Gia tộc Thanh Vàng – Tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Văn – Kỳ 3

3

… Ôi… uốn… ề… à…

………

… O… ôi… ề…

Mặc kệ cho “cậu” ngồi lắc ngiêng chỉ chực sắp đổ trên mô đất, nét mặt thiểu não, giọng mếu máo, nước mắt, nước mũi, rớt rãi nhỏ xuống thành những sợi dài. Ông Thìn đen ái ngại nhìn lên bầu trời chỗ hai người ngồi, bầu trời cao xanh, không một mái che. Đã tới đầu giờ trưa nên cái nắng đầu thu vàng nhạt đã mau chóng chuyển sang thứ nắng cuối hè vàng bỏng lưng. Chiếc nón từ lúc ông Thìn đen đưa cho “cậu” đội bây giờ mới tỏ ra có giá trị. Dưới vành nón cũ đã ngả sang màu sầm sì, gương mặt của “cậu” trông giống như quả sấu rụng trong vườn, nó đã thâm  lại và đang bắt đầu héo. Quả sấu rụng thâm héo đang mếu máo khiến ông Thìn đen càng thêm ái ngại. Ông đang cố tự hỏi mình sao những người như “cậu” mà cũng có lúc cảm thấy nhớ nhà? Nỗi nhớ nhà của “cậu” có giống nỗi nhớ nhà của ông hồi ông mới có mười hai tuổi không? Năm ông mười hai tuổi ông đã xa nhà. Cuộc đi xa của ông dài những hơn sáu mười năm ông mới được trở về làng thực sự. Giờ mới là lúc cho ông có được thời gian rảnh rỗi để mà nhớ lại.

“Cậu” yên tâm đi.

… O… ôi… ề… à…

Rồi ai cũng có một nơi chốn để trở về..

Lời an ủi của ông Thìn đen phần nào cũng có tác dụng. “Cậu” thôi mếu máo nhưng cái mặt còn dài thuỗn ra. Những người có vấn đề về sức  khỏe tâm thần tuy khó chiều nhưng biết cách lựa lời để chiều cũng không khó. Ông Thìn đen ngồi bệt, đũng quần mài đất ngay dưới chân “cậu”, nên ông phải quay cổ, ngửa hẳn mặt lên để nói với “cậu” những câu an ủi. Có lẽ nhìn khuôn mặt tròn tròn nhám nắng của ông Thìn đen trông giống như một cái chảo rang thính làm mồi nhử lũ cá ngoài sông Như. Cái chảo nhọ nhem khi ngửa lên trông có vẻ là lạ, ngồ ngộ hay sao mà “cậu” bỗng trề môi, toét miệng cười. Một nụ cười chỉ toàn rớt rãi nhỏ ra thành sợi.

“Cậu” còn sướng hơn ông cụ.

…Ôi ….ông..iết..âu

Ông Thìn đen nói thêm khi thấy “cậu” toét miệng cười. Quả thực nếu nói về thời tuổi trẻ thì cụ Lang Thân làng Dục đâu có sung sướng. Ai bảo ông cụ sinh năm Mậu Thân. Những người tuổi Thân sinh ra đã ngậm ngùi rồi, lại đứng canh Mậu, người mệnh ấy thì thường là những người không được hay đẹp vào tuổi nhỏ. Hồi trai trẻ, cụ Lang Thân làng Dục được mọi người trong làng gọi là anh cả Thân. Anh cả Thân, cũng là một cách gọi nhằm phân biệt ra ai với ai. Anh là con lớn trong gia đình có tới sáu người con, chia đều nửa trai nửa gái của ông bà Dậu. Nhà ông bà Dậu ở cuối làng và cũng nghèo như cả cái làng Dục xưa nghèo dớt. Làng Dục vốn là dải đất thẹo do người Pháp khi mở đường quốc lộ số 5 đã xẻ ngang cánh đồng rộng lớn của phủ Văn Lâm mà thành, làng lọt giữa sông Như và đường quốc lộ số 5 nên ít ruộng canh tác. Hơn nữa có tí ruộng lại chẳng ra ruộng. Mảnh nào cũng cằn, cũng ngắn ngủn. Thứ ruộng ấy biết trồng cây gì cho mọc. Bởi thế dân làng Dục, những người có chút sức vóc đều phải dắt rủ nhau chuyên lên Hà Nội làm thuê. Sức vóc nông dân không ruộng cày, làm thuê cũng chỉ việc chân tay. Việc chân tay tức là ai thuê vác gì thì vác, ai mướn bốc gì thì bốc. Việc thế đủ nuôi miệng đã khó nói gì có dư.

Vậy mà cụ Lang làng mình làm được đấy.

…Ái….ì..ơ?….

Ông Thìn đen đầy hãnh diện, ông chỉ tay vu vơ về phía đằng đông. Phía đằng đông là cuối làng. Cuối làng có ngôi nhà xưa của cụ Lang Thân làng Dục. Ngôi nhà mà giờ đây cây cối xanh um, thân những cây sấu lâu không được người chăm thành thử nó sinh mấu sù sì, rêu bám xanh trèo lên trượt ngã là cái chắc. Hồi anh cả Thân ăn nên làm ra thì đó là ngôi nhà lớn nhất làng. Một ngôi nhà gạch xây, ba gian hai trái, lợp ngói ta, mái nhà nặng dầy ngỡ như gặp trận mưa to là có thể sập. Vậy mà cho đến giờ ngôi nhà ấy vẫn không hề sập. Thế mới biết ngày xưa các cụ dựng nhà đã biết chọn gỗ tốt để làm. Từ hôm làm đám tang, đưa ma cụ Lang Thân về làng, ông Thìn đen ở lại làng luôn. Ông ở lại làng, tính bàn cùng họ hàng cụ Lang xây sửa lại ngôi nhà cũ ở quê lấy làm nơi thờ cúng. Chứ việc thờ cúng cho ông cụ ở ngôi nhà số 98 trên phố Hàng Cân không tiện lắm. Gia đình cụ Lang giờ đây phiêu tán khá nhiều. Thờ cúng tại chính quê hương xem ra vắng con cháu còn có làng xóm họ mạc thi thoảng rảnh việc đi ngang qua cắm giúp mấy nén hương ngày rằm hay mùng một, gọi là khỏi nhang lạnh khói tàn. Việc lo hậu vận không tính sớm sẽ khó lo.

Người mệnh tuổi như  ông cụ đến chết vẫn còn khổ tâm.

Ông Thìn đen bùi ngùi, ông cúi xuống định giấu những giọt nước mắt đang trào ra. Thật lạ, người đàn ông da nhám đen, tuổi ngoại thất tuần mà vẫn còn nhiều tâm sự. Ông Thìn đen kém cụ Lang Thân đúng tròn hai mươi tuổi. Cũng thật tình cờ hai người cùng đứng can Mậu. Ông Thìn đen tự hào về điểm trùng can đó. Ông từng tự cho mình là người hiểu rõ tâm tư và biết đón ý cụ Lang. Người đứng can Mậu được tiếng là thật thà, cương trực, quyết đoán, đã làm là làm bằng được nhưng lại cứng nhắc trong cuộc sống hàng ngày. Cứng nhắc đến nỗi thành bảo thủ. Bảo thủ hóa ra cuộc đời luôn khổ. Ông Thìn đen nhỏ những giọt nước mắt khóc thương mình thì ít mà khóc thương cụ lang Thân thì nhiều.

Đành rằng người mang tuổi như ông cụ về trung hậu tuy có chút tiền bạc nhưng chỉ là đôi chút.

Nắng vàng rát bỏng lưng hơn. Ông Thìn đen rùng rùng người như kiểu muốn rũ nắng trên lưng xuống mà mong tự an ủi chính mình. Hồi ông được gia đình gửi thân cho theo hầu cụ Lang Thân đúng vào ngày cuối thu, cũng vừa xong vụ thu hái hoa cúc, nắng bừng lên giòn lưng áo, rát bỏng vai như hôm nay. Hôm đó chú bé Thìn đen đầu không mũ nón, lút cút quàng tay nải nâu đi như chạy mới theo kịp mọi người ra tới đường quốc lộ để vẫy xe khách lên Hà thành.

..ôi….át..ước…á…

“Cậu” ngọ nguậy cái đầu như quả sấu rụng đã thâm héo dưới vành nón. Trông “cậu” lúc này ngồi trên mô đất, đầu đội nón thâm khác gì một cái nấm rạ sin sỉn. Nhưng “cậu” còn nhận biết về nhu cầu và muốn đạt được yêu cầu của mình nghĩa là “cậu” có thể hiểu được câu chuyện. Ông Thìn đen vui ra mặt, mắt ông chợt khô thoáng như ông chưa hề nhỏ những giọt nước mắt khóc cho mình, khóc cho cụ Lang. Ngần bấy năm ở bên cụ Lang nên ông Thìn đen đã học được ở cụ Lang cách thoát ra khỏi những phiền muội.

Thoát ra khỏi áo quần nhưng nào thoát được day dứt  trong tâm.

Ngoài ruộng hoa, những người đàn bà trong làng luôn chu đáo khi đi làm ngoài đồng, họ luôn có sẵn những chiếc ấm nhôm chỗ rúm chỗ méo, bám đen khói bếp đựng đầy nước quả sấu xanh ngâm kỹ với muối hạt. Thứ nước chua chua mằn mặn nhưng cũng dễ nuốt trôi nhờ được chế thêm nước mưa hứng thân cau đun sôi để nguội. Cùng một cái bát sắt tráng men cáu bám kin kỉn úp thay vung ấm, uống nước sấu ngâm bằng bát sắt đó mới thấy thú. Uống xong thứ nước chua chua mằn mặn ấy nét mặt của “cậu” tươi tỉnh hẳn. Ông Thìn đen lại trách mình vô tâm để “cậu” khát quá hóa nhầu nhĩ.

“Cậu” đã đi được chưa?

Vừa hỏi ông Thìn đen vừa đứng dậy. Ông xốc bên nách “cậu” cố nhấc người “cậu” đứng dậy.

Mộ của ông cụ nhà mình mãi cuối cánh đồng kia.

Hôm đưa ma cụ lang Thân về đồng làng là một hôm mưa nắng thay nhau. Lúc xe tang dừng lại bên đường quốc lộ bầu trời chang chang nắng. Hạ cụ xuống huyệt xong trời bỗng đổ mưa tầm tã. Người trong làng có mặt hết cả. Trong những tiếng khóc tiếc thương ông cụ còn có biết bao những câu ca tụng. Với người dân làng Thanh Vàng này cụ Lang Thân thực sự là bậc cứu tinh bậc nhất.

Cụ nhà mình mang mệnh Đại trạch  thổ. Đất ở ruộng lớn mà..

Không quan tâm “cậu” có nghe giải thích hay không, ông Thìn đen đặt bàn tay ngang lưng “cậu” đẩy “cậu” tiếp tục đi. Ông từ từ buông từng câu giải thích.

 Ái chà. Mệnh ấy bén duyên với đất.

…ôi…ông..iết…âu…

Vẫn chỉ một câu từ đầu tới giờ của “cậu”. Không đáng trách bởi đơn giản “cậu” sẽ chẳng hiểu được ngọn ngành nên không đáng trách. Với “cậu” việc giúp “cậu” hiểu đầy đủ không thể sớm hay không thể chiều được. Hai người chật chưỡng đi men theo bờ ruộng. Họ đang đi tới phía thửa ruộng thứ tư. Thửa này cũng rộng như thửa ruộng thứ ba, cái thửa ruộng có mô đất mà hai người vừa ngồi nghỉ ban nãy. Ngoái nhìn lại chỗ vừa rời đi ông Thìn đen nghĩ còn nhiều thời giờ cho hai người.

Cụ Lang Thân làng Dục đúng là người bén duyên với đất thật. Người mang mệnh thổ có tâm tạng của thứ người mãi quyến luyến, dù ý định làm gì hay đi đâu cũng chẳng khi nào rời xa được đất. Anh cả Thân giống như thứ đất ném đâu cũng sinh mầm, sinh cỏ. Những ngày anh cả Thân theo người trong làng lên Hà thành làm bốc vác và gánh nước thuê cho một lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông, anh ngộ thấy các thang thuốc gọi là thuốc bắc ấy chẳng qua cũng chỉ là những thứ cỏ cây hoa lá. Cỏ cây hoa lá thì chỗ nào chẳng có, có đất là có cỏ cây hoa lá mọc, miễn là biết cỏ cây hoa lá nào hợp với vị làm thuốc. Nghĩ vậy nhưng cũng phải đợi lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu có dáng đi khềnh khàng, tiếng cười phơ phớ cùng những cái chém tay vào gió ràn rạt mỗi khi lão nói câu gì dù ngắn nhất gợi ý cho, anh cả Thân mới quyết định về lại làng.

Anh cả Thân tuy dáng vóc thấp đậm nhưng lại giảo hoạt. Người giảo hoạt thường hay sáng dạ, nói một hiểu ba, làm lần đầu còn bỡ ngỡ làm lần hai đã thành thạo. Những ngày làm thuê cho lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông, anh cả Thân có đôi mắt sáng, rất chịu khó làm, lại thật thà ngay thẳng. Người đứng can Mậu là như thế. Chính cái thật thà có gì nói ngay, nói thẳng của anh cả Thân mà lão chủ người Tàu, một lão già béo tròn, quanh năm mặc áo kiểu quan gia nhà Thanh buông ngoài chiếc quần ống rộng hay được lão xếch hai bên cạp quần lên. Lão muốn khoe đôi giầy bằng vải nhung đen mà lão xỏ chân vào đó suốt ngày. Lão ăn mặc áo quần giầy dép kiểu đó trông cũng bệ vệ. Mùa hè áo mặc nhưng lão quên thắt nút, hở cái bụng tròn, múp căng, ướt nhoét mồ hôi. Mùa đông lão vận liền ba bốn cái chồng lớp lên nhau làm lộ cái áo trong dài hơn áo ngoài. Một lão già mắt lươn, giọng nói ầm oang, cách phát âm chả ra ta chả ra Tàu, nghe cứ như người nói giả vờ, nghe cứ như chọc vào lỗ tai người khác. Chân tay lão động tí là khua loạn, vậy mà gặp phải anh cả Thân lão cũng phải dè chừng. Lão chủ người Tàu cười khùng  khục, chìa hàm trên khoe mấy cái răng giả vàng rực trong mồm ra mà khen anh “phải lớ”. Lão hì hì cười chữa thẹn cái mánh lới vừa nói liên tằng, vừa nhanh tay xáo xào trộn lẫn thuốc nọ với vị kia để lòe người bệnh đến bốc thuốc của mình. Lão bị anh cả Thân thật thà buông câu đốp chát nói bóc mẽ. Lão nể lắm và cũng bởi lão đâu có làm ra cỏ cây hoa lá được. Lão nể mà bàn với anh cả Thân trở lại quê ở làng Dục, trồng cây hoa cúc chi làm dược liệu cung cấp cho lão. Lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu tính cũng lanh khôn. Thuốc vị Nam dành dành mà lão bán thành thuốc vị Bắc, lợi gấp mười lần tội gì mà không bầy cách.

Dựa cái gian của người ta để mình khôn lên  cũng tốt.

Ông Thìn đen cười ngặt, tay ôm lấy bụng. “Cậu” chẳng hiểu gì cũng há hốc mồm cười hềnh hệch. Có lẽ “cậu” đã bắt đầu hiểu đôi chút. Ông Thìn đen mừng lắm. Cứ ngỡ “cậu” không hiểu gì thì cũng phí công ông giảng giải từ sáng tới giờ.

Nói gì chứ nói trồng cây hoa cúc thì chẳng khó. Cánh đồng làng Dục nói gieo lúa trồng khoai thì vất nhưng lại hợp với thứ cây hoa cúc, thứ cây hoa bụi thấp lùm lùm, nhìn đằng xa lại cứ ngỡ người ta bầy thành dẫy những chiếc bu úp gà trên mặt ruộng. Thứ cây khi đã trổ hoa thì nở ken với lá. Một thứ cây hoa dễ mọc lại mọc đầy như cỏ dại. Vậy mà người làng Dục không một ai nghĩ ra. Lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu xem ra cũng có chút công lao. Ban đầu anh cả Thân về làng trồng tạm dăm luống ruộng nhà gọi là làm thử từ nắm hạt hoa cúc lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu vốc cho. Ai dè cây hoa cúc, thứ cây hoa chẳng mấy mất công chăm sóc lại tốt vù vù. Đến đầu thu nở vàng hoa cả mắt.

Có duyên bén với đất nhưng cũng phải là người có tình cây  mới đậu.

Ông Thìn đen lẳng lặng giải thích thêm, ý của ông nhằm thêm một lần muốn khẳng định chẳng có ai cũng có thể muốn là được. Thứ hoa cúc mà anh cả Thân trồng tạm theo gợi ý của lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu là thứ hoa cúc chi. Hoa cúc chi chỉ nhỉnh hơn đồng xu một chút, hương hoảng hoắc, cánh nhỏ lại lâu tàn, nhụy hoa tròn bằng cái cúc áo, phấn hoa làm ươm vàng chân những con ong sà vào hút nhụy. Hoa cúc đem phơi dưới nắng thu không nhầu héo mà chỉ se mềm để được dài ngày nhìn như mới ngắt. Thứ hoa cúc ấy trong đông y liệt vào vị thuốc quý bởi nó có tính hàn, vị ngọt mà không ngấy, đắng mà không khô. Vị thuốc hoa cúc thường dùng để chữa trị bệnh gan dương thịnh hay gan hỏa thượng viêm. Những ai có chứng cao huyết áp, những ai mắc chứng tâm can bồi hồi uống vị thuốc hoa cúc này trấn tĩnh lại ngay. Những ai cảm mạo hay nóng trong người chỉ cần nhúm hoa cúc đem sắc với nước uống là bình gan giải gió thanh nhiệt cơ thể.

Ngày thu hái vụ hoa cúc đầu tiên, anh cả Thân đem mẻ hoa mới ngắt về nhà. Sau khi phơi nắng se se một ngày, đến buổi tối anh cả Thân hãm một nồi to với nước sôi, như cách người ta hãm trà, rồi mời cả làng cùng uống thử. Cái thứ nước là lạ uống vào đắng nhăn nhăn nhưng chốc sau nuốt nước bọt lại thấy ngọt sâu trong họng, lại thơm hăng hắc khác hẳn thứ nước trắng nấu suông nhàn nhạt mà người làng Dục vẫn uống, thành thử đã uống rồi ai cũng thích. Thích đâm nghiện, nghiện hơn vì nó tỏ ra có công hiệu. Đến hè năm sau chẳng có đứa trẻ con nào trong làng bị rôm sẩy hay mần ngứa. Chẳng có người già nào thấy ho hắng hay khó thở. Như có phép tiên nên không ai bảo ai cả làng đều gọi anh cả Thân là “thày lang”. Tiếng cũng như danh thày Lang Thân làng Dục từ đấy mà ra.

Không phải ai cũng được thế đâu nhé.

Lần này thì ông Thìn đen tự hào thực sự. Cả làng Dục theo anh cả Thân, đua nhau trồng cây hoa cúc chi. Ban đầu lại do mình anh cả Thân đứng ra làm mối thu gom đem lên Hà Nội bán cho lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu. Lão người Tàu cười “hảo à”, vỗ vỗ vào vai anh cả Thân ra vẻ khen làm tốt. Lão mua hết chỗ hoa cúc anh cả Thân đem lên Hà Nội, lão còn mách cho anh cả Thân cách xông sấy hoa để bảo quản được nhiều và dài ngày hơn.

Việc khởi sự từ  năm Mậu Thìn “cậu” ạ.

Ông Thìn đen mặt mày rạng rỡ như chính ông là cụ Lang Thân làng Dục vậy. Mà ông Thìn đen hào hứng cũng được bởi vì chính năm ấy ông được cha mẹ ông sinh ra trên đời này. Ông sinh ra cùng với hoa cúc làng Dục. Ông như là thứ hoa đổi đời ấy. Ông Thìn đen nghé mắt liếc sang bên “cậu” chừng thăm dò ý tứ của “cậu” như thế nào trước sự hào mãn của mình. “Cậu” mặt vẫn nghênh nghênh như mặt con trâu đực sau khi hít hít mũi của nó vào cái đít của con trâu cái. “Cậu” chẳng bộc lộ một phản ứng hay tỏ thái độ gì cho dù nhỏ nhất. “Cậu” không nhận thấy nét mặt hồ hởi của ông Thìn đen lúc này. Hai người đã đi hết bờ thửa ruộng thứ tư.

Anh cả Thân đúng là vị cứu tinh cho cả làng Dục. Trên cái dải đất thẹo thừa bỗng trở thành một cánh đồng chuyên trồng hoa cúc. Hoa cúc làng Dục nổi tiếng cũng bởi vì các làng xung quanh muốn trồng theo cũng không trồng được. Đất vùng Kinh Bắc xưa mạn phía nam vốn trũng, chua và phèn nặng. Chỉ duy nhất cánh đồng làng Dục hẹp ngang, chạy dài ven đường quốc lộ lại cao hơn đôi chút. Ngày chưa trồng hoa cúc cái dải đất hơi cao cao ấy chẳng hợp với thứ cây nào. Trồng lúa thì khô, trồng màu thì cạn. Người làng Dục đổi đời từ cây hoa cúc.

Đến cây hoa cũng biết chọn người chọn đất.

Đứng bên ranh giới giữa thửa ruộng thứ tư và thửa ruộng thứ năm ông Thìn đen càng thấm thía việc mình được theo hầu cụ lang. Ông cũng đứng can Mậu nhưng mệnh của ông lại là mệnh mộc. Mộc tức là cây. Mà đã là cây phải mọc trên đất. Cụ Lang Thân làng Dục mang mệnh thổ. Thổ tức là đất. Vì thế chuyện chú bé Thìn đen mới mười hai tuổi đã theo cụ Lang như là lẽ tất nhiên. Cây phải dựa vào đất mới sống được. Nghĩ tới đây ông Thìn đen không dám buông lời trách cứ nào cụ Lang bởi cụ Lang là đất thì cũng dĩ nhiên đất phải cưu mang cây. Với ông Thìn đen thì hình như tất cả mọi người ở làng Dục này ai ai cũng mang mệnh mộc hết. Vì thế ai ai cũng chịu ơn cụ Lang.

Cụ được ơn của nhiều người nhưng suốt cuộc đời cụ không bao giờ được yên tâm mà sống trong an nhàn.

Nắng trưa hoa cả mắt. Ông Thìn đen vừa thấm thía vừa nghó nghiêng tìm chỗ cho “cậu” trú nắng. Có lẽ “cậu” đang mệt lắm. Hơi thở của “cậu” khò khè như người mắc chứng ngạt mũi. Bước đi của “cậu” đã cà nhắc lại thêm cà nhắc. Cánh tay phải nâng khư khư của “cậu” lại khép chặt hơn vào mạn sườn. “Cậu” đang căng cứng hết cơ thể. Hồi cụ Lang còn sống, cụ hay lắc đầu chua chát mỗi khi vọng từ trong căn phòng nơi “cậu” bị khóa, trong đó tiếng “cậu” gừ gừ. Ở trong căn phòng có mỗi một mình nên “cậu” hay gừ gừ như tiếng con chó bị rọ mỗm. Con chó bị rọ mõm cứ gừ gừ mà không thành tiếng sủa, không thành tiếng rít. Nghe cứ như ai đó bị ai đó bịt tay che miệng không cho nói năng. Những lúc đó cụ Lang Thân lại bần thần.

“Cậu” gánh vận cho cả cái nhà này.

…ông…ói…ì…ơ?…

“Cậu” dù đang gắng thở nặng nhọc nhưng cũng cất câu hỏi lại. Thì ra suốt nãy đến giờ “cậu” không bỏ sót một chi tiết nào trong câu chuyện của ông Thìn đen. Nghĩa là mỗi lời nói của ông Thìn đen đều không hoang phí. Cảm thấy được an ủi nên ông Thìn đen nhẹ hẳn người.

Làng Dục bỗng trở nên có thanh danh, tiếng vang khắp vùng, người làng Dục được người các làng cạnh bên vị nể. Đời sống dân làng Dục rôm rả và khấm khá hẳn lên. Những mùa hoa nối tiếp những vụ thu hái hoa. Hoa cúc thu hái về nhiều trải phơi vàng cả đường làng. Thanh danh vang như thế. Màu sắc hoa tươi vàng như thế. Phải gọi làng ta là làng Thanh Vàng mới phải. Chính anh cả Thân là người nêu ra ý kiến đó lúc anh đứng bên bờ ruộng nhà mình.

Làng ta làm lễ khao tên mới to lắm.

Ông Thìn đen vẻ mặt như chuyện vừa mới xẩy ra mới hôm qua. Ông nói bằng hơi thở phả ra nóng hôi hổi một bên lưng của “cậu”. Ông Thìn đen chỉ cao tới bờ vai “cậu”. Ông phải ngước mắt lên để nói cho “cậu” nghe được rõ hơn. Làng làm lễ khao tên mới của làng sau vụ thu hái hoa lần thứ ba, tức là đúng mùa xuân năm sau, bữa ngày giêng nhàn nhã. Sẵn những đống củi to dùng để đốt lò xông sấy hoa, người làng Thanh vàng bầy cỗ thiết các làng xung quanh.

Phú quý thì sính lễ nghĩa mà “cậu”.

Đó là cách để các làng bên cạnh không gọi cái tên Dục nghe tưng tức trong lỗ tai, chuyển sang gọi tên làng là Thanh Vàng vừa sang vừa đúng nghĩa. Tên làng Thanh Vàng được viết nắn nót trên một giấy điệp khổ rộng sải tay, nét chữ bay như rồng cuốn, lượn như phượng múa. Tờ giấy điệp trải ngay ngắn trên mặt bàn gỗ gụ mà anh cả Thân mướn buổi ông xã trưởng người làng bên cạnh. Người viết thì phải thuê, làng Dục có ai học cao giỏi chữ nghĩa đâu nên thuê cho chắc. Một thày đồ trên Hà Nội cùng về làng với lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông. Lão chủ hiệu người Tàu là khách mời danh dự của làng nên lão đi đứng hơi khuỳnh khoàng, miệng luôn cười nhe mấy cái răng vàng chóe. Lão thành tâm điểm để bọn trẻ con dề dà rồng rắn bám theo. Chú bé Thìn đen khi đó đâu mới ba tuổi nhưng nhớ như in lúc tờ giấy viết tên mới của làng được các bậc cao niên trong làng nâng chuyền tay nhau trang trọng rước ra miếu thần linh.

Tờ giấy viết tên làng giờ vẫn còn trong đình.

Ông Thìn đen lại chỉ tay vào trong làng, nói chắc như đinh đóng cột. Thực ra làng Dục xưa vừa nhỏ lại nghèo làm gì có đình. Cái đình làng mà ông Thìn đen nói vẫn còn lưu giữ tờ giấy điệp viết tên mới của làng chỉ có sau đấy những mười hai năm. Vẫn lại anh cả Thân, thày lang Thân, đứng ra khởi sự việc cất ngôi đình. Tên những người có công và cung tiến xây đình hiện còn khắc trên bia đá dựng trong hậu đình, tên cụ Lang Thân làng Dục là cái tên khắc ngay dòng đầu tiên.

Họ đã tới chỗ cây đa cổ mọc giữa đồng. Đã có vài người nhấp nhổm đứng ngồi trú tạm nắng ở đó, họ cùng ngước mắt nhìn ông Thìn đen đang dìu như đẩy “cậu” Tuất vào sát gốc cây. Gốc đa này là chỗ duy nhất trên cánh đồng luôn có bóng mát. Những ngày hè hôm trời có mưa to, sét đánh nhoằng nhoằng xuống cây đa làm vỡ toác cành lá. Từ chỗ đầu cành cây bị sét đánh vỡ toác lại mọc ra tua tủa những chiếc rễ đa dài trắng đua nhau lao xuống đất. Những cái rễ châm thẳng xuống đất lớn dần rồi tự thành những thân cây mới. Đâm ra sét đánh vỡ toác cành cây càng nhiều cây đa lại càng thêm nhiều thân cây mới. Đứng ngoài quốc lộ 5 nhìn về phía gốc đa thấy gốc đa như một ngôi nhà ta có nhiều cột. Nhiều cột thế gió máy, sấm sét nào hạ nổi.

Gốc đa lúc ông Thìn đen và “cậu” bước vào trú nắng có nền đất quanh gốc nhẵn lì, bởi nó bị nhiều vết chân sài giẫm. Chỗ đó người đi thu hái hoa cúc treo nhũng nhẵng những mo cơm nắm, thứ lương thảo cho suất ăn trưa. Một gốc đa co nhiều thân cây to nhỏ đủ cỡ vô tình tạo nên nhiều cái hốc kín đáo. Ông Thìn đen dìu “cậu” vào bên trong một cái hốc rộng. Hốc ấy rộng bằng cái chiếu đơn đủ chỗ cho “cậu” nằm nghỉ. Những người dân trong làng về tầm trưa ít có ai nằm lại dưới gốc đa để ngủ. Lâu lắm rồi còn đồn đại câu chuyện những hồn ma đợi nắng trưa chang trắng mắt là bứt khỏi tán lá nhao xuống trú mình trong các hốc cây. Có người đàn ông độc thân liều nhất làng dám một lần ngủ trưa trong hốc cây đa. Ông ta sau đó tỉnh dậy thì hóa dại, lồng lên chạy trần truồng khắp cánh đồng la hét ầm ĩ. La hét chán, chạy tồng ngồng chán lại rúc vào hốc cây nói lảm nhảm đến đêm thì bỏ đi đâu không rõ. Ông Thìn đen nhớ rõ câu chuyện đó nhưng lúc này không vào chỗ hốc cây đẻ tránh nắng thì biết vào đâu.

Ma thường tránh những người dơ dở.

“Cậu” bỗng dưng lui người lại khi vừa chạm cửa hốc. Cánh tay phải nâng khư khư đã ép lại ép sát hơn vào bên sườn. “Cậu” trợn mắt nhìn như chính mắt “cậu” vừa nhìn thấy gì đó mà mắt của ông Thìn đen cố căng ra cũng không thấy. Hơn chờn chợn nhưng ông Thìn đen vẫn cố đẩy”cậu” vào trong, nắng nôi thế này không trú đấy thì trú chỗ nào?

…ôi….uốn a….oài…..

Thì ra suốt sáng đến giờ “cậu” được tự do bên ngoài nên giờ bị bắt phải chui vào hốc cây mà “cậu” ngỡ như là bị đưa vào căn phòng luôn khóa cửa ngoài. Thật tội nghiệp. Những người khao khát ra ngoài luôn sợ hãi phải quay lại chốn cũ. Có lẽ những thân cây như những cái cột nhà mà “cậu” tưởng đây là một ngôi nhà nào đấy?

Đây không phải nhà. Đây là hốc cây trú nắng.

Nói quả quyết nhưng giọng đầy an ủi, ông Thìn đen vừa dìu vừa đỡ người “cậu” cho “cậu” ngồi xuống. “Cậu” ngơ ngơ mắt lần nữa rồi cũng chịu nghe mà bước hẳn vào hốc cây. Rất tự nhiên như của chính mình, ông Thìn đen với tay ngoắc mo cơm của ai đó treo chạm đầu mình. Thứ cơm gạo dẻo nấu vừa chín tới, dỡ trong nồi ra nhào nhuyện qua chiếc khăn rửa mặt nhúng nước vắt âm ẩm thành từng nắm tròn tròn bằng quả bưởi. Ông xắt mo cơm thành mấy miếng mỏng đưa cho “cậu”. Được ăn đẫy bụng lại có chỗ nằm tạm “cậu” ngủ tít luôn. Nhìn “cậu” ngủ chẳng chút phân vân ông Thìn cũng yên dạ. Hóa ra những người kém trí tuệ lại hay. Người kém trí tuệ không biết phân biệt đâu là thật đâu là giả nên chẳng sợ hãi hay băn khoăn.

Gió nam thổi hắt từ sông Như lên, gió thổi qua mái làng đem tới cánh đồng chỗ gốc đa cái mát dìu dịu cùng mùi khói củi cay cay, mùi khói diêm sinh khét hăng. Người trong làng đang bắt đầu công đoạn xông sấy hoa cúc. Những bông hoa cúc sau khi phơi nắng thu tai tái thì được đem vào làng. Người ta rải lớp hoa cúc se se trong những chiếc nong to nặng chịch. Những chiếc nong đựng đầy hoa cúc được xếp lên trên lò sấy. Làm lò xông sấy hoa cúc không khó, chỉ cần quây kín quanh lò bằng mấy tấm cót, rồi bỏ vào trong lửa chừng vài nhúm diêm sinh. Diêm sinh cháy, khói diêm sinh ngấm vào từng cánh hoa. Đấy là cách xông sấy của những vụ hoa cúc đầu. Sau này khi anh cả Thân vững vàng trên thương trường nghĩa là khi anh cả Thân trở thành ông chủ thì công việc xông sấy cũng khác đi mà thêm mới.

Làng Thanh Vàng không đơn thuần chỉ xông sấy hoa cúc mà họ bắt đầu xông sấy nhiều thứ dược liệu khác nữa. Theo đường quốc lộ 5 và theo sông Như cánh thu mua dược liệu kìn kìn chuyên chở dược liệu chẳng biết họ gom từ đâu đó trên mạn ngược về làng. Làng Thanh Vàng kiêm luôn nghề xông sấy thuốc. Dược liệu qua xông sấy rồi mới cho người vận chuyển lên Hà thành. Ban đầu cung cấp cho lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông, sau cung cấp cho cả những cửa hiệu thuốc đông y khác quanh mấy phố Lãn Ông, Thuốc Bắc, Hàng Cân, Hàng Bồ và Chả Cá. Việc trở nên quanh năm, người làng Thanh Vàng những năm sau đó thôi hẳn chuyện lên Hà thành làm thuê. Họ thành người của một cái làng chuyên cung cấp dược liệu. Anh cả Thân đâm ra bận bịu, anh đứng đầu mối rồi thành chủ mối dược liệu ở làng.

Do vậy lò xông sấy cũng phải làm khác đi. Những chiếc lò xông sấy bề thế bằng đất đắp ra đời. Lò xây đắp ở giữa sân nhà, như thế tiện cho việc chuyển từng nong hoa cúc hay dược liệu. Củi cháy trong lò rừng rực làm nóng lớp đất dầy phủ trên nắp lò. Mỗi một lần xông sấy người ta rắc độ một bát con đựng diêm sinh lên cái nắp bằng đất ấy. Diêm sinh không cháy đỏ mà nó cháy âm ỉ, len lỏi tỏa những làn khói trắng nhờ nhờ. Khói diêm sinh thẩm thấu qua các nong hoa cúc, nong dược liệu rồi thấm vào từng cánh hoa, từng miếng dược liệu đã thái lát mỏng. Hoa cúc hay dược liệu được xông sấy khói diêm sinh chẳng nấm mốc nào dám động tới.

Cụ Lang nhà mình sáng dạ nên hay thua thiệt.

Ông Thìn đen tự dưng liên tưởng mà bật nên câu nói đồng cảm với cụ Lang Thân. Cụ Lang Thân làm ăn chăn chỉ thì hơn bất cứ người nào nhưng thua thiệt thì cũng chẳng ai bằng. Một chút gằn lòng níu ông nằm xuống bên cạnh “cậu” Tuất, ông cũng thiu thiu ngủ. Ông mơ mơ nhớ chuyện.

Làng gọi anh cả Thân là thày Lang Thân thực ra cũng là một cách để phân biệt với những người đàn ông khác trong làng cùng sinh năm Thân và đều mang tên là Thân. Thày Lang Thân đâu có biết bắt mạnh hay hỏi thăm con bệnh mà kê đơn cho thuốc. Món học được ở lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông ở trên Hà thành là món trồng cây hoa cúc chi và kế nữa là món xông sấy dược liệu mà thôi. Nhưng với chừng ấy người dân làng Thanh Vàng cũng đủ dư dả hơn rất nhiều hồi cả làng chẳng biết trồng cây gì và làm nghề gì.

Con người ta đều do số phận sắp đặt cả.

Thoáng bùi ngùi ông Thìn đen nhớ lại trong giấc mơ. Giấc mơ của ông đưa ông trở về cái đám cưới của anh cả Thân với cô Giáp cùng làng. Cô Giáp kém anh cả Thân đúng sáu tuổi. Cô sinh năm Giáp Dần nên làng gọi tên cô là cái Giáp Mây. Tên ấy có từ mái tóc của cái Giáp vừa sinh ra đã đen dầy và mượt như dải mây. Vì cái Giáp Mây được cưới về làm vợ thày lang Thân nên từ hôm đó người trong làng chỉ gọi tên là cô Mây. Việc này có đôi chút vị nể mà làng phá lệ, là vợ ai thì không biết chứ đã là vợ của thày lang Thân mà còn gọi theo tục của làng nghe không phải.

Cô Mây vừa tròn mười bảy tuổi, mặt trái xoan, tóc đen dài chấm kheo, da trắng hồng, người cao ráo. Cô đi bên cạnh thày lang Thân người thâm thấp, thoạt mới đầu nhìn chưa quen. Chưa quen nhưng ai cũng khen đôi này phải lứa lúc rước dâu, anh cả Thân dẫn cô Mây đi bộ từ nhà cô Mây ở đầu làng về nhà anh cả Thân ở cuối làng. Họ đi dọc con đường đất mịn dưới làn mưa xuân lây phây. Mưa rắc lên tóc cô Mây muôn hạt li ti kiểu như bọn trẻ con chơi trò rắc hạt cườm làm duyên vậy. Họ cưới nhau trong bao tiếng thầm thì. Ví dụ như có người bóng gió nói về cái tuổi cầm tinh con hổ của cô Mây. Tuổi ấy gì gì lắm. Chú bé Thìn đen khi đó chưa hiểu nổi gì gì lắm nó như thế nào. Ví dụ có người nói anh cả Thân vớ được vàng mười. Kể thì cũng phải. Cô Mây đẹp thế kia mà. Ví dụ có người khen cô Mây tốt duyên lọt vào nhà phúc lớn. Cũng chẳng sai. Đũa ngọc dĩ nhiên phải sánh với mâm son.

Giời cũng đôi khi bắt vạ người.  

Mới có qua ba vụ trồng hoa cúc mà làng Dục cũng như anh cả Thân đều khác trước. Làng có tên mới nghe rạng rỡ hẳn. Anh cả Thân cưới vợ mới thấy chững chạc nên. Nằm trong cái hốc giữa gốc đa ngoài cánh đồng ông Thìn đen quàng tay giữ chặt người cho “cậu” ngủ khỏi bị giật mình. Trên đôi môi thâm đen của ông Thìn đen mủm mỉm mấy nụ cười, mủm mỉm mấy câu nói than, mủm mỉm mấy chuyện đã qua.

NGUYỄN TRỌNG VĂN

(Còn tiếp)

>> Gia tộc Thanh Vàng – Tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Văn – Kỳ 1

>> Gia tộc Thanh Vàng – Tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Văn – Kỳ 2

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *