Miền nước chảy ngược – Tự truyện Nguyễn Ngọc Anh – Kỳ 3

Tác giả Nguyễn Ngọc Anh (bên phải) và bạn thân Lê Phong Quan

Chương 3

GIỮA HAI LÀN ĐẠN

 

VHSG- Lúc cha mẹ ẵm nó chạy lên trại định cư An Châu gần thị trấn Châu Ổ trong trận đánh Vạn Tường hôm đó, thì ngoại và các cậu nó quay về nhà. Xã Bình Hoàng bấy giờ vẫn là vùng Giải Phóng mà phía Quốc gia gọi là vùng mất an ninh. Cuộc sống vẫn tiếp tục, người dân quê vẫn ra đồng làm ruộng.

Mẹ nó kể, đầu năm 1966 lính Đại Hàn hoạt động cấp tập trên tuyến quốc lộ 1A. Đứng ở ngoài dốc sau nhà, nhìn lên hướng quốc lộ 1A là nghe thấy tiếng xe ủi đất hoạt động suốt ngày. Họ đang phá núi để xây căn cứ. Căn cứ của lính Đại Hàn ở tận trên quốc lộ 1A, cách nhà ngoại khoảng năm cây số. Ban đêm họ chia ra nhiều tốp, mỗi tốp khoảng 15 đến 20 người thọc sâu xuống các làng xóm. Đêm, họ phục kích bên ngoài. Sáng hôm sau họ vào làng, lùng sục tìm Cộng Sản. Mỗi ngày lính Đại Hàn tiến xuống làng một đoạn bắn phá tất cả những gì nghi ngờ liên quan đến Cộng Sản. Cứ như thế, từ  xã này đến xã khác, họ tiến dần đến vùng ven biển. Người dân buộc phải bỏ làng ra đi.

Tại xã Bình Kỳ, vào cuối năm 1966, trong ba ngày đi càn, lính Đại Hàn đã gây ra cái chết cho hàng trăm người ở Truông Đình, Xóm Cầu, Dốc Rừng, Chồi Giữa. Hố bom Truông Đình, một trong những dấu tích của mười tám tấn bom trút xuống quê nó trong trận Vạn Tường năm trước, là nơi lính Đại Hàn dồn 36 người vào một chỗ bắn chết. Hố bom này chỉ cách nhà nó khoảng vài trăm mét. Nghe nói, để trả thù cho những người bị hại, bộ đội địa phương đã dấy lên phong trào “Xé xác Rồng Xanh, phanh thây giặc Mỹ”. Và chưa đầy một tuần sau đó, lính đặc công của huyện đã bí mật dùng bộc phá khối, lựu đạn tiêu diệt một đại đội lính Đại Hàn khi họ đang đọc kinh thánh ở nhà thờ Trung Tín, xã Bình Lãnh (nay đổi tên là Bình Phước).

Sau năm 1975, chính quyền cho xây dựng trên hố bom Truông Đình một tấm bia, đầu trên có chạm hàng chữ: “Bia căm thù” và dưới bệ đỡ của bia là hàng chữ: “Mãi mãi khắc sâu mối thù giặc Mỹ xâm lược”. Suốt  những năm học phổ thông, ngày bốn bận nó đi qua đi lại thấy bia căm thù. Bốn mươi năm trôi qua, dù đã nhạt nhòa cùng mưa nắng, những hàng chữ trên giờ đây vẫn còn in rõ. Quê hương đã yên bình. Bia căm thù vẫn còn đó. Nó cứ tự hỏi, liệu một đất nước có thực sự hòa bình không khi lòng dân còn quá nhiều bất an, thù hận?

Con đường đi học từ nhà nó xuống trường Vạn Tường phải đi ngang qua thôn Lạc Sơn, An Phước. Khi chứng kiến cái cảnh gần như cả xóm cùng nhau làm giỗ trùng vào những ngày cuối năm, cái ngày mà hàng loạt người bị thảm sát, nó thấy xúc động dâng trào. Nó tự hỏi liệu “mãi mãi căm thù” có bù đắp được nỗi mất mát đau thương mà những người thân của nạn nhân phải gánh chịu, liệu có mang lại cho họ chút hạnh phúc nào không?. Sự bình yên nội tại của tâm hồn, cội rễ của hòa bình xưa nay, há chẳng phải là cái mà con người xưa nay hướng tới?

Cứ lan man suy nghĩ về hố bom Truông Đình hay Dốc Rừng, Chồi Giữa, nó cố tìm cách lý giải tại sao. Cái gì đã làm cho những người lính, trước đó là những người cha, người mẹ, người con trong gia đình, được lớn lên trong tình đồng loại lại hủy diệt đồng loại của mình dễ dàng như vậy. Tới đây, bất chợt hình ảnh mẹ nó bụng mang dạ chửa, bới đất ngoi lên khỏi hầm kêu cứu, hay cái cảnh Mẹ đầu trần chân đất ẵm con băng rừng chạy đạn hiện ra. Như một thứ bản năng, nhưng không phải bản năng sinh tồn mà là bản năng hủy diệt, thứ luôn luôn đồng hành với bản năng sinh tồn trong mỗi hoạt động, tuy hai mà một, hòa quyện cùng nhau, âm ỉ trong sâu thẳm mênh mông của cõi vô thức con người, chờ chực thời cơ bùng phát. Bản năng đó dẫn dắt con người gây ra những hành vi tàn bạo nhất, nhưng lại dễ dàng thực hiện do được ngụy trang với các động cơ mang ý nghĩa sinh tồn hay lý tưởng, rằng phải ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa Cộng Sản để bảo vệ hòa bình thế giới. Và rằng, xét cho cùng về mặt sinh học, đây là một cuộc đấu tranh sinh tồn, ta không bắn giặc thì giặc bắn ta, giết lầm hơn bỏ sót.

Trên trái đất này, sinh vật chẳng phải bảo tồn sự sống của nó bằng cách hủy hoại các sinh vật khác gì! Trong cái tâm thế đó, ở một vùng đất xa lạ, ở những làng quê mà họ cho là đã tiếp sức và che chở Việt Cộng, nơi mà mới buổi sáng chỉ thấy những người dân thân thiện, nhưng buổi tối có những phát đạn giết họ bắn ra từ đó. Bản năng hủy diệt trỗi dậy vượt khỏi vòng kiểm soát của lý trí. Phản ứng trả thù bộc phát.  Bắn sạch. Giết sạch. Đốt sạch.

Những người lính Đại Hàn can dự vào các cuộc thảm sát năm xưa nếu còn sống nay cũng đã quá tuổi thất thập và chắc nhiều trong số đó đã ra người thiên cổ. Chỉ có họ mới biết chính xác mình đã làm gì trong quá khứ. Còn đối với giới trẻ Hàn Quốc ngày nay, thì có lẽ hào quang sáng chói của các thuật ngữ Mãnh Hổ, Rồng Xanh đã che mờ đi cái sự thật phũ phàng mà họ chưa bao giờ được biết.

Nghe nói, khi thông tin về các cuộc thảm sát của lính Đại Hàn ở Việt Nam được đăng tải ở Hàn Quốc, giới cựu chiến binh Hàn cho rằng đó là những thông tin sai lệch. Đối với họ, những người bị giết hồi đó là “Việt Cộng cải trang thành dân thường”. Nhưng, cũng có nhiều người dân Hàn tin đây là sự thật và đồng cảm với những nạn nhân bị thảm sát. Thư và tiền bạc từ khắp nơi liên tục gởi về với mong muốn giúp đỡ những nạn nhân ngày càng nhiều. Cách nhà nó vài trăm thước, một trường tiểu học và một trường trung học cơ sở mới khang trang được người Hàn Quốc xây cạnh hố bom Truông Đình như là một cách bù đắp những đau thương mà họ đã gây ra trong quá khứ.

Hơn 50 năm đã trôi qua, vết thương xưa vẫn còn đó. Vết thương không những giày vò những người trong cuộc còn sống mà đã lan sang thế hệ cháu con, và hiện đã trở thành vấn đề không thể không đối mặt. Nếu như vết thương đó xuất phát từ bản năng hủy diệt thì chỉ có khơi dậy bản năng sinh tồn mới là phương thuốc chữa lành hữu hiệu. Chẳng phải Chúa đã từng dạy, hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em đó sao? Chẳng phải thúc đẩy tình cảm gắn kết người với người, hay chia sẻ lợi ích với nhau để cùng cộng sinh phát triển há chẳng phải là những viên thuốc quí để khơi dậy bản năng sinh tồn hơn là cứ giáo dục cho con em lòng căm thù mãi mãi hay sao?

Người Hàn Quốc hiện vẫn chưa chữa lành vết thương của họ do người Nhật đã gây ra trong Đệ nhị thế chiến, thì đây là một cơ hội để họ thoát khỏi bạo lực nội tại. Chỉ bằng cách làm bình an những kỷ niệm đau thương về quá khứ, họ mới có thể mơ về hòa bình trong tương lai. Đây là phát biểu của nữ kí giả Ku Su Jeong trong một lá thư gởi đến người dân Hàn quốc.

*****

nhờ nhà người bà con được một năm, ngoại nó quyết định bán hết mấy con bò để lấy tiền mua một căn nhà nhỏ sát quốc lộ 1, thuộc ấp Liên Trì, xã Bình Liên. Rải rác hai bên quốc lộ 1 lúc đó là những đồn bót của lính Đại Hàn. Đây là vùng an ninh do Quốc gia kiểm soát. Căn nhà nhỏ khoảng 30m2, mái lợp tôn, vách trét bằng đất sét trộn với rơm rạ. Trong nhà có sẵn một cái hầm để tránh đạn. Cậu Sáu nó đào thêm một một ngăn bí mật và một ngõ thông ra phiá sau nhà. Khi cha nó bị bắt lính, đưa đi huấn luyện ở Phú Bài thì mẹ con nó cũng về đây sinh sống. Dân tản cư vùng này, giống như ngoại nó, hầu hết chạy lên từ ở xã Bình Hoàng. Nhà gần quốc lộ 1 nên nó thấy xe chở lính chạy qua lại thường xuyên. Nó còn nhớ, lần nọ khi thấy một xe GMC chở đầy lính Mỹ ngang qua, nó và bọn trẻ lối xóm giơ hai cao ngón tay hình chữ V và hét lớn ô kê, ô kê… lính trên xe quẳng xuống đủ loại thức ăn thức uống nào là đồ hộp, kẹo socola. Mấy đứa kia lớn hơn giành hết những thứ ngon, nó cũng lượm được một bịch đem về khoe với ngoại. Bà nó xem rồi cười nói đây là cà phê đắng con không uống được.

Cuộc sống mới khó khăn. Có được căn nhà trú ẩn nhưng không nghề nghiệp, không tiền bạc, không có cái ăn. Khi bỏ làng chạy giặc thì lúa mới cấy xanh mơn mởn, giờ đến mùa lúa chín, ngoại và dì nó quyết định về quê gặt lúa để kiếm cái ăn. Lúc đó hầu hết dân đã bỏ làng đi lánh nạn. Quê là một vùng đất chết. Ban ngày lính Đại Hàn đi càn quét thường xuyên khắp mọi ngõ ngách trong làng để tìm Cộng Sản, ban đêm co cụm về đồn. Bộ đội, du kích địa phương thì ở trong rừng, trong dân, thoạt ẩn thoạt hiện khắp nơi và thường tấn công vào các tốp lính Đại Hàn đi riêng lẻ. Những người dân còn ở lại đây phải sống giữa hai làn đạn.

Dì nó kể, một hôm đang gặt lúa với một người bạn thì lính Đại Hàn xuất hiện. Họ bắt và dẫn hai người đàn bà đi, tới chỗ nào có hầm là bắt phải chui vào. Dì nó ra hiệu rằng mình đang ở vùng an ninh trên quốc lộ 1 và xuống đây cắt lúa đem về ăn. Đi hết cả buổi sáng, không tìm thấy Cộng Sản nên họ thả cho hai người về. Vừa đi được một lúc, gì nó bỗng nghe tiếng đạn nổ két cùm két cùm… quay lại phía sau nhìn xa xa đã thấy tốp lính Đại Hàn quành lại tìm kiếm. Dì sợ quá bèn chui ngay vào cái đụt cá dưới mương để trốn. Sau một lúc tìm không thấy gì tốp lính bỏ đi. Dì vẫn bị kẹt trong cái đụt. Chui vào thì dễ, nhưng chui ra không được. Phải nằm co quắp trong cái đụt mãi đến xế chiều, mới thấy có người đi qua, đây là những người dân ở lại làng không đi tản cư. Mừng quá dì la to kêu cứu, anh ta nghe thấy và chạy tới gỡ dì ra khỏi cái đụt. Thì ra, sau khi thả dì đi, tốp lính Đại Hàn đã bị quân du kích canh bắn tỉa nên họ quay lại tìm kiếm. Sau ngày hôm đó, dì và mấy người kia không dám về quê gặt lúa nữa.

Không còn ruộng để cấy cày, những người dân tản cư đã chuyển sang nghề mới: buôn bán với lính Đại Hàn ở các căn cứ của họ dọc quốc lộ 1.

*****

Cầu Cháy – cây cầu trên quốc lộ 1A bắt ngang qua dòng nước chảy ngược lên từ xã Bình Kỳ cách nhà mới của ngoại nó ở tại thôn Liên Trì khoảng vài cây số. Cây cầu có vị trí chiến lược quan trọng, không những nối lưu thông trục Bắc Nam, mà còn gần con đường nối trục Đông Tây – con đường mà quân Giải Phóng thường hay di chuyển: từ cứ địa trên núi xuống các vùng ven biển. Cầu Cháy thường xuyên được một tiểu đội lính Đại Hàn bảo vệ.

Cậu Út nó kể*, hồi đó gần cầu Cháy có một bãi rác lớn nên các nhà thầu rác đã thuê luôn tiểu đội lính Đại Hàn này bảo vệ bãi rác cho họ, không cho người dân địa phương đến lượm rác. Gọi là rác, nhưng trong đó có nhiều loại thức ăn mà những người nghèo đói thèm thuồng, mơ ước. Lũ trẻ tản cư thường đến cầu Cháy để rửa xe cho lính Đại Hàn và lính Mỹ. Họ trả công lại bằng đủ loại: đồ hộp, thịt, gỗ, ván ép,… Thỉnh thoảng cả bọn rủ nhau qua bãi rác lượm đồ hộp và các loại thực phẩm khác đem về bán. Vì bãi rác tiếp giáp với một con sông nên muốn vào đó phải bơi qua sông và lượm nhanh những gì mình cần rồi bơi trở về. Nếu chậm để lính Đại Hàn bắt được sẽ bị đánh đập. Một lần có anh bạn vì ham lấy đồ quá bơi về không kịp, bị lính Đại Hàn bắt được phạt phải cúi đầu chạm đất, bỏ hai tay sau lưng, chổngđít lên trời cả tiếng đồng hồ mới tha.

Một nghề khác cũng kiếm được tiền kha khá là đổ cát vào bao cho lính Mỹ tại cầu Cháy. Khi tiếp nhận căn cứ của lính Đại Hàn, lính Mỹ bắt đầu xây dựng lại công sự. Mỗi buổi sáng họ đến bãi cát gần cầu Cháy để lấy cát cho vào bao rồi chở về đồn làm công sự. Bọn trẻ tản cư thường tụ tập rửa xe ở đó nên được lính Mỹ thuê đổ cát vào bao. Công việc kiếm được khá tiền nên nhiều người lớn cũng tham gia.

Khi xây thêm công sự ở các căn cứ của Đại Hàn, lính Mỹ thông báo với  người dân địa phương rằng sẽ mua tất cả các loại đạn, mìn, bom, súng. Chắc họ không muốn những loại đạn này lọt vào tay Cộng Sản. Thế là những người dân tản cư lại có thêm nghề đi lượm đạn, gỡ bom, mìn đem về bán lấy tiền. Mỗi buổi chiều, một chiếc xe Jeep kéo theo một cái rờ-mooc đến ngã ba Dốc Chùa thuộc thôn Liên Trì và đậu đó để mua vũ khí. Trên xe có hai lính Mỹ và một người thông dịch. Cũng vào giờ đó học sinh đi học ra về. Một hôm, khoảng năm giờ chiều, có nhiều tiếng nổ dữ dội ở Dốc Chùa và kéo dài hơn mười phút. Mọi người chạy đến nơi phát nổ. Trước mắt, một cảnh tượng tan thương: Chiếc xe vỡ nát, cái rơ-mooc không còn. Xác người bị xé rách văng khắp nơi. Sau hai ngày thu lượm thi hài mới hết những bộ phận của những người xấu số. Khoảng hai mươi người chết, trong đó có nhiều học sinh đi học về ghé lại để xem. Những người dân gần đó kể lại rằng, có mấy đứa trẻ mang một bao đạn đến bán, lúc chúng đổ ra để phân loại thì một quả M79 phát nổ làm nổ cả xe đạn mà lính Mỹ đã mua trước đó.

*****

Cuối năm 1967, lính Mỹ thưa dần. Quân du kích ở quê ban đêm đã mò lên tận quốc lộ 1. Một buổi sáng họ phục kích giết chết ông xã trưởng xã Bình Hoàng khi ông đang đi trên đường từ quận về nhà sau một đêm ngủ trọ ở thị trấn Châu Ổ, gần quận. Trên quốc lộ 1, thỉnh thoảng một vài chiếc xe bọc thép M113 của Mỹ chạy qua vào buổi chiều và sáng hôm sau mới quay trở về đồn. Đó là những lần quân Mỹ đi càn xuống các xã vùng quê ven biển. Cậu nó kể, một hôm, trời vừa hừng sáng đã thấy một chiếc xe bọc thép kéo lê xác một người du kích bị bắn chết trong một trận phục kích của Mỹ. Họ cột xác người bị giết bằng một sợi dây xích sắt, móc sau chiếc xe tăng M113 kéo lê trên đường dọc theo quốc lộ 1 và bỏ trước chợ Bình Liên. Sau đó, chị của anh du kích cũng là dân tản cư ở đó đã nhận xác đem về chôn. Đó là anh xã đội trưởng xã Bình Hoàng, người thường hay chơi trò đánh trận giả với cậu nó tại cầu Bàu Dông vài năm về trước.

Lúc này, nhà tản cư của ngoại nó ở thôn Liên Trì, xã Bình Liên không còn an ninh nữa.

Quân du kích sống dựa vào dân. Nhưng từ khi dân bỏ làng chạy đạn, tất cả nhà cửa đều bị cháy hoặc bị bom đánh sập, ruộng vườn đều bị bỏ hoang không một ai cày cấy. Những nam nữ thanh niên từ quê tản cư lên vùng này đều phải lẩn tránh du kích vì sợ họ bắt về quê. Ban đêm những người thanh niên tản cư ven ven quốc lộ 1 không dám ở nhà. Mỗi buổi chiều, cậu Sáu nó đạp xe ra nhà nó gần quận để ngủ, đến khi mặt trời lên cao mới dám về. Hôm Tết Mậu Thân năm 1968, cả nhà đang đón giao thừa, thì quân du kích bất ngờ xâm nhập vào trong xóm. Nghe tiếng chó sủa, biết ngay là có du kích đến. Cậu Sáu chui ngay xuống ngăn bí mật trong căn hầm, cậu Út nó đậy nắp lại, trải tấm chiếu lên, và giả vờ ngủ. Một lúc sau, có hai anh du kích đột nhập vào nhà hỏi cậu Sáu đâu? Ngoại nó nói, nó đi chơi ngoài anh Năm (cha nó) không có ở nhà. Họ không tin và lục soát. Họ rọi đèn pin vào căn hầm thấy cậu Út đang ngủ. Ngoại nó nói, đó là thằng Thắm, nó đang ngủ. Sau khi thuyết phục gia đình ngoại nên về quê sinh sống một lúc rồi họ bỏ đi.

Ở Liên Trì không còn an toàn nữa. Khoảng giữa năm 1968, gia đình ngoại nó quyết định vào Pleiku sinh sống.

*****

Trong khi dân làng nó chạy đạn về hướng Tây lên quốc lộ 1A  hay trại định cư An Châu gần quận lỵ, thì ở cực Đông có một mỏm đất nhô ra biển cách nhà nó chừng 6km là nơi được coi là vùng an ninh do Quốc gia kiểm soát. Đó là làng Phước Thiện. Làng như một bán đảo, chỗ nối với đất liền thắt lại như một cổ nút chai, cách thôn Vạn Tường chỉ một con dốc. Sau trận Vạn Tường, quân Mỹ thiết lập một vành đai bảo vệ căn cứ Chu Lai. Hướng dọc bờ biển có 1 đồn tại núi Mủ Rú, bây giờ là đường đi vào cảng Dung Quất, núi đá cách nhà máy lọc dầu khoảng 2 km; 1 đồn tại Gò Hồng, biển Lệ Thủy; 1 đồn án ngữ ngay nút thắt cổ chai của làng Phước Thiện. Từ các đồn này, lính Mỹ kết hợp với lính Việt Nam Cộng hòa đánh nống ra các thôn phía trên của xã Bình Thiện (nay là Bình Hải) như Vạn Tường, An Cường, Thanh Thủy… Nhưng đó chỉ là đi càn ban ngày, còn về đêm, khi lính Mỹ rút về đồn, các vùng này vẫn thuộc quyền kiểm soát của quân du kích.

Khi nghe nó kể về quá trình chạy giặc của mình, một người bạn nó, dân Phước Thiện kể rằng quá trình chạy đạn của gia đình anh có khác. Kể từ trận Vạn Tường năm 1965, gia đình anh và đa số dân thôn Phước Thiện không chạy đi đâu cả cho đến năm 1972. Họ ở lại làng. Làng Phước Thiện có đồn Mỹ nên một số dân các vùng xung quanh trong xã di tản về. Chính quyền xây dựng các dãy trại định cư trên các rẫy núi trong thôn. Cuộc sống của người dân vẫn diễn ra bình thường trong một không gian đầy rủi ro bất trắc.

Sống trong một bán đảo nhô ra biển, xung quanh là các thôn địa hình đồi núi chập chùng, với cái cảnh “ngày Quốc Gia, đêm Cộng Sản” nên giao thông, hàng hóa rất khó khăn. Người dân đa phần đi lại bằng đường biển. Người ta dùng ghe đi ra cửa Sa Cần, sau đó đi vòng về chợ Châu Ổ (chợ quận) để mua bán, trao đổi xong lại xuôi thuyền về. Một số người mạnh dạn hơn, cứ theo đường bộ, băng qua con đường trước nhà nó thuộc xã Bình Kỳ, đến Bình Lãnh (bấy giờ gọi là các vùng mất an ninh vì đang thế giao tranh, không có dân làng sinh sống) để đi lên chợ quận.

Từ đồn Phước Thiện, Gò Hồng, hàng ngày, lính Mỹ cùng lính nghĩa quân (quân Giải Phóng gọi là lính Ngụy) lên các thôn Vạn Tường, Thanh Thủy đi càn và phát thuốc. Do dân lãnh nhiều quá nên hết thuốc và họ hẹn ngày mai lên phát tiếp. Thông tin này bị lộ. Ngày hôm sau, quân du kích phục kích ngay bãi biển dưới nhà anh bạn nó khoảng 500m và diệt gọn một tiểu đội, chỉ còn đúng 2 người sống sót: 1 lính nghĩa quân, 1 lính Mỹ.

Trong thời gian này, lính Mỹ bắt những gia đình có người theo Cộng Sản tối đến đi gác phía ngoài đồn, để làm một lớp rào che chắn. Có hôm, quân du kích và bộ đội địa phương đánh thẳng vào đồn Mỹ ngay trong làng Phước Thiện. Sự việc bại lộ tổn thất rất nhiều. Nghe nói người du kích chỉ huy trận đánh này chết rồi vẫn bị kỷ luật!

Sau khi Mỹ rút quân thì chiến sự xảy ra ngày càng ác liệt. Năm 1972 đánh nhau dữ dội, đồn Phước Thiện thất thủ. Một số dân làng chạy ra đảo Lý Sơn lánh nạn. Đảo Lý Sơn chỉ cách Phước Thiện chừng 30 km theo đường chim bay. Một số khác chạy ngược lên núi Châu Má hoặc lên trại định cư An Châu gần quận lỵ. Hồi ức bỏ làng chạy giặc của một cậu bé tám tuổi đã được anh bạn nó ghi lại   trên facebook như sau:

“…Lâu lắm rồi, năm một chín bảy hai, chiến sự ngày càng ác liệt, lan cả đến cái làng Tổng Binh (Phước Thiện sau này) thanh bình, xa heo hút. Nhà thờ bị bom phạt trụi chỉ còn trơ nền gạch, trường Thiện Mỹ nằm ở góc trên cũng cùng chung số phận, mấy đứa nhỏ được ưu tiên chạy giặc trước ra đảo Lý Sơn. Vừa đến đảo các linh mục dòng Chúa Cứu Thế dắt lên xe lam, đem về tá túc ở làng Dưới để đi học tiếp tại trường Thăng Tiến. Mới tám tuổi đầu, lần đầu tiên bị bứng ra khỏi làng nên nó nhớ nhà lắm. Trưa nào cũng trốn ngủ, đi ra vườn dừa sau lưng nhà thờ, ngồi hóng nhìn ra biển. Cảnh vật trên đảo ngày đó đẹp lạ lùng mà mình cứ khóc, cứ muốn về nép bên áo mẹ, dù về trong đó, đêm hôm phải chạy giặc trong tiếng súng đì đùng, trong ánh hỏa châu sắp lụi làm bóng dừa đổ trên bãi cát uốn éo thành hình thù ma quái, nhìn rất sợ. Trong lấp loáng của mặt biển dưới ánh nắng mặt trời, nó thấy ra bãi Đàng Gành, ra mũi Tổng Binh chệch xuống một chút là lùm tra ngõ bà Liễn, ở đó tụi nó thường chơi trốn tìm rồi lén nghịch đi bứt râu mực đang phơi ở các giàn vỉ trước bãi. Gần bốn mươi năm sau, kể cho cha nó nghe về nỗi nhớ nhà ngày ấy, cha nó cười, làm sao mà thấy được con, ghe mới chạy ra đến rạng Ngoài là hết thấy được làng mình, với lại vườn dừa phía sau lưng nhà thờ Bình Yến đâu có nhìn về hướng đất liền. Re-tua lại ký ức, vẫn còn nhớ như in vườn dừa nắng trưa ngày đó. Có nỗi nhớ nhà đến nhìn mây hóa núi…”

NGUYỄN NGỌC ANH

(Còn tiếp)

___________

* Tư liệu từ “Chuyện kể một đời người” của Nguyễn Văn Thắm

 

TIN LIÊN QUAN:

>> “Miền nước chảy ngược” – xuôi thăm thẳm vào lòng người

>> Miền nước chảy ngược – Tự truyện Nguyễn Ngọc Anh – Kỳ 1

>> Miền nước chảy ngược – Tự truyện Nguyễn Ngọc Anh – Kỳ 2

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *