma ác. Ma ác, ma lành có mặt khắp nơi, khắp chố, ở đâu có niềm vui, có khát khao, ở đó có ma lành, ma ác. Ma lành có mặt khi sự sung sướng trụ lại trong người đàn bà trong tuổi sinh nở. Ma lành tụ lại trong mùa màng, chui sâu vào chốn  hội hè đông đúc. Ma lành trú ngụ trong gốc cây, ngọn cỏ, trên bàn thờ, trong bếp lửa để phù hộ con người. Song hành cùng ma lành là ma ác. Ma ác len vào trong giấc ngủ. Ma ác canh cánh trong đầu. Ma ác nằm trong xó nhà rình rập sự sơ ý, báng bổ của con người. Ma ác lảng vảng khắp những nơi hoang vắng, hiểm nguy, trú ngụ trong những con thú dữ, thú đội lốt người, chỉ một chút rủi ro thôi là ma ác tỏ rõ quyền uy, là làm cho con người sống dở chết dở…

Bàn thờ Bàn Vương trang nghiêm như trong buổi chầu của Hoàng đế. Ba bộ tranh Khổng Tử, Lềnh Phú và mười một vị thần Tam thanh – cẩm nang của ba ông thầy xử án ma quỷ, lấy lại trong sạch cho bàn thờ tổ tiên đã được treo dưới bàn thờ.

Mọi người hồi hộp, thành kính, danh sách mời các vua quan, thánh thần về dự lễ cấp sắc sắp đặt theo nghi lễ của triều đình đã sẵn sàng.

“Xưa nay hổ cậy thần rừng/ Thần rừng cậy hổ cho lừng tiếng thiêng/ Gặp thời thần thánh chung chiêng/ Oai danh ông hổ liêng biêng cuối giời”. Câu khích tướng của thầy cả đã động đến oai danh thánh thần. Nhụt Lùng – vị thần mặt trời đang mải say sưa leo trèo giật mình vén mây, gạt gió. Thần núi, thần thổ địa đang mải mê cùng các cung nữ giật mình ngừng trò. Thần gió đang tấu lên bài ca tiêu giao cùng giời đất bỗng ngừng bặt… Thần nào thần nấy giật mình nhìn xuống. Trên bàn thờ nhà họ Triệu gà mái đang ấp bóng, giữa lãnh địa nhà họ Triệu hổ uể oải liếm mép, quỷ ba đầu mài nanh, múa vuốt, tổ tiên nhà họ Triệu, kẻ nem nép góc bàn thờ, kẻ rên xiết dưới roi dưới vọt, kẻ đầu rơi khỏi cổ…

Bốn lần tù và mời sư phụ và vua, quan, thánh thần xuống xử tội, đánh đuổi ma quỷ của thầy cả nổi lên. Lời khấn khứa nổi lên. “….Nhà họ Triệu kính thần, nhường thánh/ Sao quỷ về phá phách không yên/ Bàn thờ tổ gà lên ấp bóng/ Dưới gầm sàn hổ liếm mép đòi ăn/ Cháu con ăn ngủ chẳng yên/ Âu lo trăm mối, phiền lo trăm bề/ Nay làm lễ đón trời đón đất/ đón gió mây thần thánh về đây/ Trước là xin hãy ra tay/ Trị ma trị quỷ giữ yên bàn thờ…”. Lời khấn làm giời đất, thánh thần bối rối. Tổ tiên họ Triệu đang chịu bao đau đớn, oan khuất, giời đất, thánh thần không thể quay lưng. Thần dân họ Triệu đã ngửa mặt kêu xin, giời đất, thánh thần không thể bịt tai, nhắm mắt. Tiếng tù và nhà giời nổi lên. Tiếng tù và các thần bốn phương đáp lại. Tiếng tù và rền rĩ nối từ Đông sang Tây, xẻ từ Nam lên Bắc. Tiếng tù và đan từ chín tầng trời xuống sâu ba tầng đất. Tiếng tù và hội tụ, lĩnh ý giời đất, thánh thần, một tiếng sét kinh hoàng làm cho bầu trời roãng ra. Những con đường làm bằng ánh sáng như sợi dây thừng loăng quăng nối từ giời xuống nhà họ Triệu như những sợi khói nhang khổng lồ. Các binh tướng, binh quân, kẻ voi, người ngựa, nét mặt phừng phừng, gươm giáo rợp trời, giáp trụ sáng loáng, tất cả rời vương cung thánh đường bám theo sợi dây thừng xuống hạ giới. Trên đường đi thánh thần gặp mây – mây dạt thành lối, gặp gió – gió mở thành đường, trăng sao mờ nhạt, cây rừng quật ngang quật ngửa. Họ bay qua rừng ma – rừng ma biến thành rừng đom đóm, bay qua rừng quỷ – rừng quỷ biến thành rừng quạ đen, bay qua sông sâu, vực thẳm – thuồng luồng ngửa bụng như cá trong ao trúng độc. Dọn đường cho họ là dọn đường của trời. Đường đi của họ là làm cho mặt đất trong sạch, làm cho không khí trong lành.

Binh tướng, binh quân đã đi qua bức tường thành dày chín nghìn lớp, đã qua cầu treo dài chín nghìn thước, lướt qua sông sâu, sóng cả, qua núi cao, vực sâu, đã biến thành một cơn gió nóng ùa vào nhà họ Triệu. Bếp lửa bừng lên. Những khuôn mặt bừng lên. Nhụt Lùng toàn thân màu lửa lượn một vòng quanh thánh đường rồi đậu xuống ngai vàng. Mười ba binh quân của người biến thành mười ba tia nắng tỏa ánh hào quang quanh ngai. Vua của người Dao đỏ, vua của đất nước, thần lửa, thần đất, thần cai quản bản làng, thần phù hộ cây cối tốt tươi, thần khai thiên lập địa, thần cai quản ma quỷ trên thế gian, sư phụ của các thầy, mười một vị thần Tam Thanh cùng với hai vị thánh Khổng Tử, Lềnh Phú vây quanh.

Tiếng tù và mời Nhụt Lùng và các vị thần nhận đủ tiền bạc, xem xét giấy tờ và xét xử, đánh đuổi ma tà nghiêm minh, phù hộ cho con cháu mạnh khoẻ, gia đình yên ấm vang lên.

Đấng Nhụt Lùng tối cao cùng các thần tham dự xét xử phiên toà  đã sẵn sàng.

Ban cố vấn các ngành toà án,  kiểm sát, cảnh sát đã ngồi vào vị trí giám sát.

Các vị thần kiểm sát đã lập xong cáo trạng.

Thời  buổi loạn lạc, kỷ cương phép nước rối bời nên tội phạm lắm, phải xử án nhiều nên từ các thần đến binh tướng, binh quân ai cũng vừa mệt mỏi, vừa hầm hầm tức tối.

Song án không thể không xử.

Bài luận tội của vị thần cảnh sát vang lên như sấm. Các tội thần đang hoành hành ngang ngược, bắt người ốm người phải ốm, bắt người điên người phải điên, cho mùa màng được mùa màng… vậy mà nghe  luận tội chúng phải đổi hình đổi dạng, kẻ mọc thêm đuôi, kẻ đầu rụt trong cổ, tay chân, lưỡi, mặt ngắn dần, tiếng kêu xin cất lên ai oán.

Các binh tướng, binh quân thừa lệnh các thần dẫn ma ác, quỷ dữ phạm tội tới địa ngục. Những quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa đợi sẵn. Ma, quỷ vừa líu ríu qua cửa đã bị tóm lấy, kẻ bị cưa đôi, kẻ bị túm tóc lẳng vào vạc dầu, kẻ bị ném thẳng vào cái mồm rộng ngoác của thuồng luồng, cá sấu… Máu đổ chan hòa, đầu rơi ra, lắp vào, lại rơi tiếp, vạc dầu đầy những bộ xương ngoi ngóp…

Bầu trời trong sáng trở lại. Ma quỷ đã bị đánh đuổi, bàn thờ tổ tiên đã thiết lập lại sự bình yên, gia chủ cùng mọi người hể hả tiễn vua, quan, thánh thần, tướng quân bằng cách làm cho cả đống vàng mã, ngựa xe cháy đùng đùng. Theo ngọn khói ngựa xe, binh quân, các thần rầm rập về trời, để lại đằng sau những nụ cười hỉ hả, mãn nguyện.

*

*     *

Trong lúc ngoài nhà rền rĩ tiếng cúng điều hành xét xử ma quỷ thì ở trong buồng Triệu Tá Sắn đi đi lại lại, bụng dạ mở cờ.

Ha ha…

“Chúng con xin được đem chuông, gậy thần đi đón vua quan, thần thánh. Lần thứ nhất, lần thứ hai, chúng con thắp hương thơm. Khói hương nghi ngút đúng theo nghi lễ. Trước hết mời vua, các quan và thánh thần dự tiệc, nghỉ ngơi, sau đó giám sát, phù hộ chúng con, để chúng con giải quyết những công việc gia chủ giao cho…”.

Ha ha…

Các ông Lềnh Sỉ, Lềnh Phú, Tù Tác ơi, trong tay mỗi ông có một trăm hai mươi binh quân mà uy quyền của các ông ngút trời, sạt đất. Các ông Hòi Phan, Thài Vảy, Zồng Tàn ơi, trong tay mỗi ông có ba mươi binh quân mà ông làm cho cả một tộc người cúi rạp… Tôi đã từng có trong tay cả ngàn quân. Tôi đã từng gánh vác công việc như cả ba ông đang gánh vác. Tôi đã từng có đất, có dân, đã từng … đã từng…, vậy mà… Tôi đã lấy cái gốc để lừa người, lấy cái ngọn để sai khiến người. Mọi việc trong tay tôi đã từ không đến có. Rừng, ruộng, nương, sông, suối, chim, thú, thóc gạo đến súng ống đạn dược đã đầy trong tay tôi. Quân cán, dân chúng đã ngờm ngợp theo tôi, vậy mà cửa giời vẫn đóng, cửa đất không thông. Cái phấp phỏng, lo âu của tôi hôm nay là tiền đề của bấp bênh, của cái mất ngày mai. Tôi đã phải trắng tay, phải chui lủi như con chó đói giữa rừng. Tôi… Tôi!!! Không thể được. Luật lệ là do con người dựng lên. Tôi không làm cho nghiêng trời lệch đất như các ông thì phải làm được cái việc mà mấy ông thầy phù thủy đang mê hoặc đám dân đen kia. Tôi phải bắt rễ, phải cắm sâu, phải xới xáo cho rừng này, đất này tung hê lên rồi muốn ra sao thì ra.

6

Sau khi tiễn thầy, tiễn khách, Triệu Tá Dùn buộc phải đối mặt với ông bạn kết nghĩa. Đang phừng phừng men rươu lại mong muốn dứt được kẻ đeo bám mình như đỉa bám háng trâu, Dùn thả ra một thôi một hồi lời lẽ, kết tội có, mơn trớn có, dụ dỗ, thuyết phục có.

Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam

Sắn ngồi im chịu trận. Cho đến khi hơi rượu từ mồm Dùn phả ra đã nhạt hắn mới thủng thẳng kể lại lần hắn cùng Dùn đi vây bắt, tra tấn, thủ tiêu cán bộ ở Mường So; lần cùng Dùn càn quyét, đốt nhà, cướp của, hãm hiếp đàn bà con gái ở Tam Đường. Cuối cùng hắn nói đến chuyện kết nghĩa vườn đào đã ám vào hai người như bồ hóng ám vào thịt cán bá. Bao ngày chui lủi đói khát trong rừng mà hắn vẫn đội chữ tín lên đầu, vẫn cố giữ lấy thân thể cha mẹ, trời đất ban cho là vì còn anh còn em, còn nghiệp lớn chưa thành. Chưa hết, hắn còn bộc bạch việc chơi với hắn là phải chấp nhận sự lắt léo, khó chịu. Bọn hắn như con vắt trong rừng nứa mùa mưa, người đi rừng lúc nào cũng căng ra cảnh giác những cái vòi êm ái, xong giết chẳng giết xuể, cho qua cũng chẳng xong, nhoáng một cái đã thấy lủng lẳng ở bụng chân, khuỷu tay, nhất là ở những chỗ kín.

Dùn lặng người, đất Phòng Tô này cả Việt Minh lẫn Pháp, phỉ đều rõ Sắn. Năm 1950 Sắn được tri châu giao quyền chỉ huy năm trăm quân phỉ, đánh đâu, đốt nhà nào, bản nào, giết người, hãm hiếp đàn bà con gái đều cho hắn tùy ý. Ngày ấy dân chúng trong vùng hắn bảo theo, đi theo, bảo nộp gà, nộp gà, bảo nộp rượu, nộp rượu, bắn được hổ nộp bộ xương, bắn được gấu nộp cái mật và bốn cái chân… Ngày ấy dân chúng sợ hắn hơn sợ cọp thành tinh, nghe thấy hắn có mặt ở vùng nào là người vùng ấy hồn một nơi người một nẻo. Chỉ huy phỉ đánh úp bộ đội ở Lùng Chín là hắn. Tàn sát họ Thào ở Nậm Mả là hắn. Tạo ra các toán phỉ dân tộc này đến cướp phá, hãm hiếp người của dân tộc khác là hắn… Bộ đội, dân quân, công an truy lùng hắn như truy lùng con hổ thọt trong rừng sâu, nhưng hắn thần thông biến hóa, nhiều lúc tưởng như chui xuống đất không thoát, bay lên trời không xong, vậy mà hắn vẫn điềm nhiên thách thức cả giời, cả đất. Cuối năm 1954, Việt Minh dồn toàn lực tiến công phỉ. Trong trận đấu súng kịch liệt ở hang Séo Mí Tỷ hắn đã bị họng súng của bộ đội biên phòng cho chầu diêm vươpho, nhà hắn, bản hắn đã mổ ba trâu, chín lợn làm ma, vậy mà sao hắn vẫn sống, vẫn làm con ma ám ảnh cả vùng.

Như đọc được cảnh gà mắc tóc của ông bạn kết nghĩa, Sắn thủng thẳng đưa Dùn vào vòng ma trận. Sắn nói:

– Tôi cứ chẻ hoe thời vận để ông suy xét. Ông cứ ngẫm mà xem, đời ông tội lỗi đầy mình mà được như thế này là coi như xong, nhưng còn con ông, dòng giống nhà ông. Triệu Phú Vương… Hừ! Ngay khi đặt tên dòng họ Triệu nhà ông đã trông mong, khát vọng về nó. Nó sinh giờ Thìn, ngày Thìn. Sự trùng hợp ngẫu nhiên hay giời đất sắp đặt. Có lẽ cả hai. Chân mệnh của nó là lòng nhân ái, là nghị lực, kiên cường bao trùm, là quý nhân phù trợ, làm việc gì được việc ấy, là tiếng thơm để lại muôn đời. Nó sinh ra giời đất đã cho nó một cơ thể khỏe mạnh. Nó trán cao, sơn đình rộng, mắt xếch, lông mày rậm, miệng rộng, tướng đi chậm rãi, ăn to nói lớn, ra dáng người đứng đầu thiên hạ. Mười ba tuổi nó đã là một thợ săn lão luyện. Mười bảy tuổi nó đã thông hiểu lý lối như thày cúng. Hôm nay, tuổi vừa tròn đôi mươi nó đã vượt qua cửa ải cấp sắc bảy đèn. Cái lý người Dao, con chim bay trên trời không kêu lên mọi người ở dưới đất không biết sẽ có việc gì xảy ra. Giờ chim đã kêu, người, giời, đất đã biết, mọi việc vui mừng của nhà họ Triệu đã rõ ràng. Thần Hòi Phan đã hiện thân trong nó. Ông thừa biết, đêm đến mặt trời tất sẽ lặn nhưng trăng sao tiếp tục soi sáng mọi nơi. Ông rồi sẽ già, rồi sẽ về với tổ tiên, song ông có quyền hy vọng vào nó. Người Dao Phòng Tô có quyền mong mỏi một ngày nào đó nó sẽ đứng đầu thiên hạ. Trong chính quyền của Việt Minh ông đã làm được khá nhiều việc cho mình, cho người Dao. Ông đã lót đường khá kỹ cho con, cho cháu. Nhưng ông nên biết cái quá khứ nhuốm chàm sẽ khiến cho ông sẽ bị rơi hố bất cứ lúc nào. Ông hãy hình dung một ngày nào đó người ta biết ông đã từng bắt, giết không dưới năm người Hmông, Dao, Kinh; biết ông từng cùng quân lính đốt phá, triệt hạ cả một làng người Pú Nả. Lúc ấy họ có để yên cho ông không? Một ngày nào đó họ chợt nhận ra bên trong dáng vẻ tận tụy, hết mình vì dân, vì nước là kẻ có nợ máu với họ. Lúc đó ông sẽ ra sao? Họ Triệu nhà ông sẽ ra sao?  Một trong những tuyệt chiêu hạ bệ người mình không thích của Việt Minh là đào bới quá khứ. Khi ông thành quả chanh vắt hết nước, họ sẽ lộn trái đời ông, con đường đang đưa ông lên giời sẽ đưa ông vào nhà giam, con đường ông mở sẵn cho con cho cháu sẽ dẫn con cháu xuống địa ngục. Ông là người thức thời, là người hiểu biết, ông biết phải làm gì bây giờ…

Làm gì? Làm gì?… Dây to dễ cởi, dây bé khó cởi, sợi dây bện bằng tơ đã thít vào cổ Dùn từ lâu rồi, gỡ được nó chẳng khác gì chui ra khỏi miệng con thuồng luồng.

– Tôi biết ông từ bé đã được ướp trong cái bể đạo lý, nhưng ông ơi, đạo lý, tấm lòng mà không trải ra được dưới trời cũng giống như miếng ngon trong mồm, không nuốt, không nhả được tất nó sẽ thối, sẽ thành bệnh. Ông là con hổ sống giữa rừng quen, việc gì ông phải rón rén, lấm lét, phải ngâm cái chí ở trong mồm, ông phải trổ cái tài của mình cho thiên hạ biết. Ông phải làm rạng danh mình, rạng danh thầy.

Dùn rùng mình, anh không cãi nổi cái mồm con rắn độc này. Anh  đánh đuổi ma quỷ, làm trong sạch bàn thờ tổ tiên nhưng anh chưa làm trong sạch được chính mình. Vậy là một lần nữa anh, cả nhà anh lại bị một thế lực đen tối vây hãm, đe dọa. Chúng xỏ mũi, dắt anh đi chốn nào? chống lại nó ra sao? câu trả lời còn nằm cả trong búi gai lùng nhùng chưa biết cách nào gỡ được.

7

Rời nhà Dùn, Sắn mang theo tâm trạng day dứt, tiếc nuối. Với ông bạn “năm cùng” thì không nói làm gì. Cá trong bể, thú trong lồng, luyện thế nào, mổ thịt ra sao là ở người nuôi nhốt nó, song việc cụ giáo không những cản trở Sắn mà còn cấm cửa. Cụ đã làm cho hắn thấy mình bị đánh sập một cây cầu.

Mặc dù trong đời Triệu Tá Sắn có rất nhiều chiến tích, song điều Sắn tự hào nhất là từng là học trò của cụ giáo Choong – ông nội của Dùn.

Cụ giáo Triệu là linh hồn, là tấm gương sáng về Nhân, Nghĩa, Đức, Trí cho cả vùng Sín Chải noi theo.

Cụ giáo có một lai lịch khá phức tạp. Vùng Sán Chải là mảnh đất xa xôi ngàn dặm, “tay vua với tới khó khăn, ngựa quan đi qua chẳng kịp dừng”. Con người ở đất này có mấy trăm năm thì mấy trăm năm tự bảo nhau làm, tự bảo nhau ăn. Động đến quyền lợi thì tự chém giết, chèn ép lẫn nhau. Gặp tai ương thì thành ngọn đèn hàng xóm, hết tai ương thì đèn nhà ai nhà nấy sáng. Khôn, ngu, tối, sáng tự hưởng, tự chịu, không phụ thuộc, chằng rễ với đâu. Năm 1887, Thực dân Pháp phá được tuyến phòng thủ Tây Bắc, đánh tan đội nghĩa quân của Đèo Văn Toa chiếm Phòng Tô, thành lập chế độ quân quản, biến từng vùng thành khu biệt lập, thành xứ tự trị. Sán Chải trở thành tâm điểm của tỉnh. Con đường đi qua Sán Chải nối từ Lào Cai, Than Uyên, Văn Bàn đi Lai Châu, Điện Biên, đi Kim Bình – Vân Nam – Trung Quốc trở thành con đường huyết mạch. Mỏ vàng sa khoáng được phát hiện hút hồn cả các thổ ty lẫn các quan thầy Pháp Quốc. Rồi những sản vật từ rừng, từ núi, những mối lợi rút ruột từ những người nông dân lam lũ…, nong mật bày ra, ruồi, ong, kiến, gấu bu vào, Sán Chải biến thành nồi thắng cố đang sôi.

Sự  tranh tối, tranh sáng làm khốn khổ cho cả vùng nhưng lại là lợi thế cho những kẻ đục nước béo cò, trong đó có gia tộc họ Triệu ở Sín Chải. Ông nội cụ giáo, tức ông Trưởng họ Triệu vốn gốc lấy vật đổi vật kiếm lời. Lợi dụng chút vốn liếng, sự khôn khéo và chính sách mua chuộc dụ dỗ của người Pháp, ông đã chạy được chân độc quyền mua bán vàng khai thác từ mỏ Sán Chải và bán dầu muối cho cả vùng. Ở cái lòng thúng Phòng Tô này dầu, muối đã là vàng rồi, được độc quyền mua bán dầu, muối lại được mua bán vàng thật nữa thì quả là giàu có song hành. Phàm ở đời, nhất là trong vùng đất kỷ cương thả lỏng, sáng tối đè nhau thì giàu có luôn sóng đôi với ghen ghét, thù hận cướp bóc, triệt hạ. Để bảo vệ và mở rộng con đường buôn bán của mình, ông Trưởng tộc họ Triệu đã tuyển mộ, huấn luyện được một đội quân bảo vệ dũng mãnh, tinh thông võ nghệ. Đội quân ấy đã nhiều năm lừng danh  cả về trung thành lẫn tàn bạo. Nó đã khiến hầu hết những thổ ty, những nhóm giang hồ có máu mặt trong vùng vừa ghen ghét, căm thù ông, vừa kiềng ông như kiềng hổ.

Không cưỡng được với thời gian, bệnh tật ông Trưởng họ Triệu phải về với tổ tiên để lại việc cai quản họ tộc, công việc làm ăn cho con trai cả, tức là bố cụ giáo.

Bố cụ giáo là người ngang tàng, nóng nảy, lòng tham ngùn ngụt, tính tình sục sôi, bạo tàn, mưu mẹo đủ để lật phải thành trái, lật trái thành phải. Ông nối nghiệp bố mấy năm là mấy năm cả vùng  nằm ngồi trên chảo lửa.

Gieo gì gặt nấy, cuối năm Canh Ngọ, trong một chuyến áp tải đoàn ngựa thồ dầu, muối từ Lào Cai về Sín Chải, ông Trưởng họ Triệu sa vào ổ phục kích của bọn cướp. Cuộc tàn sát đẫm máu đã làm ông cùng phần lớn tay chân bị kết liễu bằng đao kiếm. Tin dữ vừa bay đến Sín Chải thì cả nhà ông đã bị những kẻ theo đóm ăn tàn rùng rùng bao vây, đập phá, cướp của, giết người.

Sự can thiệp kịp thời của quan đồn trú Sán Chải đã cứu nhà họ Triệu khỏi một cuộc triệt hạ tận gốc song không dập tắt được mối thù của những kẻ lấy đao búa làm sức mạnh. Đỉnh điểm của cuộc trả thù là cuộc đào mộ tập thể. Không biết do may mắn, do biết trước kết cục, hay dòng máu anh hùng còn theo về tận thế giới bên kia mà khi những quan tài bật nắp là đồng loạt thây ma dưới mộ mắt mở trừng trừng, hai tay ngó ngoáy như muốn vớ lấy gươm đao. Mấy kẻ hung hăng, rượu vào, tính anh hùng hảo hán nổi lên vừa giơ tay ấn đầu các hình nhân xuống đã phải rú lên, máu mồm hộc ra rồi chúi đầu xuống mộ chết tươi khiến bọn cướp mấy ngày sau hồn vẫn chưa về nhập xác.

Sau trận kinh thiên động địa ấy các thổ ty có thế lực, bọn cướp và cả quan quân đồn trú Sán Chải đều kính phục, nể sợ, không ai dám động đến nhà họ Triệu.

Cụ giáo Choong được đón về, tiếp nhận, cai quản gia tộc, cai quản nghiệp nhà trong cảnh nửa khóc nửa cười.

Mẹ cụ giáo là con của một thày đồ sinh sống và dạy học ở nơi hai con sông lớn gặp nhau. Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình dòng dõi, chữ nghĩa truyền đời không may sa chân vào ngôi nhà được xây lên từ sự lừa lọc, tàn bạo, bà đã sớm nhận ra kết cục có vay có trả. Khi cụ giáo đến tuổi học hành bà đã gửi con về nhờ ông ngoại nuôi dưỡng. Trong những năm tháng bên cạnh ông ngoại, được tắm gội trong đạo lý thánh hiền đã cho cụ giáo cách nhìn nhận về con người, về cuộc đời khác với những người trong gia tộc. Cụ học đòi hạt cát, cố nguyện lựa chiều, xa hẳn bụi trần, thoát khỏi vòng danh lợi. Cụ đã rời hẳn nghiệp nhà như lời nguyện ước của người mẹ nhìn thấu trời xanh. Cụ bằng lòng với những cái mình đang có. Thay việc làm cho của cải chìm nổi của ông cha còn sót lại sinh sôi nảy nở cụ nuôi sự thanh thản bằng cách trị bệnh cứu người, mở lớp dạy học. Trong khi con người chỉ chui chúi vào lo cho mình có  một người bỏ tâm sức, tiền của ra lo cho người như cụ là quả hiếm. Giữa một vùng lấy cái lam lũ làm cơm mà lúc nào cụ cũng quần áo kiểu vua ban còn lớp pha ra phin láng bóng, cái triện vuông nổi rõ trên lưng áo dài; tóc búi tó, cài trâm; mặt mũi toát ra vẻ đôn hậu, thư thái, thanh nhàn. Sự bệ rạc, bê tha như ngọn gió rải khắp vùng vậy mà nhà cụ lúc nào cũng khói trầm nghi ngút, bước qua cổng là gặp không khí trang nghiêm, vừa lâng lâng e ngại, vừa gần gũi, vừa chân chất thật thà thì làm sao mà không phục, không kính trọng. Đạo học suy, khắp nơi chìm trong cảnh xưng hùng xưng bá, binh đao, cướp bóc, song suối có nguồn, trời có mặt trời, mặt trăng, cụ giáo vẫn là chỗ cho người ta trông vào. “Một người bắc cầu trăm người qua, một người sao sách trăm người xem”, cụ không chỉ là thầy học, là ân nhân mà còn là cây cầu, bến đỗ, là nơi chốn có thể sẻ chia, nương tựa của nhiều người.  Không ai biết những buồn đau, day dứt, cái gánh nặng cha anh để lại cụ cất giấu vào đâu, họ chỉ biết trong quay cuồng của gió bão mà tâm cụ vẫn tĩnh, lòng cụ không động, qua cụ, họ thấy giời, thấy đất, thấy lý, thấy lối, thấy dòng nước đầu nguồn. Họ chỉ biết khi giảng sách thánh hiền đôi mắt cụ rực sáng, người như nhập đồng, cái giọng trầm trầm mang nặng hơi thở của rừng âm vang như chuông làm mê hồn người, làm đắm chìm dục vọng. Chữ nghĩa thánh hiền, đạo lý làm người cụ truyền lại cho người đời đã cho nguội bớt nhiều cái đầu nóng, hâm nóng nhiều cái đầu lạnh, đã nhiều cây nên hoa nên quả từ sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cụ.

Sắn là học trò bất đắc dĩ của cụ giáo.

Bó tay trước những việc làm ngỗ nghịch của Sắn, ông Châu đoàn đã đến xin cụ cho con được làm học trò. Ông thưa với cụ: “Nó hư hỏng, nó vuột khỏi tay tôi mọi đường, mọi nhẽ, theo cái máng đang trượt  nó sẽ làm những điều có tội với giời, với đất, với người. Tôi hiểu biết nông như con suối mùa cạn, không làm gì được, phải nhờ thầy thôi.”. “Không có gì không giáo hóa được.” – Sau một hồi ngẫm ngợi cụ giáo nói với bố Sắn.

Sắn được làm học trò cụ.

Cũng như nhiều người, lần đầu tiên được gặp hắn đã ngưỡng mộ cụ giáo. Song củ rìu khó mài, bản tính khó sửa. Làm học trò rồi, ngày ngày nhìn gương cụ giáo, trông gương bạn bè, nhét chữ thánh hiền vào đầu, vậy mà cái tính ngang tàng trong máu Sắn vẫn không phai nhạt. Nó làm học trò mấy năm là mấy năm nó làm cụ giáo ngồi trên chảo lửa. Sắn ngang tàng song khí phách. Sắn đánh nhau với bạn, cụ giáo bắt quỳ một canh giờ, Sắn quỳ ba canh, đến lúc tự mình đổ kềnh mới thôi. Bị bắt lỗi không thuộc bài, Sắn tự nguyện quỳ trên đống quả dẻ gai chịu tội. Bị bắt lỗi không kính trên nhường dưới, Sắn tự đập đầu vào tường đến toé máu. Không việc gì Sắn không làm.

Rồi Sắn chui vào vòng xoáy của bả quyền lực. Hắn theo họ Đèo tác oai tác quái. Hắn đăng lính khố xanh và leo lên đến chức Đội. Hắn tự dẫn người vào rừng nổi phỉ. Hắn còn cả gan đến gặp cụ, thuyết phục cụ làm ngọn cờ tập hợp lực lượng. Lần ấy xảy ra một cuộc tranh cãi quyết liệt giữa hai thầy trò, đúng ra là sự va đập giữa cơn lũ và tảng đá. Biết không cản được đường quỷ, cụ giáo khuyên Sắn lấy sự dung hòa làm gốc. Theo cụ cái cũ cương lên hao tổn đến dân chúng, cái mới tràn qua cũng hao tổn đến dân chúng, sao không lấy cái cũ cái mới hòa nhau, đắp đổi cho nhau, cùng nhau gìn giữ, gây dựng lấy sự thanh bình.

Cụ bảo Sắn:

– Lâu nay ta tích đức, tích của chia cho người, dẫu thánh chẳng đến lần, hiền chẳng đến lượt nhưng ta đã nuôi được sự thanh thản trong lòng, ta không muốn dây vào việc tranh giành.

Đáp lại sự điềm tĩnh của cụ giáo, Sắn bảo:

– Con biết việc mời thầy ra làm việc bây giờ chẳng khác gì đun lửa trên nước, song thầy vẫn dạy Mệnh và Nghĩa là hai việc ở đời không thể trốn được, bây giờ rừng núi, tổ tiên bị bọn chúng đưa người về dày xéo thầy có thể nhắm mắt được chăng?

Cụ giáo nhìn Sắn, lắc đầu thương hại:

–  Nhưng anh nên biết chỉ vì thay đổi mà đẩy mọi người vào cảnh nồi da nấu thịt thì sẽ đến lúc tuyệt diệt cả giống nòi.

– Thầy vẫn dạy thấy nhà cháy thì phải dập, thấy người chết đuối thì phải cứu, giờ đất nước trong cơn binh lửa, dân chúng trên thuyền giữa thác, thầy khoanh tay đứng nhìn, như thế hợp với đạo trời chăng?

– Hợp đạo trời là phải thấy cái lớn trong cái nhỏ, lấy cái cộng vào nuôi dưỡng cái sinh sôi. Thử hỏi một đất nước mà chia ngàn chia vạn, mỗi vùng đất, mỗi tộc người đều như con nhím xù lông, không ai nghe ai thì còn gì là đất nước.

– Nhưng thầy ơi, trong trời đất luôn luôn có kẻ mạnh, kẻ yếu. Kẻ mạnh dồn kẻ yếu vào vách đá tất kẻ yếu phải vùng lên, kẻ yếu không thể ngồi chờ kẻ khác bóp chết mình được.

– Nhưng anh phải thấy được cái tầm, cái thế của mình chứ. Trước sự mất còn tôi mong anh hãy xem lại việc mình sẽ làm. Số phận của đám mây trước giông bão là thế nào anh thừa biết rồi.

– Dạ thưa, con đang vì đất này, vì dân tộc này. Được mất thế nào ngoài trông vào vận giời còn phải trông vào lòng người, mà lòng người thầy thấy đấy, đám đông đang ngả về phía chúng con.

Cứ thế nước mềm đối nước mềm, đá cứng đối đá cứng, cụ giáo đã không cãi được Sắn, Sắn cũng không thuyết phục được cụ giáo, cuối cùng đành phải “nước chảy nước cứ chảy, đá đứng đá cứ đứng”.

Sắn không mời được cụ giáo làm ngọn cờ tập hợp song trong suốt tháng ngày hoành hành ngang dọc, lúc thành, lúc bại, không lúc nào Sắn không khát khao có được cụ giáo. Còn lần này… Mặt trận Phòng Tô tự trị cần cụ giáo như cây non cần nước. Cụ giáo kiên quyết chối từ buộc Sắn phải nghĩ đến cách giăng bẫy để lôi kéo, ép buộc Dùn, khi cả họ Triệu vào bến mê rồi cụ giáo có còn ngoài cuộc được không.

ĐOÀN HỮU NAM

(Còn tiếp)

TIN LIÊN QUAN:

>> Đoàn Hữu Nam – Từ công nhân làm đường đến nhà văn

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 1

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 2

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 3

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *