Miền nước chảy ngược – Tự truyện Nguyễn Ngọc Anh – Kỳ 2

>> “Miền nước chảy ngược” – xuôi thăm thẳm vào lòng người

>> Miền nước chảy ngược – Tự truyện Nguyễn Ngọc Anh – Kỳ 1

 

Chương 2

TIẾNG KHÓC CHÀO ĐỜI

 

VHSG- Nó khóc chào đời trong một căn hầm nhỏ, phía nhà ngoại. Bên ngoài, chiến trận diễn ra ngày càng khốc liệt. Từ đầu năm 1965, quân Mỹ đã đổ bộ vào bờ biển Đà Nẵng và chính thức tham chiến tại Việt Nam. Lực lượng quân Giải Phóng cũng được tăng cường từ miền Bắc vào nhiều hơn trước. Và, như một định mệnh, làng nó lại là nơi xảy ra trận đánh lớn đầu tiên giữa quân Mỹ và quân Giải Phóng.

Năm 1965, tiếng súng nổ, pháo gầm ở quê nó là chuyện thường như cơm bữa. Cậu Út nó kể, hồi đó tiếng súng nổ nhiều đến nỗi bọn trẻ con như cậu nghe riết quen tai, nên có thể phân biệt được đâu là tiếng súng của du kích, đâu là tiếng súng của quân Mỹ, phân biệt được cả khoảng cách từ chỗ mình nấp đến nơi phát ra tiếng nổ. Khi nghe tiếng bay của đạn pháo trên không là biết được ngay nó sẽ rơi gần hay xa. Tiếng hú của đầu đạn pháo cho biết nó còn đi khá xa, tiếng xè xè là chúng sắp rơi, còn khi nghe như tiếng cánh quạt xé gió thì chúng sắp rơi sát bên mình… Người ta còn truyền kinh nghiệm cho nhau rằng, khi pháo nổ vừa xong thì chạy xuống chỗ hố pháo đó mà nằm thì sẽ được an toàn, vì trong một đợt pháo kích, hai trái pháo không thể nào rơi cùng một chỗ!

Ngoài những trận pháo 105 ly từ trên quận bắn xuống làng vào ban đêm, thỉnh thoảng cũng có những trận pháo từ hạm đội Mỹ dưới biển bắn vào đất liền. Pháo ở biển bắn lên, tiếng rít của nó khi đang bay trên không và tiếng nổ của nó khủng khiếp hơn nhiều so với pháo ở trên quận bắn xuống. Người ta nói đó là pháo 155 ly. Khi có chiếc máy bay do thám mô-ranh lượn mấy vòng ở khu vực nào đó trong xã thì chắc chắn sau đó thế nào cũng có một trận pháo từ dưới biển bắn lên hoặc có ba bốn chiếc máy bay bay đến ném bom. Tiếng bom do B52 thả thật là khủng khiếp. Cậu Út nói, một lần đi thăm câu ở Bàu Tăm (xã Bình Thạnh) lúc trời tờ mờ sáng, vừa kéo cần câu lên, bỗng nghe tiếng rít kinh hồn, tiếng rít làm cậu muốn bủn rủn tay chân, suýt té xuống bờ ruộng. Sau đó là hai tiếng nổ rung chuyển cả không gian như muốn nhấc tất cả những gì dưới mặt đất lên rồi thả xuống. Sau mấy giây định thần, thấy có hai vệt trắng dài trên không trung, đó là hai trái bom do chiếc B52 vừa thả xuống bên kia vùng núi Thình Thình, thuộc xã Bình Nam nay là Bình Tân, cách đó hơn 4 cây số theo đường chim bay.

*****

Xã Bình Kỳ năm 1965, một ngày cuối hạ, là một ngày kinh hoàng. Cả xóm nó phải bỏ nhà cửa, bỏ ruộng vườn chạy giặc. Nó đang ở trong bụng mẹ. Mẹ nó đang núp dưới một căn hầm nhỏ sau nhà. Bên hông là hàng rào ấp chiến lược đã bị phá dang dở từ cuối năm 1964. Hàng rào bao bọc từ phía sau rìa núi kéo dài đến cổng ấp ở đường cái lớn, rồi chạy tiếp qua ấp bên kia. Các nhà trong xóm cách nhau bởi một cái vườn rộng nhiều cây trái và nhà nào cũng có hầm tránh đạn. Bên trong xóm, muốn thoát ra ngoài đi về quận lỵ phía trên phải ngang nhà nó và băng qua hàng rào ấp chiến lược.

Bác sĩ Nguyễn Ngọc Anh

Mẹ nó kể, hôm đó tiếng máy bay quần thảo, tiếng đạn nổ liên hồi, tiếng pháo gầm rú từ sáng sớm. Ngồi một mình dưới căn hầm trú ẩn mẹ vừa lo sợ vừa đói khát. Không biết thời gian trôi qua bao lâu, khi tiếng súng im ắng bớt, bà ngước nhìn lên và thấy rất nhiều lính Giải Phóng mặc quân phục xanh, đầu đội mũ tai bèo, ngụy trang, đi qua đi lại. Họ có vẻ hối hả khiêng người chết, người bị thương gì đó tập kết trước sân nhà. Mẹ nằm im không dám gây ra tiếng động vì sợ bị phát hiện,  cho tới lúc trời sẩm tối, tiếng súng thưa dần. Bỗng, một tiếng nổ “ầm” rung chuyển xung quanh. Bụi chuối rậm rạp gần đó bị bứng ngã, cùng với đất đá bay tứ tung phủ kín miệng hầm. Hoảng sợ, mẹ nó hét to: “Cứu, cứu! Đồng bào, đồng bào … cứu, cứu!” Môt người lính du kích nghe thấy chạy lại nhìn, sau đó gọi thêm vài người khác nữa. Họ hất cây chuối ra, bới đất và lôi mẹ nó lên, toàn thân lấm bụi đất nhưng không bị thương tích gì. Lúc này trời đã tối hẳn. Xóm vắng tanh, lặng yên nghẹt thở.

Lên khỏi hầm, mẹ nó chạy đến mấy nhà chung quanh. Nhà nào cũng trống trơn. Tất cả vắng lặng như tờ. Cả xóm đã bỏ chạy hết từ bao giờ không biết. Hết nhà này đến nhà khác, mẹ nó tìm ra đến đầu ngoài xóm thì thấy nhà bà Phê còn 3 người ở lại, toàn đàn bà con gái. Đêm đó mẹ nó ngủ lại nhà bà Phê. Sáng hôm sau, cả 4 người tìm cách chạy lên trại định cư An Châu gần quận lỵ thuộc vùng Quốc gia kiểm soát. Đi được vài trăm mét, đến cầu Câu, bỗng mấy người lính du kích không biết từ đâu xuất hiện. Họ bảo mọi người phải ở lại quê, phải tiếp tục cuộc sống bình thường như trước, không được bỏ đi. Mẹ nó năn nỉ rằng mình bụng mang dạ chửa, sắp sinh, ở đây không có bà con họ hàng thân thuộc, mà súng đạn nổ liên miên, việc sanh nở khó bề suôn sẻ, hãy cho mẹ về cậy nhờ bên ngoại. Nghe vậy, họ để mẹ nó đi nhưng 3 người kia bị buộc phải quay về!

Những người lính Giải Phóng hôm đó đã cứu mẹ con nó khỏi bị vùi trong căn hầm đầy đất. Và, đất đã cứu mẹ con nó khỏi thần chết từ những mảnh bom làn đạn. Sau này lớn lên, nó đã đọc đâu đó rằng: đối với người lính ngoài mặt trận thì chỉ có đất, đất là tất cả. Đất có ý nghĩa hơn mọi thứ gì khác. Trong những cơn gầm thét hủy diệt của đạn pháo, trong những lúc tột cùng sợ hãi, đất là cha là mẹ dang tay che chở cho anh thoát khỏi tử thần, trả anh về với sự sống, và đôi khi, đất cũng ôm anh mãi mãi. Điều này đúng không chỉ với người lính. Những người dân quê nó từ mấy chục năm nay đã biết bám vào đất để tồn tại. Chỉ có bám vào hầm, chỉ có chui vào trong lòng đất mới mong sống sót được qua lửa đạn dai dẳng, khốc liệt của cuộc chiến tranh không chiến tuyến diễn ra trên mảnh đất này.

Làng quê lúc đó hầm tránh bom đầy rẫy. Mỗi nhà một hầm. Hầm dọc theo các con đường làng, dọc theo bờ sông, vách núi, xung quanh chợ, trường học… Ở đâu có đông người làm việc thì ở đó phải có hầm tránh bom, tránh pháo. Trên núi thì có giao thông hào, địa đạo, có mìn có chông được quân du kích cài sẵn. Những địa đạo lớn như địa đạo An Lộc xã Bình Hòa, Vạn Tường xã Bình Hải, Phú Quý xã Bình Châu là nơi trú ẩn hữu hiệu của bộ đội, du kích địa phương mỗi khi lính Quốc gia, lính Mỹ, hoặc lính Đại Hàn đi càn qua vùng Giải Phóng. Địa đạo là “nhà” của họ. Có mối tình đã bén duyên chồng vợ, có những đứa trẻ đã được sinh ra, nhưng cũng có nhiều người đã vĩnh viễn nằm sâu trong lòng địa đạo.

Nghe pháo nổ lập tức nhảy vào hầm, chui ngay vào lòng đất. Muốn thoát ra giữa hai làn đạn phải chờ tiếng súng im ắng rồi vừa giơ tay lên, chân chạy miệng hét to “đồng bào, đừng bắn…”. Đó là những thứ cần thiết để tồn tại của người dân trong sống trong vùng chiến trận. Một thứ bản năng sinh tồn. Những tiếng thét “cứu, cứu …” của mẹ nó không phải được điều khiển từ não bộ mà từ một thứ bản năng có từ hàng chục nghìn năm trước, khi con người còn là anh em với các loài động vật hoang dã. Thứ đã nằm đâu đó trong tâm thức, đến đỉnh điểm tự động bật lên như một phản xạ tức thời không suy nghĩ. Cũng nhờ những tiếng kêu thét này, mà nhiều lần mẹ con nó đã thoát chết trong gang tấc. Cứ mỗi lần trốn chạy như vậy, mẹ nó vừa ôm con vừa la lớn “đồng bào, đồng bào, đừng bắn, đừng bắn…” và đã thoát nạn. Bom đạn tàn nhẫn, vô tình. Ngay cả lúc được bắn ra từ những người lính hữu tình nhân ái nhất, cũng khó phân biệt được đâu là người dân đâu là người lính trong trận chiến không có chiến tuyến này…

*****

Vài tuần sau cái ngày bỏ làng chạy đạn, cha nó lại đưa mẹ từ trại định cư An Châu trở về quê sinh nở. Nhưng không phải về nhà nó ở xã Bình Kỳ, mà về Tham Hội, xã Bình Hoàng để cậy nhờ bên ngoại qua cảnh thế cô không nhà cửa bạc tiền. Hơn nữa, ở trại An Châu lúc đó cũng có nhiều lo lắng. Ban đêm, thỉnh thoảng quân du kích cũng đột nhập vào, giết lính canh, đốt trại, bắt dân về làng.

Xã Bình Hoàng lúc này thuộc vùng kiểm soát của quân Giải Phóng. Cứ vài hôm, lại có pháo kích, có bắn nhau, lại phải chạy ra hầm trú ẩn. Mẹ nó bụng chửa nặng nề, lại bị quáng gà, nên di chuyển cực kỳ khó khăn. Hễ trời chạng vạng tối là không thấy đường đi. Nghe ai đó mách bảo, dì Bảy tất tả kiếm đâu được một lá gan cá nhám về nấu cháo cho mẹ nó ăn chữa bệnh. Vài hôm sau, điều kỳ lạ đã đến, mắt mẹ dần dần sáng ra, không còn quáng gà nữa. Sau này nó mới biết, bệnh quáng gà là do chế độ ăn uống của người mẹ trong suốt thai kỳ bị thiếu dinh dưỡng, đặc biệt thiếu vitamin A trầm trọng. Gan cá nhám chứa rất nhiều vitamin A, nên ăn vào sẽ hết bị bệnh, mắt sáng. Không biết đây là một may mắn ngẫu nhiên hay thiên định, nhưng, nếu không có cái gan cá nhám ấy, không những mắt mẹ nó mù, mà nó cũng bị mù do thiếu vitamin A từ trong bụng mẹ…

Ngày chuyển dạ. Mẹ nó đau bụng từ chiều tối trong hầm trú ẩn. Đau suốt đêm. Trời gần sáng, cơn đau mỗi lúc một tăng dần. Gia đình cậy nhờ một bà mụ ở gần nhà giúp đỡ, nhưng tình hình vẫn không khả quan hơn. Cậu nó vội vã băng đồng chạy ra xóm bên cậy nhờ bác K y tá cũng là người bà con trong họ. Nghe mẹ kể lại, sau bác K chích một mũi thuốc giục (chắc là Oxytoxin), nó mới chịu chui ra khỏi bụng mẹ, khóc tiếng chào đời. Bên ngoài súng vẫn nổ, tiếng đại bác vẫn thỉnh thoảng gầm rú. Một cuộc sinh trọn vẹn, mẹ tròn con vuông. Nhưng mấy ngày sau gia đình được tin, người y tá đỡ sinh cho mẹ nó đã bị bắn chết dưới chân núi Thình Thình trong một trận đánh nhau ngay sau hôm đó!

Tiệc đầy tháng của nó thật là đặc biệt. Mới sáng sớm đã nghe tiếng súng nổ, tiếng bom, pháo gầm rú dữ dội, máy bay quần thảo trên bầu trời. Cả nhà hối hả chạy tìm nơi ẩn trú. Cha nó bồng nó chạy trước, cậu nó dắt mẹ chạy theo sau. Lúc đó súng đại liên trên xe tăng M113 bắn liên hồi. Cả gia đình không thể chạy vào núi Thình Thình được, bèn rút vào vũng nước sâu dưới vực hố gần chân núi ở Hóc A Du để tránh đạn. Cũng may vì mùa khô nên nuớc cạn, nhưng cũng ngập đến ngực… Cha nó bế nó đưa lên khỏi đầu vì sợ ướt, còn mẹ nó run lập cập ở dưới nước. Không biết thời gian trôi qua bao lâu thì tiếng súng bỗng lặng đi, mọi người vội vã lên bờ. Lúc này mẹ nó ẵm nó, quấn trong một cái khăn chạy trước, cha nó chạy sau, cứ theo hướng Đông Phước chạy ra, băng qua một loạt các ngọn đồi nhỏ ở Giông Tranh lên quốc lộ 1A thuộc xã Bình Liên, nay là Bình Hiệp.

Mẹ nó nói, lúc đó trời trưa nắng, tiếng súng nổ đã dịu hơn, và đang chạy đến một ngọn đồi có nhiều cây nhỏ. Bỗng, nhiều tiếng nổ “đùng, đùng” rung chuyển xung quanh. Rồi mẹ nó cảm thấy như có một sức đẩy vô hình hất tung người ngã vào một bụi cây. Lúc đó hoảng quá không biết phải làm gì. Một lúc, cha nó chạy đến, kéo mẹ dậy và hỏi: “Em đâu?” Mẹ nó đưa bọc khăn ra. Cha nó nhìn bọc khăn thất kinh. Chỉ mấy cái khăn, không có người! Mẹ nó như đông cứng. Loay hoay tìm xung quanh một lúc, cha thấy nó đang nằm ngo ngoe trong một bụi chà là cách đó vài mét. Mừng quýnh, ông ẵm nó lên, quấn khăn lại, rồi cùng mẹ nó nhắm hướng quốc lộ 1A chạy tiếp. Không biết chạy được bao lâu, cha nó bỗng thấy phía trước xa xa có những người lính du kích qua lại bên bìa rừng. Nếu gặp họ chắc chắn sẽ bị bắt quay về, cha nó nghĩ vậy. Ông bèn trao nó cho mẹ và rẽ qua một con đường khác. Một mình mẹ ẵm nó, đầu trần, chân đất, vừa đi, vừa chạy băng qua nhiều ngọn đồi, lên quốc lộ 1A đến chợ Bình Liên, ranh giới của vùng Quốc gia kiểm soát.

Khi bớt hoảng sợ đạn bom thì bắt đầu cảm thấy đói, khát và mệt mỏi rã rời ập đến. Mẹ nó ghé lại một căn nhà tranh nhỏ ven đường. Bà chủ nhà tốt bụng cho một bát cơm. Không dám nghỉ lâu, mẹ nó nhờ bà ta gói chặt cơm vào tàu lá chuối rồi tay ẵm nó, hối hả, vừa chạy, vừa ăn, đến trại định cư An Châu (xã Bình Vân) thì trời vừa sẩm tối. Một lần nữa, cái bản năng sinh tồn mạnh mẽ trong mẹ nó thức dậy. Một thứ bản năng chỉ trỗi dậy trong những lúc thập tử nhất sinh giờ đây đã cứu mẹ con nó một lần nữa. Sau lần chạy đạn nầy, cha mẹ nó ở luôn trên trại An Châu, đúng mười sau  mới quay về lại.

Khi cha mẹ nó chạy lên trại An Châu hôm đó, thì ngoại và các cậu nó quay về nhà thuộc vùng Giải Phóng. Ở được một năm, khi không chịu nổi những trận càn tàn nhẫn của lính Đại Hàn nên gia đình ngoại mới chạy lên định cư ở thôn Liên Trì, xã Bình Liên, ven quốc lộ 1A, vùng Quốc gia kiểm soát.

Tiếng pháo nổ bom gầm ngày hôm đó, về sau nó mới biết, là tiếng mở màn của trận đánh Vạn Tường, trận chiến qui mô đầu tiên giữa Thủy quân lục chiến Mỹ và quân Giải Phóng. Mặc dù diễn ra trong một không gian rộng lớn hơn, nhưng miền nước chảy ngược quê nó, là nơi chiến trận xảy ra ác liệt nhất, nơi phải gồng mình hứng chịu cỡ mười tám tấn bom thả xuống từ trên không, cùng với hàng ngàn quả đạn pháo loại 155 ly bắn vào từ biển và không biết bao nhiêu viên đạn các loại bắn ra từ trên mặt đất. Trận chiến đã đi qua. Xác máy bay, xe tăng vẫn còn đó. Xác người đã hòa vào trong đất. Cái tên Vạn Tường như ý nghĩa Vạn điều tốt lành đã đi vào sử sách. Và, các bên đều tuyên bố chiến thắng với những tổn thất trái ngược nhau. Nhưng, có cho bao nhiêu thường dân phải bỏ mạng, bao nhiêu nhà cửa ruộng vườn bị phá hủy, bao nhiêu gia đình ly tán do cuộc chiến gây ra thì không thấy sử liệu nào nói đến. Trong cuộc chiến tranh không chiến tuyến này, không chỉ người lính, mà những mất mát đau thương của người dân, những tổn thương âm thầm, dai dẳng không một phép tính nào đếm được, là vô cùng lớn lao và hằn sâu trong kí ức của một thế hệ mà đến nay hầu hết đã ngoài cái tuổi cổ lai hy, và có lẽ hơn phân nửa đã trở về với đất.

NGUYỄN NGỌC ANH

(Còn tiếp)

—————————————

(*) Trận Vạn Tường hay chiến dịch Ánh sáng sao (Operation Starlite) là trận đánh lớn đầu tiên trong chiến thuật “Tìm và diệt” của Mỹ và quân Giải Phóng diễn ra chủ yếu ở các xã Bình Hòa, Bình Hải cách sân bay Chu Lai khoảng 15 km. Vạn Tường là tên của một thôn nhỏ nơi trú ẩn của bộ chỉ huy quân Giải Phóng. 

Trận đánh khai hỏa rạng sáng ngày 18/8/1965 khi quân Mỹ phát hiện trung đoàn 1 quân Giải Phóng đang ở Vạn Tường, có thể  uy hiếp sân bay Chu Lai cách đó khoảng 15 km. Máy bay Mỹ đã ném khoảng 18 tấn bom và  Napalm.  Pháo 155 ly từ bờ bắc sông Trà Bồng cũng đồng loạt rót đạn vào trận địa. Quân Mỹ đồng loạt tấn công Vạn Tường bằng 3 đường:

  1. Đường từ ngoài biển đổ bộ lên An Cường (mật danh Green Beach) cùng với 5 xe tăng M-48, 3 xe tăng phun lửa M-67, hình thành vòng vây phía Nam; đánh chiếm thôn An Cường 1 và tiến quân về phía Tây.
  2. Đường không: đổ bộ bằng máy bay trực thăng xuống thôn Bình Phước (trên bản đồ là bãi đỏ – LZ Red), thôn Bình Long (trên bản đồ là bãi trắng – LZ White), và thôn Bình Thạnh Tây (bãi xanh – LZ Blue), hình thành cánh quân bao vây phía Tây.
  3. Đường bộ: Từ Chu Lai, một cánh quân gồm 8 xe tăng M41 và 18 xe bọc thép M113 đột kích theo đường bộ vượt sông Trà Bồng đánh xuống, hình thành cánh quân bao vây phía Bắc. Ý đồ của Bộ chỉ huy Mỹ là dồn lực lượng QGP ra biển, giao chiến trên địa bàn trống trải và tiêu diệt họ bằng hỏa lực của không quân, pháo binh và xe tăng.

Mặc dù chiến dịch Ánh sáng sao được giữ tuyệt mật và thực hiện nhanh gọn nhưng cũng bị quân Giải Phóng nhận biết và chuẩn bị đối phó. Cách đánh của quân Giải Phóng là phân tán lực lượng vào các làng xã với đội hình chiến đấu cấp trung đội; kết hợp phòng thủ khu vực và mở các đợt phản công vào phía sau và hai bên sườn đội hình tiến quân của Mỹ. Dùng phương pháp cận chiến, cơ động nhanh, hạn chế  quân Mỹ tấn công tổng lực. Sử dụng dân quân, du kích đánh vào đội hình hậu cần của Mỹ.

Trận đánh đã diễn ra ác liệt tại các thôn An Cường (cao điểm 30), chiến hào Lộc Tự, đồi tranh Ngọc Hương, Núi Phố Tinh (Cao điểm 43) và các vùng lân cận. Sau một ngày giao tranh ác liệt, lợi dụng vòng vây bị đứt đoạn giữa cánh Bắc và cánh Nam của Mỹ, đêm 18 rạng ngày 19/8/1965 Trung đoàn Ba Gia đã rút được phần lớn sở chỉ huy ra khỏi vòng vây. 

Sau trận đánh, hai bên đều tuyên bố chiến thắng. Quân Giải Phóng thông báo đã  diệt hơn 900 lính Mỹ, bắn cháy 22 xe tăng và xe bọc thép, hạ 13 máy bay. Quân Mỹ tuyên bố: 55 người chết, 222 người bị thương và diệt 600 Việt Cộng.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *