Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 2

Bức tượng Cờ lau tập trận ở Công viên Tao Đàn – TPHCM

Chương hai

Bôn tẩu theo cha

1.

VHSG- Năm Tân Mão (931), khi Đinh Hoàn lên bảy, thì Đinh Công Trứ được phong làm Thứ sử Châu Hoan. Đinh Thứ sử kéo cả bầu đoàn thê tử cùng đi nhậm chức.

Một hôm, Đinh Thứ sử bàn với Đàm Phu nhân:

– Có dễ, phải cho hai thằng đi học chữ?

– Nhưng, nhà có thuê thầy về dạy trong phủ được không? – Đàm thị có ý lo cho con.

– Học chung trường phủ, cho chúng nó hòa đồng với lũ trẻ trong này, càng mau nhớn, – chữ “nhớn”, được Trứ nhấn mạnh, ngụ ý cho vợ hiểu rằng, không chỉ to xác mà còn rộng về đầu óc nữa.

– Thì ở như Kim Lư, chúng vẫn thường chơi với lũ trẻ chăn trâu, chăn dê đấy thôi. Hai anh em chúng nó, thân với thằng Bặc lắm, – Đàm thị nói vậy, cũng có ý thanh minh, lại thể hiện sự tán đồng.

– Bặc nào? – Trứ nhíu mày, không nhớ nổi kẻ ấy là ai.

– Con ông Thước đấy như, – nàng Đàm nhướng mày nhìn chồng, vẻ ngạc nhiên.

– À, tôi nhớ ra rồi, Nguyễn Thước. Ông Thước cùng gia tướng Dương Hào trưởng, – Trứ reo lên mừng rỡ, – được, được đấy. Đi đâu cũng phải kết bạn, chọn bạn mà chơi.

Điền và Hoàn cùng đi học với lũ trẻ quanh phủ. Biết hai anh em là con thứ sử, nên thầy nể, trò sợ. Nhưng hai anh em không bắc bậc cành cao, lại sáng dạ, nên chẳng bao lâu được thầy yêu, bạn mến.

Lớp học ở đình. Học trò rải chiếu, khoanh chân ngồi nghe giảng và phủ phục xuống chiếu mà viết. Hằng ngày, trò nào tới phiên mài mực thì phải đến sớm. Hoàn cầm thỏi mực dẹt như hai ngón tay, mài vào đáy đĩa lấp xấp nước, như kiểu xay lúa, bụng bảo dạ, không được lơ đễnh, lật đĩa là ăn đòn như chơi. Hoàn nhớ có lần, Điền bị phạt, đã biết cách đối phó, độn mo nang vào trong lưng quần, thầy quật “bộp” một cái, biết ngay là trò láu cá, thế là mức phạt nhân đôi. Có đứa viết xấu, chữ méo xệch, cũng bị đỏi thước vào tay. Nghĩ đến chúng bạn, Đinh Hoàn bật cười. Dòng mực xoáy tròn như chơi trò đèn kéo quân. A, quân ta đuổi quân địch, xông lên! Bất chợt, thỏi mực trượt lên miệng đĩa, lật nhào. Mực đổ tung tóe ra chiếu và quần áo. Đinh Hoàn choáng người, vội cuốn chiếu, toan mang đi giặt, thì cái đĩa tuột xuống nền đình, trạt bằng vôi, cát, rơi đánh “choang” một tiếng, vỡ tan tành. Thầy đồ nghe động chạy ra, với cái nhìn nghiêm khắc, khiến Hoàn sợ toát mồ hôi. Nếu không phải con giai Đinh Thứ sử, chắc Hoàn đã phải ăn roi và chịu phạt quỳ cả buổi.

Nàng Đàm thấy con đi học về, áo quần lấm lem những mực là mực, mới hỏi sự tình. Hoàn thưa lại. Nàng Đàm lại kể với chồng. Hôm sau, Đinh Thứ sử viết phong thư, bảo Hoàn chuyển đến thầy đồ: “Thưa tiên sinh, trò Đinh Hoàn, trò Đinh Điền có lỗi, mong được xử như những trò khác, cũng là để đặng nên người“.

Trứ tuy bận việc quan, nhưng riết róng theo dõi việc học hành của hai con. Ngay từ những buổi đầu, đã hỏi:

– Hai anh em học được mấy nét rồi?

– Thưa, mới có một nét, – cả hai anh em đồng thanh trả lời.

– Viết ta xem, – Trứ chỉ vào tờ giấy và nghiên bút trên bàn.

Điền gạch một nét ngang vào góc tờ giấy. Hoàn lại vẽ vào giữa giấy, nét cứng cỏi.

– Mày viết mà như vẽ như vầy, tốn giấy? – Trứ xem, thấy lạ, nhíu mày, giằn giọng.

– Ta phải đứng giữa thiên hạ! – Hoàn điềm nhiên đáp.

Nghe vậy, Trứ giật mình, ngẩng phắt lên nhìn con, tuy hởi lòng, nhưng phải uốn nắn từ nhỏ, kẻo ngông cuồng, hỏng việc lớn.

– Thôi, cất đi, chớ có ăn nói luông tuồng ở lớp học. Nhất nhất phải nghe lời thầy, vui vẻ với chúng bạn, nghe không, cả hai thằng? – Trứ nhìn cả hai con, nghiêm nét mặt, đoạn quay sang Điền, – mày lớn, phải bảo ban em.

Điền thì trố mắt nhìn, trong lòng phục thằng em, cái gì nó cũng ranh hơn, nhưng nghe bố nói vậy, đành lí nhí vâng dạ cho qua chuyện.

– Con sẽ đưa cho bu giữ hộ, – Hoàn cầm tờ giấy có chữ “Nhất” của hai anh em, tung tăng chạy.

– Không được, – Trứ gọi giật giọng, – phàm chuyện chữ nghĩa, không được đưa cho đàn bà, kể cả bu mày. Cho vào hòm sách, thỉnh thoảng hai anh em xem lại, nghe chửa?

Cứ dần dần như vậy, hai anh em học hành ngày một tấn tới. Cuối năm, Trứ lại hỏi câu khó, bảo hai anh em thích gì thì viết ấy. Điền vẽ con hổ rõ to. Trứ hỏi rằng sao? Điền bảo, lớn lên muốn làm chúa sơn lâm. Hoàn viết chữ “Long”, những mười sáu nét. Trứ hỏi, long là gì? Hoàn đáp, là con rồng, tượng trưng cho vua. Trứ tươi nét cười, gật gù lặng lẽ. Hoàn khoe, con hỏi thầy đồ viết chữ “Bặc” thế nào? Thầy hỏi lại, để làm gì? Con bảo, đấy là bạn con ở quê. Thầy khen, có nghĩa với bạn. Con hỏi, bặc, nghĩa là gì? Thầy bảo, một nghĩa là củ cải, có khi đặt tên thế cho dễ nuôi cũng nên. Nghe vậy, Trứ cười ngất. Hai đứa lại mang chữ và hình cất vào hòm sách. Cái hòm gỗ thông đựng chữ, tưởng nhẹ mà hóa nặng, hai anh em phải lặc lè khiêng khiêng, mở mở, đóng đóng, hằng ngày.

*

Có hôm, Điền và Hoàn cùng đám học trò chơi đánh đáo hạt gấc. Hoàn để móng tay út mọc dài, nên quài được vô khối. Điền phát hiện ra trò láu cá của thằng em, khoái chí, cười tít mắt. Chán trò đánh đáo, cả bọn lại kéo nhau ra chơi sông Ngàn Cả(1), mà chúng gọi là đi nhởi.  Triều lên, dòng sông mênh mang, khiến chúng choáng ngợp, không dám lội xuống nước. Nhưng anh em Điền, Hoàn thì lột phăng áo quần, lao “tùm” xuống, lặn ngụp, vẫy vùng như rồng gặp mây, như cá gặp nước.

Trộ tề, hấn bơi lặn như rái cá.

– Chúng tao lặn mở mắt, thấy cả thủy cung vua Thủy Tề, – Hoàn phơ lên.

– Xì, choa  nghe nói, thủy cung ngoài bể cơ mà?

– Tao lặn ra tận cửa Hội, thấy Hòn Ngư đứng chân ngoài bể, to bằng mấy cái đình.

Nghe Hoàn nói vậy, cả bọn lè lưỡi, Điền tủm tỉm cười.

Hoàn thấy cái đình ở phủ này, cũng chẳng khác cái đình ngoài làng Đại Hữu, quê nội là mấy; cũng mái ngói vẩy cong cong, cột gỗ lim hai đứa học trò ôm mới xuể và cũng có gian thờ thành hoàng. Chỉ khác là chân cột ở đây, cái nào cũng đặt trên “gạc dai” là hai thanh gỗ chéo hoa thị, kê trên mặt tảng đá.

Thầy bảo, qua dãy Hoành Sơn là sang nước Chiêm Thành. Tiếng nói Châu Ái đã nghe nằng nặng, vào đây còn líu ríu hơn. Câu nói cũng là lạ, nhìn là trộ, kìa là tề, chơi là nhởi, chúng tao là choa, hắn là hấn, nước là nác, trâu là tru, đầu thì gọi trôốc, thuyền là nôốc … Nhưng bu dặn, không được nhại, chửi cha không bằng pha tiếng. Mình là con nhà quan, phải ý tứ giữ gìn, không được buông tuồng, hỗn láo.

Không riêng gì Hoàn và Điền, ở lớp cũng có mấy đứa con quan, đứa nào cũng đi dép da trâu, con dân đi chân đất. Con quan béo và sạch, con dân gầy còm, nhếch nhác; nhưng sức học thì chẳng hơn nhau là mấy.

Đồng đất xứ này không lầy thụt như Đại Hoàng, mà đầy cát, giồng khoai lang thì tốt. Hoàn đến chơi nhà bạn, thấy cơm độn khoai lang, nghĩ bụng, thảo nào, chúng gầy và xanh, vạt áo đứa nào cũng dính đầy nhựa khoai, đen như quệt mực nho.

Xứ này cũng có trâu, nhưng anh em nhà Hoàn nhớ trâu Kim Lư hơn. Nhớ khi hai em anh lũn cũn theo bọn trẻ cởi truồng cưỡi trâu lội đầm. Đêm về, rôm trâu nổi đầy bẹn như hạt kê, rát tựa phải bỏng. Đầm lầy đầy cỏ môi, lá bám vào bắp đùi xước đỏ và mưng mủ, rồi tróc da từng mảng. Điền mau khỏi hơn Hoàn. Bu bảo, Điền lành máu, còn Hoàn độc máu. Thế rồi khỏi là lại theo trâu ra đầm, chơi cả ngày cả buổi, quên ăn. Hoàn để ý, thấy con trâu nào dưới cổ cũng có một nốt ruồi to, mà không hiểu tại sao, để làm gì? Một hôm, Hoàn đánh bạo, hỏi chú Dự. Chú bảo, ngày xửa ngày xưa, trâu cũng biết nói tiếng người, nhưng hay mách lẻo những trò ma quỷ của trẻ mục đồng, nên chúng nhờ phù thủy châm que hương đang cháy vào cổ trâu, thành cái sẹo nốt ruồi. Thế là từ đấy, trâu không nói được nữa, chỉ kêu “nghé ọ” mà thôi.

2.

Một hôm, thứ sử Đinh Công Trứ mời thầy đồ dến tư dinh đàm đạo. Sau khi phân ngôi chủ khách, uống tuần trà, vừa đối ẩm, vừa hỏi thăm gia cảnh, rồi Trứ dò ý bằng một câu hỏi:

– Dám hỏi, sao tiên sinh học rộng tài cao, mà không ra làm quan giúp nước?

– Thưa quan Thứ sử, tôi cũng chỉ biết dăm ba chữ bỏ bụng, gõ đầu trẻ còn chưa xong, đâu dám… – thầy đồ có ý khiêm nhường.

– Bây giờ, thời buổi loạn lạc, mấy người có chữ đều đau đáu cái sự an dân bình thiên hạ. Ngô Quyền cũng đi làm Thứ sử Châu Ái với tôi cùng một lượt. Năm sau, được Hào trưởng Dương Đình Nghệ cho làm con rể, rồi trao cả binh quyền, – Trứ dừng lời, lại trịnh trọng giơ tay mời trà.

– Cái chuyện Ngô Thứ sử, gặp nàng Dương Phương Lan, ái nữ của Dương Hào trưởng, vào năm Nhâm Thìn (932), đâu như trên cầu Ba Trăng, thì đồn tự sông Đáy vào tận sông Lam. Âu cũng là ông giời xe duyên cho bậc anh hùng, – thầy đồ đỡ lời cho vui câu chuyện.

– Ngoài kia, Phạm Bạch Hổ cũng giúp Dương Hào trưởng, đánh đuổi bọn Lý Tiến, Thứ sử Giao châu của quân Nam Hán, giải phóng Đại La(2), vào năm Tân Mão (931), rồi lại đánh bại Trần Bảo, do Lưu Nguyễn cử sang cứu viện. Bảo bị chém chết tại trận. Hào trưởng đã xưng Tiết độ sứ rồi, – Trứ xoay mình cụ cựa trên tràng kỷ, có vẻ nóng lòng.

– Tôi cũng nghe nói, Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập sinh con giai, đặt tên Tỷ, điềm lạ lắm, – thầy đồ cũng giãi bày, vẻ am hiểu chuyện cung đình.

– Tiên sinh thấy các cháu nhà tôi thế nào? – Trứ hỏi độp một câu.

– Về Tỷ thì mới nghe đồn, nhưng đáng lưu tâm. – Thầy đồ trả lời nước đôi, – còn trò Hoàn, Điền thì hẳn đại quan cũng am tường. Chẳng ai hiểu con cái bằng cha mẹ. – Đắn đo hồi lâu, thầy đồ lại nói, – thiển nghĩ, chúng có thể làm nên việc phi phàm.

– Không phải cái sự mèo khen mèo dài đuôi, nhưng chúng nên người cũng là nhờ công lao của tiên sinh. Thôi thì, đã thương thì thương cho chót, đã vót thì vót cho tròn, – Trứ nhìn thầy đồ, vẻ cầu khẩn. – Bởi thế, muốn nhờ tiên sinh chỉ giáo thêm cho chúng mấy câu Binh pháp. Biết đâu, lớn lên lại cần dùng. Dám mong được tiên sinh khai tâm cho.

– Đại quan đã có ý vậy, phúc phận tôi lớn lắm thay, chỉ e tài hèn sức mọn, chữ chưa đầy một đấu, nên lực bất tòng tâm mà thôi, – giọng thầy đồ hồ hởi, nhưng lời lại tỏ ra khiêm nhường.

– Tôi cũng tính cả rồi, Hoàn sinh năm Giáp Thân (924), Điền thì trước một năm, tuổi Quý Mùi. Nay là Bính Thân (936), thì tuổi chúng cũng đặng giáp trên giáp dưới cả rồi. Vả, được tiên sinh rèn cặp, trộm nghĩ, chúng có thể hiểu được tý chút về đời, về thời rồi. Dám mong tiên sinh giúp thêm mới được, – Trứ hết lòng bày tỏ, nhờ cậy.

– Đầu năm nay, tôi nghe chuyện chùa Minh Châu(3) có trồng cây gạo, – thầy đồ chắp tay chấp thuận và lái câu chuyện. – Trưởng lão La Quý An đọc bài kệ, có câu rằng: “Đầu rồng ở Đại Sơn, đuôi rồng giấu ở chùa Minh Châu”. Cứ điềm ấy mà suy, thì mai sau thiên hạ sẽ thuộc về nhà Lý, – thầy đồ nghiêng mình trên tràng kỷ, gây sự chú ý cho Trứ, để câu chuyện thêm phần quan trọng.

– Thiên hạ đang chuyển từ họ Dương sang họ Ngô, ắt thế. Mai ngày, các cháu khô đầu khô sọ, được tiên sinh chỉ giáo mà mang tấm thân hèn mạt đỡ bệ rồng, thì cũng là phúc lớn cho dòng tộc rồi, chứ đâu dám viển vông… – Trứ bỏ lửng câu nói, nhướng mắt nhìn xa xăm.

– Ấy là chuyện bình thiên hạ, nhưng người tính không bằng giời tính, biết đâu…, – thầy đồ nheo mắt tinh quái, cười cười.

Cả hai nhìn nhau ý nhị, điều thiêng liêng tận đáy lòng, không dám nói ra. Lính hầu dâng tiếp tuần trà. Ngoài trời, cơn gió giải nồng, lay hàng cau xào xạc trước sân. Có tiếng sấm ì ầm vọng lại, báo hiệu sắp mưa. Thầy đồ xỏ guốc gốc tre, chống hèo tre, cúi chào quan Thứ sử ra về.

3.

Từ đó, cứ sáng sáng, anh em nhà Đinh lên đình học chữ với chúng bạn; rồi chiều chiều lại sang nhà thầy đồ học Binh pháp. Nhà thầy đồ cũng gần đình, mái lợp lá mía, ngoài hiên có tấm phên che, nom như cái bình phong. Dưới chân cột nhà thầy cũng có cái “gạc dai”, đặt trên mặt đá tảng. Ba thầy trò ngồi trên tấm phản gỗ lim, kê cạnh kệ sách và đồ tứ bảo văn phòng.

– Thời bình, người có chí cũng phải học Binh pháp; thời loạn, lại càng cần hơn. Nhưng không phải chờ đến loạn mới học, mà phải sôi kinh nấu sử chờ thời. – Thầy đồ dừng lời, nhìn động thái của mấy chú thiếu niên xem ra sao, mà lựa cách truyền thụ, thấy cả hai chăm chú, mới giảng tiếp, – vậy, Binh pháp là gì mà cần cho quân tử đến độ? Đó là câu chuyện dùng mưu kế trong chiến tranh, hơn nữa, không chỉ trong chiến tranh và quân sự thôi đâu.

– Thưa thầy, Binh pháp dài vắn ra sao, có dễ học không? – Điền bộp chộp hỏi.

Hoàn khẽ đá chân Điền, ra hiệu không được cắt ngang.

– Cái này, không thể sốt ruột được đâu trò ạ! – Thầy đồ ân cần khuyên, – căn bản, không phải là cái sự vắn dài, dễ khó, mà là cái sự thấu hiểu và vận dụng linh hoạt vào từng tình huống.

– Vâng, – Hoàn dạ dịp, ngỏng cổ chăm chú nghe.

– Binh pháp có mười ba thiên: Thủy kế, Tác chiến, Mưu công, Quân hình, Bình thế, Hư thực, Quân tranh, Cửu biến, Hành quân, Đại hình, Cửu địa, Hỏa công, Dụng gián.

– Người thông hiểu Binh pháp có thể làm được vua không, hả thầy? – Điền lại hồn nhiên hỏi.

– Từ người lính cho tới viên tướng, thậm chí cả vua cũng phải hiểu Binh pháp để chỉ huy và thực hành cho thống nhất. Trò hiểu không? – Thầy đồ mìm cười ngó Điền. – Còn đối với người có chí, thì được mọi việc, kể cả đứng giữa thiên hạ, nhất, – thầy đồ nheo mắt nhìn Hoàn, nhấn mạnh chữ “Nhất”, có ý khích lệ.

Nghe vậy, mắt Hoàn sáng lên, khuôn mặt rạng rỡ. Cậu sửa lại tư thế ngồi, bỗng cái cù quay trong túi rơi ra phản, lăn qua lăn lại như cũng biết đùa nghịch, khiến Hoàn tái mặt, nhưng thầy đồ ngơ đi.

– Nhưng không phải chỉ học nhõn một Binh pháp Tôn Tử mà thành được đâu. Ta phải bổ túc: nào là học Luận ngữ để biết cách trị thiên hạ; nào là, học Kinh Dịch để thông hiểu phép dùng chính trị, kinh tế, nhân sinh, thế sự; nào là, học Kinh Thư để hiểu văn hóa. Phàm là người

làm vua làm chúa thì phải am hiểu văn hóa, giáo hóa dân chúng, trị thiên hạ; bằng cách thu phục nhân tâm, biết dùng tình cảm vua- tôi, cha- con, chồng- vợ, anh em bằng hữu để quy tụ lòng người.

Hằng ngày, Hoàn vẫn nghe câu chuyện của bố các quan quân bàn về thế sự, cai trị, nên những lời thầy đồ giảng giải cũng dễ nhập tâm. Cái khó là phép tắc, từ chỗ phép tắc vững vàng, mới có thể ứng biến. Cái tài của tướng là ứng biến linh hoạt. Thầy bảo, cái này, ta cũng học mà địch cũng học, nhưng ai có tài ứng biến thì thắng. Cổ nhân dạy rằng: “Binh tất yếm trá”, nghĩ là, việc dụng binh thì tất nhiên phải dùng mưu mẹo, lừa địch nhân.

Dần dà, thầy đồ còn dạy cho hai anh em về thuật dự đoán theo bát quái, gọi là Bát quái thần toán tâm thuật, gieo quẻ nhanh, đoán theo Kinh Dịch, để biết cát, hung của một việc nào đó, mà cần ứng xử tức thời.

– Tỷ dụ, khi các trò dấy binh phò vua giúp nước, cần xem điềm tốt hay xấu, thì bất chợt nhìn thấy một hòn cuội chặn giấy như vầy, – thầy đồ chỉ lên bàn. – Ta lập quẻ thượng là một, rồi nhìn thấy một tờ giấy này, lại lập quẻ hạ là một nữa. Thế là, thượng một, trên hạ một sẽ ứng vào quẻ Càn. Càn nói rằng: trước mắt tuy tốt, nhưng vì nóng vội, muốn đạt nhanh, dễ dẫn tới bại. Vậy, phải kiên nhẫn chờ thời cơ. Trò Điền phải lưu tâm, có sự nhẫn, nghe!

Điền nghe vậy, chột dạ, lặng thinh.

– Con nhìn thấy trên kệ sách kia có những mười một quyển, thì tính sao? – Hoàn chợt hỏi.

– Nếu số lượng vật quá tám, thì phải trừ bớt đi tám, cho tới khi còn ít hơn tám mới dừng, đấy là quẻ thượng, – thầy đồ hài lòng về sự ham học hỏi của Hoàn. – Vậy, quẻ thượng của trò sẽ còn mấy?

– Thưa, còn ba. Quẻ hạ, con lấy luôn là một cái kệ sách.

– Thế thì ta được quẻ Đồng nhân. Theo quẻ này, vận đang vượng, được người khác tín nhiệm, có danh tiếng tốt, mọi việc dễ thành.

Nghe thầy giảng vanh vách mà không cần mở sách, hai anh em thán phục vô cùng, ngước nhìn như ngắm vị thánh sống.

– Nhưng gieo quẻ đã vậy, cũng cần xem lại đúng, sai thế nào cho chắc, trước khi bắt tay vào làm, gọi là xem quẻ biến, – thầy cẩn trọng giảng thêm.

– Quẻ biến là gì ạ? – Điền mau miệng hỏi.

– Quẻ biến là lấy quẻ thượng, cộng với quẻ hạ, cộng với thời khắc đang xem quẻ, rồi trừ bớt đi sáu. – Thầy nhắc lại, – nhớ là trừ bớt đi sáu, chứ không phải tám như ban nãy nhá. Ta lấy kết quả đó làm quẻ thượng.

– Bây giờ là giờ Tỵ, có phải là sáu? – Hoàn bấm đốt ngón tay nhẩm đếm, hỏi lại thầy.

– Phải, Tý là một, Sửu là hai, đến Tỵ đúng là sáu, cứ thế nhá, – thầy đồ khuyến khích.

– Vậy là ba cộng một, cộng sáu nữa là mười; lấy mười trừ sáu, vị chi còn bốn. Vậy là…

– Nhưng quẻ biến phải đảo âm thành dương, dương thành âm, – thầy dạy thêm.

– Vậy là bốn trên ba, – Đinh Điền nhẩm tính ra.

– Đấy là quẻ Phong. Quẻ này, nghĩa là vận thế đang rất thuận lợi, mọi việc đều trôi chảy, nhưng chớ chủ quan.

– Vâng, – Hoàn đăm chiêu.

Ngoài vườn, có tiếng chim sâu lích chích truyền cành trúc, nhưng Hoàn dường như không nghe thấy, chợt nói:

– Ở quê, con có đứa bạn tên Bặc, một lần đã nghe thầy giảng nghĩa về chữ “Bặc”. Chúng con hay theo bọn lớn cưỡi trâu, đánh trận giả. Vậy, có thể gieo quẻ như vầy được không, hay chỉ đánh nhau thật mới kiến hiệu?

Nghe vậy, thầy đồ cả cười, khiến lũ chim đang nhảy nhót ngoài vườn, tưởng có động, bay vụt đi, trả lại sự yên tĩnh. Hoàn ngồi ngay cán tàn, sợ thầy quở:

– Học một biết mười là cái sự vậy, – thầy đồ có vẻ hài lòng, khen ngợi.

Hoàn vui như mở cờ trong bụng, ngó nhìn đồng hồ cát, thầy đồ hiểu ý cho về sớm. Dưới bếp, bà đồ đang lịch kịch làm cơm chiều. Hoàn nhác thấy đĩa nhút, làm bằng sơ mít muối chua. Món này, chú lính hầu cũng đã biết làm, cả nhà ưa dùng.

 4.

Một chiều, khi gà đã lên chuồng, thì quan Thứ sử Đinh Công Trứ đột nhiên đến nhà thầy đồ, trong sự ngỡ ngàng của cả gia đình. Biết có chuyện hệ trọng, thầy đồ khoát tay cho vợ con lui ra, rồi rót bát nước chè xanh, mời.

– Có chuyện thế này, chẳng giấu gì tiên sinh, xin cái sự lành nhà lành cửa, – Trứ lo lắng nhìn thầy đồ.

– Có điều chi hệ trọng làm vậy? – thầy đồ cũng bồn chồn trong dạ, dò hỏi.

– Chẳng là, Kiều Công Tiễn đã ám hại Dương Đình Nghệ rồi, – Trứ thở dốc.

– Vậy sao? Hấn làm con nuôi mà dám nhẫn tâm với bố nuôi vậy sao?- thầy đồ hỏi dồn.

– Số là, kẻ thất phu đó, phao tin trả thù cho Khúc Thừa Mỹ, – Trứ cố nén giận, nói.

Không gian như lắng lại. Đàn muỗi bay vo ve trong các xó nhà. Thầy đồ gọi con châm đèn. Ba gian nhà chấp chới trong ánh sáng vàng vọt.

– Rối loạn thế này, quân Tống lại có cơ nhòm ngó, – thầy đồ tư lự. – Thời nào cũng phải giữ phương Bắc làm trọng.

– Chính thế, tôi mới phải đến thưa với tiên sinh, cho các cháu nghỉ học. Sáng mai, chúng tôi ra Châu Ái, hợp sức với Ngô Quyền, để tiến binh trừ họa cho xã tắc. – Trứ vội đứng dậy, cầm gói bạc, cúi đầu thi lễ, – mấy năm qua, nhờ tiên sinh dạy chữ, dạy Binh pháp, dạy làm người, mà hai cháu khôn lớn. Công lao này, cha con tôi xin ghi xương khắc cốt. Trước lúc chia tay, gọi là có chút lễ mọn, dám mong tiên sinh hạ cố…

Thầy đồ nhìn thấy đôi mắt quan thứ sử rưng rưng lệ, cũng nghẹn ngào nói:

– Tôi được đại quan ủy thác việc lớn, đấy là đại phúc. Cả đời dạy học, may ra mới có một vài học trò làm nở mày nở mặt mà thôi. Tấm lòng của đại quan, tôi xin nhận, – thầy đồ đỡ gói bạc, run tay. – Nhưng cũng xin gửi tặng trò Hoàn, mưu đại sự mai sau, coi như tấm lòng của kẻ tiện dân Châu Hoan này.

Hai bên đùn đẩy mãi, Trứ mới cầm lại một nửa gói bạc. Khi tiễn ra cổng, thầy đồ lưỡng lự hồi lâu, mới nói:

– Năm nay, Đinh Dậu (937), dám xin đại quan bảo trọng cho mới được.

Mãi đến khi bọn lính đến đón, hai người mới bịn rịn chia tay. Cơn gió mạnh thổi từ sông vào, khiến bụi tre cựa mình kèn kẹt như người khổng lồ nghiến răng giận dữ điều gì đó, nghe rợn người.

*

Bất chợt, trong thành lửa khói cuộn lên, tiếng la hét náo loạn. Trứ vào bọn lính hớt hải chạy về dinh, thì mới hay kho lương và kho vũ khí đã bốc cháy. Quan, quân, dân chúng cùng lao vào cứu hỏa, nhưng vô vọng.

Một mặt, Trứ cấp báo Ngô Quyền về sự hỏa hoạn bất đồ xảy ra, và cũng nói chuyện cất quân hợp sức đánh bọn phản tặc; một mặt, cho quan quân điều tra, khắc phục hậu quả vụ hỏa hoạn, rồi giao cho tướng tâm phúc giữ châu Hoan, đề phòng bọn Chiêm Thành lợi dụng cơ hội tràn ra cướp phá.

Bầu đoàn thê tử vừa kéo nhau ra đến Châu Ái, Trứ vội dẫn vợ con vào thành, thắp hương bái vọng nhạc phụ Ngô Quyền, rồi hai người bàn bạc việc cất quân đi hỏi tội họ Kiều.

Trong lúc chuẩn bị khởi binh, Quyền và Trứ cho các đạo quân thủy, bộ cùng luyện tập. Thế là anh em nhà Đinh cũng nhập bọn với đám lính, hết thủy lại bộ, đạo nào cũng ham.

Một hôm, hai anh em đang luyện tập với lính kỵ binh, thì gia nhân hớt hải đến báo tin dữ: “Đinh Thứ sử đã đột ngột lâm bệnh trọng”. Khi chúng về đến dinh, thì bố đã tắt thở mất rồi.

Nàng Đàm và hai con vật vã, khóc không còn tiếng. Quan quân ai nấy đều thương cảm. Đích thân Ngô Quyền đứng ra lo liệu tang lễ cho Thứ sử Đinh Công Trứ. Sau đó, hối hả cất quân đi đánh Đại La, hỏi tội Kiều Công Tiễn.

Ba mẹ con Đàm thị cùng bọn năm người hầu trở về Đại Hữu, nương nhờ chú Đinh Thúc Dự.

Nhà văn Vũ Xuân Tửu

                Chương ba

                Trở lại cố hương

1.

Sau khi Đinh Công Trứ qua đời, ba mẹ con Đàm thị cùng năm người hầu dắt díu nhau về quê hương bản quán, nương nhờ người chú là Đinh Thúc Dự.

Trở lại thôn Kim Lư, hai anh em Điền và Hoàn nhập bọn ngay với đám Bặc. Suốt ngày bơi sông Đại Hoàng, trèo núi Kỳ Lân(4). Lưng chừng núi ấy có vạt đá, hõm xuống như cái ngai đá khổng lồ. Hoàn thích ngồi trong cái ngai đó, nhìn xuống cánh đồng, ao hồ, vẻ ưu tư. Bầy trâu ọ ẹ gọi nhau, thì thũm lội nước. Bóng trâu đen điểm xuyết trâu lộc, lẩn khuất trong đám lau sậy.

– Gì vậy? – Bặc vỗ vai Hoàn, khẽ hỏi.

– Tao nghĩ, mai ngày, lấy trẻ mục đồng làm lính, lấy trâu thay ngựa, lấy núi làm ngai, chúng mình vùng vẫy từ thôn Kim Lư, ra làng Đại Hữu, nống cả châu Đại Hoàng xem sao, – Hoàn phơ lên, đầy vẻ hào hứng.

– Còn hơn thế nữa, Trường Châu bỏ không à?

Cả hai giật mình, ngoảnh lại xem ai, té ra là Điền. Hoàn cười cười, nói:

– Anh thì muốn bốc cả thiên hạ.

– Thế chứ học hành Binh pháp, với Kinh Dịch để làm mắm à? – Điền bỗ bã.

– Rồi chắc có ngày dùng đến, – Bặc an ủi, có ý dàn hòa.

– Anh em ta như ba chân kiềng, thiếu một chân là đổ, nên không bao giờ được xa nhau, – Hoàn nghiêm trang nói.

– Tao cũng thích thế, ba người như một, – Bặc gật gù tán thưởng.

– Tao cũng vậy, – Điền hồ hởi nói.

Cả ba nhìn nhau khoái chí, cười vang ngai đá, rồi cùng nhau xuống núi.

2.

Mấy hôm sau, Dự bảo anh em Điền, Hoàn:

– Chúng bay lên động Hoa Lư(5) chăn trâu cho chú, nhá!

– Ối giời, hàng trăm con trâu, mà chỉ có hai anh em thì chăn làm sao cho xuể? – Điền ngần ngừ.

– Chăn được trâu thì mới trông được người, – Dự ngoảnh sang Hoàn, nói đầy ngụ ý. – Hai thằng cứ lùa chúng vào Thung Lau(6), tứ bề là núi, khác nào cái chuồng bằng đá.

Đàm thị ngồi khâu, cũng hỏi góp:

– Quèn(7) vào Thung Lau, cao dễ bằng dăm, ba cái nóc nhà chồng lên nhau. Trâu leo làm

sao mà vào chuồng đá được, chúng bay?

– Đi kiểu chữ “chi”, bác không phải lo bò trắng răng, – Dự vê mồi thuốc lào, nạp vào nõ điếu, thủng thẳng châm lửa, vẻ mặt cau có, nói nhát gừng.

– Thì kệ chú cháu nhà chú với bầy trâu, – Đàm thị có vẻ phật ý. – Nhưng mà từ đây lên đấy cũng mất nửa ngày đường, rồi còn miếng ăn ngụm uống, rồi còn chỗ ngủ chỗ ngơi…

Tiếng điếu cày rít roanh roách, kêu ran cả năm gian nhà bằng gỗ tứ thiết, được dựng lại từ khi Trứ làm Thứ sử Châu Hoan. Dự khoan khoái, vêu mồm lên nhả khói, thấy câu chuyện đã hòm hòm, bèn vẫy vẫy cái đóm, gọi hai anh em lại gần.

– Đường xa hơn hai chục dặm(8), anh em chúng bay lùa trâu lên đấy, dựng lán mà ở. Cơm nước thì có mồm biết ăn, cái tay phải biết thổi nấu. Tao bảo người nhà mang nồi, niêu, gạo, muối lên cho. – Đoạn, chừng mắt nhìn xoáy vào hai đứa cháu đứng trước mặt, như thể xét kẻ trộm, – chớ có được suy chuyển con nào, chỉ được phép trâu mẹ đẻ nghé con, nghe chửa? Không ăn nhời thì roi kia, lằn đít. – Dự chỉ cái roi mây, treo góc nhà, thường nọc bọn người ăn kẻ ở ra trị tội, – nhớ chăn con nái cho cẩn thận, nhất là lúc có chửa. Cấm chơi trò chọi trâu mà hỏng đực của tao.

Điền lẽ lưỡi nhìn Hoàn. Hoàn thì như đang nghĩ tận đẩu tận đâu. Tiếng sóng sông Đại Hoàng giọi vào vách núi Kỳ Lân, nghe lúc xa lúc gần.

– Xem chừng nước lên, – Hoàn buột miệng.

– Đúng là, cái đồ bắt chấy mẹ chồng, trông bồ nông dưới bể, – Dự bực. – Thế, tao nói nãy giờ, ngang bằng nước đổ đầu vịt à?

– Thì chú dậy, cấm hư hao trâu đàn, rồi tự ăn tự thổi, vậy thôi, – Đinh Hoàn nói rẽ ràng.

– Ai chả biết thế, làm mới ra chuyện, còn nói thì… thầy bu mày giỏi hơn. – Dự nhìn mái gianh, ngắt cái cọng cỏ khô, xỉa miếng bã trầu giắt răng, nhớ tài biện bác của Trứ, chép miệng, – số người sao vắn thế?

Nghe vậy, Đàm mủi lòng, gài hờ mũi kim lên khăn độn tóc, lấy mu bàn tay quệt nước mắt.

– Anh chú chả may khuất núi, âu cũng là số giời. Tôi thì phận đàn bà đàn bụi. Thôi thì, tất cả nhờ ở tay chú dạy bảo cho các cháu nên người. Hồi nhỏ, tôi cũng được học đôi ba chữ, nhưng loạn lạc đâm ra rơi rụng cả, chả dạy bảo được con cái…

– Thương thì cho roi cho vọt, ghét thì cho ngọt cho bùi. Vả, chúng cũng có chữ nghĩa, chẳng đến nỗi nào. – Dự nhìn chị dâu ái ngại, – được, tôi sẽ mời thầy Lưu Phúc văn võ toàn tài, dạy thêm cho chúng nó chuyện binh pháp, kiếm pháp, thiên văn, địa lý…

Đàm thị nén tiếng thở dài, nghe Dự nói, xem ra mông lung lắm. Bỗng cái kim rơi xuống, sợi chỉ rối bời trong thúng khâu.

– Chúng bay mặc như phá, nước nâu chưa phai mà áo đã bục nách, quần cũng xổ đũng, – Đàm thị phàn nàn. – Chả như hồi trong Châu Hoan…

– Thế mới gọi là sa cơ lỡ vận, – Điền buột miệng, nói như cụ non.

– Anh không được chõ vào chuyện người lớn, – Hoàn bấm Điền, gằn giọng.

Dự nghe cả, nhưng không chấp, liền đứng dậy, rời tràng kỷ, nói với Đàm thị:

– Bác giắng nhà, tôi đi đằng này có tý việc. – Đoạn, quay sang Hoàn, – chúng bay rủ thêm bọn trẻ trâu lên đấy cho vui bạn vui bè, nhưng tự lo lương ăn.

– Thế, chúng nó chăn trâu không công à? – Điền bỗ bã hỏi.

– Thì, ở nhà cũng chạy rông khắp làng, chứ nước non gì mà rộn, – Dự cười khẩy. – Vào đấy, ối chỗ chơi.

*

Dự nhờ Bặc dẫn đường, lại sai Điền và Hoàn lùa đàn trâu rời làng lên Thung Lau. Lúc hợp quân dưới chân núi Kỳ Lân, Bặc bảo:

– Hoàn đi đầu nhá! Con trâu đầu đàn này, hiểu được tiếng người đấy.

– Tao mới giở về, nào có thuộc đường đâu? – Hoàn nhíu mày nhìn Bặc, tỏ vẻ khó hiểu.

– Mày cứ dẫn đầu, cầm bông lau làm cờ hiệu, coi như tiên phong. Tao vác sào đi kèm bên phải, coi như cánh hữu. Thằng Điền cũng vác sào mà le bên kia, làm tả tướng quân.

Cả bọn cười vang, tiếng vọng vào vách núi, nghe uôm uôm, khiến đàn dê trên núi cũng be lên, như đáp lễ. Gạo, muối được Dự cho người nhà chất lên lưng trâu, đi sau, như thể đám lính tải lương, làm hậu quân. Cả làng Đại Hữu cùng đổ ra xem cuộc lùa trâu chưa từng có.

Hàng trăm con hỗn loạn một hồi, rồi nghểnh cổ bước theo con đầu đàn, do Hoàn cầm thừng, đứng trên lưng, phất cao cờ bông lau, nom uy nghi như một vị chủ tướng. Hai bên sườn là Bặc và Điền, quơ sào hóp có buộc túm dây phất phơ ngư như ngù cây thương, để lùa trâu. Sào của Bặc buộc ngù đỏ, giả làm cây huyết đương thương. Còn sào của Điền đeo ngù đen, giả làm cây tố anh thương. Những con trâu bướng bỉnh phá ngang, bị Điền và Bặc giáng cho mấy đòn đau điếng, mới tuân phục bước theo đàn. Cái giống trâu cũng lạ, con nào cũng tranh đi đầu, nên cố chạy gằn, nhưng lên đầu rồi lại đủng đà đỉnh đỉnh. Hoàn phải ra roi, không cho con nào vượt mặt. Cả đàn trâu rùng rùng tiến bước, nom như một đạo kỵ binh ra trận, nhằm hướng Thung Lau thẳng tiến. Những cặp sừng cánh ná lấp lóa trong nắng sớm mai. Bụi cuốn theo bước chân trâu đi trên ruộng cạn và nước té ào ào khi lội đầm lầy. Đàn trâu bước đi, dưới sự chỉ huy của Hoàn và hộ tống của Bặc, Điền tạo nên một cảnh tượng hùng vĩ chưa từng có, ở chốn thâm sơn  cùng cốc này.

Ban đầu, Đàm thị chỉ cắt cử lão Bộc theo hầu hai anh em, nhưng suy đi tính lại, chốn rừng xanh núi đỏ, mà chúng lạ nước lạ cái, duy có Bặc là dân thổ công thôi, nên lại sai thêm hai chú lính hầu nữa, chỉ để lại nhà hai cô hầu gái, lo việc nội trợ mà thôi.

– Rõ con quan thứ sử có khác, nứt mắt đã biết điều binh khiển tướng như ai.

– Chuyện, tôi nghe là chúng đã học võ, tập luyện quân thủy, bộ, kỵ mã ở Châu Ái rồi kia mà.

– Thảo nào…

– Có thêm mấy chú lính kia, thế nào chúng cũng luyện quân ở Thung Lau cho mà xem.

– Có khi nên vương nên tướng ấy chứ.

– Lúc bà Đàm “ngồi chỗ”, ngoài núi thấy lá sen hiện chữ “Vương”.

– Đấy là miệng con ốc sên bò quanh, nhả dãi mà thôi.

– Ý giời thì có. Giời xui khiến muôn loài làm theo ý giời. Đấy, xem kìa, chúng lùa đàn trâu hàng trăm con, mà cơ nào đội ấy, y như thể hành binh.

Dân làng bàn chuyện rối tinh cả lên, mãi đến khi đàn trâu khuất nẻo xa, mới lục tục tỏa về những mái tranh nghèo, ven chân núi đá.

*

Cả bọn đến Thung Lau thì trời đã xế chiều, người và trâu đều mệt nhoài, cùng lăn ra ngủ. Trâu nằm giữa bãi, người trèo lên hang. Nửa đêm, lão Bộc hoảng hốt gọi cả bọn:

– Có động, dậy mau!

Dưới thung, đàn trâu chạy rình rịch. Tiếng hổ gầm lên man dại. Tiếng nghé kêu tuyệt vọng.

– Đốt lửa, mau! – lão Bộc hô to.

Lập tức, đuốc thắp sáng trưng cửa hang.

– Tất cả đồng thanh hô hét, gõ cây đuổi hổ, mau! – lão Bộc hối hả ra lệnh.

Tức thì, cả bọn hò la, gõ cây, đập đá vang động cả núi rừng. Dưới ánh trăng mờ, Hoàn thấy con hổ đang càm con nghé. Nghé con khuỵu chân, chờ chết. Bỗng con trâu đầu đàn lao bổ đến, húc con hổ ngã lăn cu chiêng. Thấy vậy, Hoàn dẫn cả bọn cầm đuốc, vác gậy hò la xông ra trợ chiến. Con hổ hoảng sợ, cúp đuôi chạy vượt qua quèn.

Người và trâu lại quây quần bên đống lửa. Hoàn ôm cổ con trâu đầu đàn, vẻ hãnh diện. Đầu trâu còn dính đầy lông hổ.

*

Hai cô hầu gái cùng Đàm thị trở về nhà.

Lần đầu tiên xa con, nàng cảm thấy bâng khuâng và lo lắng lạ thường. Cả một đàn trâu khổng lồ như vậy, sức thiếu niên sẽ lo liệu ra sao? Nàng đã dặn đi dặn lại lão Bộc và hai chú lính hầu, phải để tâm đến hai cậu là chính, chuyện chăn trâu chỉ là việc phụ, còn người còn của. Dù sao, cả ba cũng đều là lính tâm phúc của Đinh Thứ sử, lại võ nghệ cao cường, nên nàng cũng vững dạ phần nào.

Nàng đã từng đến Thung Lau rồi, nơi khỉ ho cò gáy, chỉ có chú Dự ma lanh mới nghĩ ra cách thả trâu trên đó. Tứ bề những núi là núi, khác nào tường đá, bên ngoài lại có đầm Cút(9), mênh mông những nước là nước. Nàng và bọn con gái Đại Hữu và Nga Mi(10), Vân Lung(11) đã từng lên đấy chơi hội. Chúng bạn cùng chèo thuyền hái sen, ngắt súng trên đầm ấy. Nghĩ đến Hoàn, bơi lội như rái cá, nên không lo chuyện sông nước, ao hồ. Nhưng nhớ đến rái cá, nàng lại chạnh lòng…

Hoàn có trí, sáng dạ, sinh ra đã ẩn chữ “vương”; không biết ông giời xui để bộ xương rái cá ấy để làm gì nhỉ? Nghe Bặc kể, Hoàn hay ngồi trên ngai đá trên núi Kỳ Lân. Chẳng nhẽ, mai ngày phát tích giữa chốn hoang vu này sao?

– Chúng con vào núi hái củi, – hai cô hầu dừa nhau thưa.

– Hai cậu, trước khi vào Thung Lau, đã lấy củi chất đầy chái bếp rồi. Vả, chú Dự cũng bảo, sẽ cho gia nhân lo việc bổ củi, chẻ đuốc. – Đàm thị cân nhắc cắt đặt công việc, – chúng bay thích vào núi, thì gọi dê mà vắt sữa.

Hai cô hầu rạ ran, quay đi. Cô nhớn ôm liễn, cô bé xách dao quắm vào núi, tìm đàn dê nhà mình. Tiếng con gái Châu Ái nghe líu ríu, lảnh lót như chim, nghe cũng vui tai. Mai mốt, cũng phải lo chuyện tác thành cho chúng nó với hai chú lính kia là vừa khéo. Chả gì, chúng cũng vùng Hoan – Ái với nhau, lại theo hầu nhà mình, lại dễ bảo ban. Nàng chạnh lòng nghĩ đến phận mình, nén tiếng thở dài…

3.

Đinh Thúc Dự đứng chân hào trưởng, cai quản cả vùng sách Bông(12) rộng lớn, dọc từ động Hoa Lư đến Đại Hữu, ngang từ núi Mã Can tới Sơn Lai. Xứ này, đồng ruộng cò bay thẳng cánh, núi đồi ngựa chạy chồn chân; bắc dựa núi cao, nam nhìn bể rộng, lại có sông Đại Hoàng chảy dọc, hợp với sông Đáy, đổ ra cửa bể Non Nước.

Tuy không được bôn ba chinh chiến như Trứ, nhưng Dự đã đi ngang dọc khắp vùng, Cổ Loa(13) cũng từng, Ái, Hoan đã trải. Nay ngồi ngẫm lại, Dự cảm thấy thương anh giai và lo nghĩ cho cháu ruột. Nhưng trong cái rủi, biết đâu lại có cái may. Xem chừng, đám trẻ trâu do thằng  Hoàn dẫn vào Thung Lau, có khi lại nổi đình nổi đám. Tướng mạo, chí khí và tài tụ tập bạn bầy của nó cũng thấy khác thường. Chị dâu từng kể, chuyện học hành chữ nghĩa, binh pháp của chúng ở Châu Hoan và luyện võ, tập trận ở Châu Ái, thì mới thấy anh Trứ không dạy con trong cung, mà trộn trong dân, hòa cùng lính, hẳn trông mong lập thân bình thiên hạ. Nhưng mình cũng phải để mắt tới mới được, kẻo chúng làm loạn, thì tan nát cả đàn trâu, quan trên mà hạch tội, có khi mình bị liên can, mất cả cơ nghiệp ấy chứ tưởng. Nhưng nghĩ đi lại phải nghĩ lại, mai ngày, giời cho nó làm vương làm tướng, thì mình cũng có phận nhờ, có khi đồng đất, núi đồi, cơ ngơi còn sang tận Trường Châu. Biết đâu, mèo mù vớ cá rán, lại trúng mệnh quan triều đình nhà Đinh, xênh xang áo mũ như ai. A, hà hà… Dự khoái chí, cười thành tiếng; đoạn, cầm ống điều, nạp thuốc, rít một hơi rõ dài, phô cả hàm răng đen đã phai màu hạt nhót.

– Có chuyện gì mà ông vui làm vậy? – Yên Khê cười cười, sán đến bên chồng.

– Đàn trâu! – nghe vợ hỏi, Dự nhả khói, nói nhát gừng, lảng chuyện.

Vợ Dự người cùng châu Đại Hoàng, cũng uống nước sông Đại Hoàng. Quê hương bản quán của nàng có suối Kênh Gà(14). Một hôm, Dự xuôi thuyền qua Kênh Gà, thấy người con gái yếm thắm cổ xẻ, ra suối kín nước, hình bóng ảo mờ trong làn khói nước nóng, nên phải lòng, rồi hỏi cưới làm vợ, âu cũng là duyên giời. Chính nàng cũng được sinh ra trong làn hương khói ấy, nên bố nàng đặt tên là Yên Khê. Yên Khê có nghĩa khói nước trên suối, nhưng nàng không mộng mơ như cái tên, mà nóng bỏng như suối, gầm gào như thác vậy.

Anh em nhà Dự là những người có chí khí, nổi danh khắp vùng Đại Hoàng. Nay nghe chồng nói, cái sự thỏa thê chỉ là đàn trâu đã được chăn dắt cẩn thận, thì trong lòng nàng lấy làm ngờ lắm. Nàng vừa hơ bản dao lên khói bếp, lấy muội bồ hóng bôi lại hàm răng của mình cho nhóng nhánh hơn, lại vừa dò ý chồng:

– Nghe nói, thằng Hoàn tụ bạ trẻ trâu khắp động trong sách ngoài, còn đông hơn cả đàn trâu rồi. Suốt ngày hò nhau tập trận, náo loạn cả Thung Lau, Thung Lá(15).

– Nói là Thung Lau còn có lý. Bởi lòng thung ấy nó rộng, lại bằng phẳng, lắm cỏ nhiều cây. Chứ Thung Lá chật hẹp như cái giếng nhà giời, thì đánh trận, chăn trâu cái nỗi gì? – Dự ra vẻ am hiểu địa hình địa vật, không ai bắt bịp được mình. – Nhưng tôi cũng đã có ý trông chừng cả rồi, – Dự lại nói vuốt, cho vợ khỏi phật lòng. – Vả lại, có lão Bộc với mấy chú lính tâm phúc từ hồi mồ ma bác Trứ cùng theo, tôi đã dặn dò kỹ lưỡng.

– Thì tôi nghe vậy nên nói vậy, để nhà biết mà định liệu, – Yên Khê thẽ thọt. – Lại còn nghe, chúng đóng bè chuối, bè tre, bè nứa mà tập thủy binh trên đầm Cút nữa đấy.

– Đầm Cút chó lội cụt đuôi, – Dự đứng bật dậy, gài lại búi tóc sau gáy, xóng nếp áo, nhăm nhăm bước ra cửa.

– Nhà định đi đâu đấy? – Yên Khê giật mình hỏi.

– Đầm lạnh lắm. Nước từ trong núi chảy ra mà, – Dự vẫn chưa dứt ý trong đầu về cái sự nguy hiểm của đầm Cút.

– Gượm đã nào, vàng mặt giời rồi, lên đấy về sao kịp, – Yên Khê ngăn chồng, – mà ngủ đêm Thung Lau, thì nào khí núi, nào hơi đầm, độc lắm.

– Nó mà đánh trâu xuống đầm tập trận, thì chết ốm cả, – Dự đăm chiêu, nhưng vợ gàn, nên không ra chuồng ngựa, lại với điếu cày, nạp thuốc.

– Tôi nghe nói, thằng Đinh Hoàn bơi lặn như rái cá. – Yên Khê lưỡng lự hồi lâu mới nói, – mà lúc bác Đàm lâm bồn, vừa lọt lòng đã biết bơi.

– Hài nhi nghều ngào trong bồn nước, cứ ngỡ biết bơi, lạ gì? – Dự nói, vẻ bất cần, không chấp.

– Khi xưa, tôi thấy áo xống bác ấy có dính đầy lông rái cá, với lá cỏ. Cái đận trẻ con nhìn thấy đôi giao long quần thảo trên bãi ven suối ấy mà, – Yên Khê lại ỏn thót.

– Thì đã làm sao? – Dự bực, nói át đi, nhưng sợ mếch lòng vợ, thì cơ ngơi của ông nhạc bên Kênh Gà sẽ tuột khỏi tay, nên vội xuống giọng, – nghĩ cho cùng, rái cá thì không đẻ ra người được. Chớ có nghe đồn bậy. Mai sau, nó nên ông nên bà, còn được phận nhờ.

Tưởng là Yên Khê chỉ nói riêng với chồng về chuyện Rái cá phủ Đàm thị, nhưng kỳ thực đã ỏn thót khắp làng trong xóm ngoài, cuối cùng là đến tai Hoàn. Một hôm, Hoàn hỏi nhỏ Bặc:

– Mày có nghe chuyện đàn bà bị rái cá phủ, mà sinh con người không?

– Trần đời, chưa thấy bao giờ. Tao hỏi các cụ cũng bảo không thấy. Mày đừng có tin mấy cái chuyện tầm phào ấy.

Thì ra, Hoàn cũng bán tín bán nghi, mỗi khi có ai nói đến “rái cá” là lại giật mình. Người ta vô tình khen: “Bơi lặn giởi như rái cá”, thì Hoàn không vui, lại bặm môi, vẻ tức giận…

 4.

Ngoài việc chăn trâu, Hoàn cùng bọn Điền, Bặc mò cua, bắt cá thì thũm suốt ngày, hết trong đồng lại ra sông Đại Hoàng(16).

Một hôm, cả bọn đánh lưới ở Giao Thủy(17), lớ ngớ thế nào, mà để lưới mắc dưới đáy sông, Hoàn phải thân lội xuống gỡ. Bỗng nhiên, vụng nước xoáy như hút cả người xuống đáy sông, khiến Hoàn cảm thấy chờn chợn, vội ngoi lên. Bặc thấy vậy, vội hỏi:

– Sao thế, mày?

– Y như thể có người túm chân mà lôi xuống vậy, – Hoàn bàng hoàng đáp, rồi bơi vội vào bờ.

– Lên ngay! – Điền hớt hải giục.

Cả ba đứng trên thuyền dòm xuống, thấy vụng nước có ánh hào quang tỏa rạng.

– Hẳn là báu vật, giời cho mày, – Bặc chắp tay say đít, gật gù, ra dáng cụ non.

– Ma dìm, chết mất ngáp! – Điền lo sợ, gàn.

Chính câu Điền nói, lại kích động tâm trí Hoàn. Kẻ nhát gan thì làm nên cơm cháo gì. Nghĩ vậy, Hoàn chụm hai cánh tay trước ngực, lao bổ xuống vụng nước, như kiểu chim bói cá. Hoàn mở mắt nhìn, thấy nước sông trong xanh, thỉnh thoảng lại có ánh hào quang tỏa ra. Từng đàn cá bơi lội theo vòng nước xoáy, như đèn cù. Hoàn quờ quạng lặn sâu hơn nữa, chợt thấy ở hốc đá ven bờ có miếng ngọc sáng chói, bèn cầm lấy và đạp chân xuống bùn, trỗi ngược trở lên.

Chờ mãi không thấy tăm hơi Hoàn đâu, Bặc đang thuỗn mặt lo sợ, Điền mếu máo tưởng chuyện chẳng lành. Chợt thấy Hoàn giơ cánh tay lên khỏi mặt nước, cả hai xúm vào kéo vội lên thuyền. Chẳng may, miếng ngọc va vào mũi thuyền, sứt mất một góc. Cả bọn cùng lật đi lật lại miếng ngọc, không biết của ai đánh rơi và dùng vào việc gì. Nhìn lại vụng nước, thì không thấy ánh hào quang nữa, nên cả bọn đoán già đoán non, ánh hòa quang chính là ở như miếng ngọc này tỏa ra. Hoàn nhìn miếng ngọc sứt, bỏ tọt vào cái giỏ đeo bên hông.

Trời nhá nhem tối, lại nổi cơn giông, gió mưa tầm tã, khiến cả ba vội chèo thuyền vào bến sông, lên chùa Giao Thủy, xin tá túc. Sãi chùa nhìn ba đứa trẻ khôi ngô, tuấn tú, lại thấy nói là cháu ông Dự, hào trưởng sách Bông, bèn cho vào trai phòng và đãi bữa cơm chay. Khi ba đứa ngủ say, sãi chùa tắt ngọn đèn dầu lạc. Chợt thấy ánh sáng từ cái giỏ tỏa ra, sãi chùa tò mò mở ra xem, té ra là miếng ngọc. Sãi chùa vội gọi cả ba đứa dậy, bảo lấy miếng ngọc cho xem.  Miếng ngọc xoay đi xoay lại trong bàn tay sãi chùa, ánh hào quang càng tỏa rạng. Hồi lâu, sãi chùa trỏ Hoàn, bảo:

– Ngày sau, cậu này hưởng vinh hoa phú quý không biết bao nhiêu mà kể, nhưng không bền.

– Sao vậy? – Điền lanh chanh hỏi.

– Miếng ngọc này là cái hốt của nhà vua, gọi là Ngọc khuê, nhưng hiềm nỗi, lại có vết sứt, đây này.

Sãi chùa thở dài tiếc rẻ, khiến ba đứa thở dài theo. Hoàn cầm miếng Ngọc khuê, bảo sãi chùa:

– Tự tôi chểnh mảng mà đánh vỡ đấy, – Hoàn thật thà thú nhận. – Vậy thì cho ông này!

– Ấy chết! – Sãi chùa giãy nảy, – giời cho ai thì người ấy được. Kẻ khác động vào, bị quở phạt như bỡn. Ta nói vậy thôi, chứ số vắn quân vương cũng hàng trăm năm ấy chứ…

– Vua nào lại đánh rơi hốt vậy nhỉ? – Điền ngây thơ hỏi.

– Đấy là của giời. Giời chỉ cho con giời, chứ vua nào lại đánh rơi hốt bao giờ? – Bặc ra vẻ hiểu biết. – Quan có hốt không? – Bặc quay sang hỏi sãi chùa.

– Có chứ, nhưng là loại hốt làm bằng ngà, hoặc xương. Khi tâu vua thì giơ lên, gọi là tấn

hốt.

– Mai ngày, tao có ngọc hốt thì lột da bụng mà nhét vào, dẫu gươm có chém cũng không thể rơi, – Điền nói như đinh đóng cột.

Cả ba đứa lại hớn hở cười, rồi rí rủm trò chuyện, hồi lâu mới lăn ra ngủ.

5.

Thỉnh thoảng, cả ba lại xuôi thuyền, lặn lội đến tận vùng đất Xám(18), rồi ngược Nho Quan(19). Chuyện Ngọc khuê rồi cũng phai mờ trong ký ức tuổi thanh niên. Mỗi bận đi qua vụng

nước xoáy hôm nào mò được ngọc khuê, mà lòng nguội dần đi, chẳng đoái hoài làm chi nữa.

Một bận, ba đứa đang bọc bùn nướng cá bên sông, chợt thấy một ông già cao gầy, răng trắng nhởn, đang chống gậy rảo bước, nhưng khi thấy vụng nước thì sững người, dừng lại. Hoàn tưởng ông ta đói, bèn mời cá nướng. Nhưng ông ta lắc đầu, xua tay và hỏi:

– Có cậu nào dám lặn xuống chỗ vụng nước xoáy kia không?

– Sao không dám? Đừng thách bà già ăn cốm, nhá. Đây, lặn rồi, – Bặc cười cười, trêu lão.

– Có thấy gì không? – lão hỏi dồn.

– Có, – Điền láu táu.

– Chỉ có cái hốc đá trống không thôi mà, – Hoàn vội nói át đi, sợ Điền khoe miếng Ngọc khuê.

– Hốc đá hình dạng thế nào? – lão già nhìn xoáy vào Hoàn.

– Hao hao giống cái đầu ngựa. – Hoàn hờ hững nói, nhưng ngẫm nghĩ rồi nói lại cho chắc, – chỉ hao hao thôi.

– Vậy hả? – Lão già hồ hởi hỏi và dặn, – đừng cho ai léo hánh đến chỗ này. Bận sao, lão đến, mang vàng bạc thưởng cho.

Lão đi rồi, bọn Hoàn cũng cho là chuyện tầm phơ mà thôi. Nhưng không ngờ, năm sau, lão trở lại thật. Lão cẩn trọng, mở tay nải, lấy ra một cái bình sứ bọc vải đỏ, bảo Hoàn:

– Mi hái nắm cỏ, bọc quanh cái bình này, rồi lặn xuống, đặt vào mõm ngựa đá. Ta sẽ trọng thưởng, – đoạn, lão lôi từ trong bọc ra mấy thỏi vàng, bạc sáng lấp lóa trong nắng.

Hoàn đưa mắt nhìn bọn Điền, Bặc đầy ngụ ý, rồi lẳng lặng ôm bình sứ, lặn xuống nước; bụng bảo dạ, chắc là huyệt quý, nên lão tao mới bươn bả qua lại như thế. Đến hốc đá, Hoàn lẳng bình sứ vứt ra ngoài, rồi ngoi lên. Lão già vội hỏi:

– Đặt xong rồi chứ?

– Rồi!

– Mõm ngựa ngậm lại không?

– Ngậm ngay tức thì. Tôi mà không rút tay nhanh, có khi bị nó cắn cụt tay rồi.

Nghe vậy, lão cười rổn rảng, thưởng vàng, bạc hậu hĩnh cho cả bọn và nói:

– Mõm ngựa đã ngậm lại, không ai cậy ra được nữa. Bây giờ, ta nói cho bọn mi biết, đấy là huyệt Nhân mã, ứng với chòm sao Thiên mã trên cao xanh kia. – Lão chỉ ngón tay lên trời, vẻ đắc ý, – ban ngày, không nhìn thấy đâu. Mai sau, con cháu lão phát tài, sẽ thưởng nữa. Bọn mi đừng cho ai mò mẫm ở đây nữa nhá, bảo là có ma, có dớp, sợ lắm.

Lão già ấy đi rồi, bọn trẻ lấy làm ngờ lắm; nhớ lại miếng Ngọc khuê và lời sãi chùa, Hoàn vội chạy về nhà, giật giọng hỏi Đàm thị:

– Bu ơi, xương cốt bố con để đâu?

– Cái gói, treo gác bếp ấy. – Đàm thị giật mình, hỏi lại, – mà lấy làm gì?

– Có lão già, hình dong như thầy địa lý, răng trắng nhởn, hẳn là người Hán, nhờ đặt cái bình xuống huyệt dưới đáy sông. Chắc là gio xương hài cốt, nhưng con lẳng ra ngoài, chạy về lấy xương cốt nhà mình.

Đoạn, Hoàn ôm bọc xương rái cá, ba chân bốn cẳng chạy vội ra bờ sông, rửa sạch bồ hóng bám trên bọc da rái cá, nhìn bốn phương tám hướng, tịnh không bóng người, liền vội hái nắm cỏ, quấn lấy bọc xương, rồi lặn xuống, đặt vào mõm ngựa đá. Khi Hoàn vừa kịp rút tay ra, thì mõm ngựa đá đã ngậm ngay lại. Tự dưng, thấy nước sôi lên sùng sục và tỏa hào quang chói lọi. Hoàn ngoi lên bờ, nhìn ánh sáng vẫn lan tỏa. Trên mặt sông, lũ tôm, cá nhảy lên như thoi đưa. Lưng trời, từng đàn chim ríu rít bay về núi Kỳ Lân, nơi sườn núi có hình cái ngai khổng lồ.

6.

Từ khi Hoàn nhặt được Ngọc khuê, lại thêm lời phán của sãi chùa, thì danh tiếng nổi như cồn, khiến ai nấy đều kính nể. Bọn mục đồng trong Thung Lau thì phục Hoàn sát đất. Một hôm, mấy anh em tâm phúc ngồi bàn chuyện kín với nhau. Bặc bảo:

– Chớ có nói cái chuyện miếng ngọc bị sứt nhá, rồi cũng cắt béng cái câu gở của sãi chùa đi, chỉ để đoạn bùi tai thôi.

– Nói thì làm sao, nào? – Điền ngây thơ hỏi lại.

– Đừng vạch áo cho người xem lưng. Các cụ dạy, đẹp phô ra, xấu xa đậy lại, – Bặc lừ mắt.

Hoàn nghe vậy, tủm tỉm cười, thầm phục cái sự nhìn xa trông rộng của người bạn đồng niên, lại đồng hương.

Bặc quay sang Hoàn, hỏi:

– Mày có biết hài cốt thân phụ mai táng ở Châu Ái không?

– Hồi ấy, tao còn bé, mà chuyện binh đao loạn cả lên. – Hoàn nghĩ, hẳn Bặc có dụng ý gì đó, nên hỏi lại, – mà mày hỏi làm gì?

– Đấy, cái chuyện thầy địa lý người Hán phán bảo đấy, – Bặc tỏ ra ưu tư.

– Nó cứ tưởng mình ham của, lại khinh cánh ta ngu hay sao? – Hoàn cười cười.

– Thế, mày có đặt cái bình hài cốt cho lão ấy không? – Điền thật thà hỏi.

– Hỏi thế mà cũng hỏi! – Bặc tỏ ra lõi đời, nheo mắt nhìn Hoàn.

– A, thế là tao hiểu ý thằng Bặc, hỏi về chuyện hài cốt bố tao rồi, – Hoàn ném cái nhìn ranh mãnh về phía Bặc.

– Tao hỏi các cụ trong làng rồi, – Bặc tỏ ra thận trọng. – Huyệt Nhân mã chiếu sao Thiên mã là sinh đế vương đấy. Nhưng giời chỉ cho con giời thôi. Thứ như tao với mày, – Bặc trỏ Điền, – đừng có mơ hão.

Nghe vậy, Hoàn lấy làm đắc chí, bởi thừa biết, Bặc ám chỉ ai rồi.

Bọn mục đồng chơi kéo co, hàng dây người chia hai phe, bám thắt lưng nhau, vừa hò vừa kéo. Mỗi khi tuột tay lại ngã bổ chửng, phủi quần đứng dậy, nhìn nhau cười hể hả. Tiếng mục đồng trong trẻo, hò hét suốt ngày, làm cho vách núi già ngàn năm, cũng ngỡ như trẻ lại tuổi thơ ngây, thung lũng lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười. Trẻ thơ là hoa núi.

Chợt ngoài quèn có tiếng huyên náo. Một chốc, lão Bộc vào báo:

– Bẩm cậu chủ, có lão già nom hình dong như thầy địa lý người Hán, bảo là muốn gặp chàng thanh niên năm trước đã giúp việc đại sự.

– Quái lạ, sao lão biết ta ở đây nhỉ? – Hoàn lẩm bẩm, – nhưng mà có việc gì thế?

– Lão ta cứ úp úp mở mở, bảo gặp ân nhân mới nói ngọn ngành.

– Làm thế nào bây giờ? –  Hoàn hỏi cả bọn.

– Cứ cho nó vào, có khi được thêm mấy thỏi vàng nữa, cũng nên. – Điền bỗ bã nói.

– Mày cứ lau chau, – Bặc nẹt. – Phải hỏi lão Bộc xem có kế gì không?

– Phải, – Hoàn như sực tỉnh, nhớ lời phó thác của bố và chú đối với lão Bộc.

– Theo ngu ý của lão, thì cậu cứ ra gặp, nhưng ở ngoài quèn. Đừng cho nó vào bản doanh, phòng gian tế.

Hoàn nghe phải, bèn cùng lão Bộc và Bặc, Điền kéo nhau ra ngoài chòi, bên đầm Cút, để gặp lão thầy địa lý người Hán.

– Từ khi được Động chủ giúp việc đại sự, con cháu nhà ngộ phát tài, phát lộc. Nay xin được tạ ơn như lời ước hẹn, lão ta chắp tay, cúi đầu thi lễ, vẻ trịnh trọng.

– Hỏi khí không phải, sao ông biết tôi ở đây? – Hoàn mạnh dạn, làm chủ tình huống.

– Danh tiếng quý nhân nổi khắp chốn cùng nơi. – Lão ta nheo mắt cười tinh quái, – ai được Ngọc khuê nào?

– Chúng tôi bơi lặn trên sông, trên đầm suốt ngày ấy mà, việc nhỏ ấy, có gì mà lão trượng phải khó nhọc làm vậy? – Hoàn tránh câu hỏi về ngọc khuê, khiêm nhường nói chuyện đặt bình sứ năm trước.

Lão thầy địa lý người Hán, nhìn như xoáy vào Hoàn, nghĩ bụng, thằng này, tướng mạo phát đế vương, nom vượng hơn năm trước, hẳn nó đã tráo đổi bình hài cốt của ta rồi. Nghĩ vậy, hắn lựa lời:

– Ngộ nghe dân chúng nói, phụ thân Động chủ đã quy tiên ở Châu Ái, những mấy thu rồi. Chẳng hay, Động chủ có ý cải cát, thì ngộ xin tìm cho huyệt đế vương.

– Tôi chỉ là kẻ chăn trâu, đâu mơ đến chuyện vương tướng. Vả, bố tôi mất từ khi tôi còn để chỏm, có hay biết gì đâu, con trẻ thơ ngây mà, – Hoàn có ý khước từ.

Lão thầy địa lý người Hán xin gặp riêng Hoàn và nói thầm vào tai:

– Vậy thì lại phiền Động chủ, – lão ta lấy trong tay nải ra đôi đoản kiếm, ở chuôi có sợi xích sắt chằng vào nhau. – Động chủ treo đôi kiếm này vào cổ thạch mã, để cho thần hộ vệ chống kẻ phá huyệt, phòng cái sự yểm bùa phản lại, thì đời con cháu nhà ngộ mới được hưởng phúc dài lộc lớn.

Nói đoạn, hắn lại dâng một bọc đầy vàng bạc, rồi bái biệt. Hoàn chỉ nhận đôi đoản kiếm, từ chối vàng bạc. Điền thấy hai bên đưa đẩy mãi, bèn nhanh tay thu nạp cả bọc.

*

Nghe tin thầy địa lý người Hán sang tặng Động chủ hai thanh đoản kiếm, để trừ tà lập nghiệp, thì trẻ mục đồng tìm đến Thung Lau ngày càng đông đàn dài lũ.

Lão Bộc và hai chú lính phải giúp Hoàn chỉ huy đám trẻ chặt cây, cắt tranh, dựng lán tránh sương gió, mưa nắng và rèn cặp cho chúng vào quy củ. Chuyện lo ăn lo uống cho đám trẻ cũng là mối lo thường nhật. Lão Bộc tính với hai chú lính, về việc phá ruộng, phát nương để cấy lúa, trồng rau, tự túc lương ăn. Bọn mục đồng nghe vậy, bảo nhau:

– Tưởng lên đây chỉ ăn với tập trận, luyện võ; chứ cấy lúa, đánh cá thì về béng nhà mà làm.

– Thì vừa làm ruộng, vừa tập tành, không thích à?

– Có mà nhọc gấp đôi, đứa nào thích mệt nhọc, chứ tao không thích cái việc chân lấm tay bùn.

Mấy toán rục rịch bỏ về, Hoàn biết chuyện, vội máy lão Bộc và hai chú lính, lờ chuyện phát nương, phá ruộng đi, kẻo vãn quân thì hại về thực lực.

Trước khi bọn Hoàn đánh trâu lên Thung Lau, Đàm thị đã bí mật trao cho lão Bộc túi vàng bạc, mà thầy đồ Châu Hoan đã gửi lại Trứ, rồi dặn cách thức chi tiêu cẩn thận. Lương ăn, Thúc Dự chỉ cấp cho năm người, gồm hai anh em nhà Đinh, Bặc, lão Bộc và hai chú lính, còn bọn mục đồng phải tự túc. Nay bọn trẻ đến như trẩy hội, lão Bộc phải bàn với bọn Hoàn, bảo bọn trẻ phải góp lương ăn và vật dụng. Thế là chúng về xin bố mẹ, được cơ man nào là gạo, muối, rồi thì gà, vịt, cho đến chiêng, trống và đồ binh khí giáo mác, cung tên… Mỡ nó rán nó thế mà hay, Hoàn nghĩ bụng.

Lão Bộc và hai chú lính lại phải giúp Hoàn bày trận, luyện quân.

Bài học đầu tiên là mài kiếm. Có đứa chỉ quèn quẹt mấy nhát đã nghênh ngáo, trực bỏ cuộc. Có đứa muốn sắc nhanh nên mài vát, khi chém chối tay. Lão Bộc phải bảo chúng mài vát đều, cho lưỡi kiếm sáng loáng, mà chém ngọt, mỗi khi cần vung lên là đầy uy dũng. Bọn trẻ không chỉ học cách mài thanh kiếm, cho sắc, mà còn rèn tính kiên trì, nâng niu yêu quý thanh kiếm của mình, có đứa kêu:

– Cái lá chắn chuôi kiếm vướng lắm, mài cứ quệt vào đá mài.

– Cái đấy để chắn, khi đâm, tay ta không bị tuột vào chính lưỡi kiếm của mình, – lão Bộc bảo. – Phàm cái gì sinh ra trên đời, cũng đều có giời đất chứng giám cả.

Một dãy trẻ trâu ngồi dạng chân bên bờ suối, vừa mãi kiếm, vừa trêu chọc lẫn nhau, nom rất vui mắt. Rồi đây, chúng sẽ thành tráng sỹ, vung kiếm ra sa trường. Cuộc đời chinh chiến bất ly đao kiếm, mài kiếm phải là việc thường ngày. Lão Bộc và hai chú lính đôn đốc, hướng dẫn rất chi là tỉ mỉ, để rèn chúng biết cung cách, lại đưa vào khuôn khổ kỷ cương.

– Kiếm non mài nhanh nhưng chóng cùn, kiếm già tuy mài lâu nhưng sắc bền, – lão Bộc bảo.

– Làm sao mà biết được, nom thấy lưỡi kiếm nào cũng giống nhau cả, – có đứa thắc mắc.

Đặt lưỡi kiếm lên móng tay cái, kéo nhẹ, thấy mắc là non, thấy trơn là già; hoặc là, đặt lưỡi kiếm lên mái tóc, kéo nhẹ, cũng cảm thấy như thế.

Lão Bộc vừa nói, vừa động tác thị phạm, khi nhìn lưỡi kiếm kéo rê trên mái tóc, bọn trẻ trợn mắt, lè lưỡi, vẻ kinh hãi.

– Làm đi! – Lão Bộc giục.

Bọn trẻ miễn cưỡng thực hành cách nhận biết lưỡi kiếm của mình. Mấy lưỡi kiếm non, lão Bộc bảo bọn trẻ chất củi, nung đỏ thanh kiếm, rồi tôi vào nước muối.

– Rồi đây, chúng bay phải học cách làm bao kiếm nữa đấy nhá, – chú lính bảo.

– Làm chi cho vướng? – Chúng thắc mắc.

– Đấy là cái thứ bảo vệ lưỡi kiếm, cũng chính là bảo vệ chủ của nó. Chú lính lại giảng giải.

– Nguyên cái chuyện rút ra đút vào cũng cùn lỷ cùn lì đi rồi, lại mất công mài.

– Hai thanh vỏ bao gắn bằng hồ gạo, không hại lưỡi kiếm. Bên ngoài bao có dây đai cho chặt. Tuy chặt mà lỏng, thì mới dễ rút và không bị gỉ; tuy lỏng mà chặt để khi ta chạy, thanh kiếm mới không kêu lách cách.

– Khó xơi, chứ không phải dễ như cưỡi trâu, – bọn chúng lại xôn xao bàn tán, vẻ lo lắng.

– Nhưng các chú lính nói thế, để chúng bay hiểu về khí giới thôi. Chứ đến lúc bẫy chẫy chân tay làm được ấy à? Còn tốn hàng bồ thóc, – lão bộc tỏ ra xuề xòa.

Mỗi buổi sớm, khi tan sương, hai chú lính lại dẫn bọn trẻ lên rừng chặt hóp làm giáo, đẵn tre vót tên, chặt gỗ làm nỏ. Rừng già, tre nứa rợp đất, nhưng phải tìm chọn những cây tre già đã đóng hoa ở gốc, chặt lấy đoạn mau đốt, dài chừng xải tay, chẻ ra làm cánh nỏ. Thân nỏ làm bằng gỗ hồng bì, chỗ đặt lẫy lên dây phải khảm miếng sừng trâu cho bền chắc. Dây nỏ xe bằng sợi gai. Bọn trẻ xe ngược từ bàn chân lên đầu gối, bị sợi gai cuốn vào lông chân đau ứa nước mắt. Lão Bộc cười bảo:

– Chúng bay phải xe từ trên đầu gối xuống, kẻo rụng hết lông chân, con gái nó không mê.

– Chả nhẽ, con gái lại mê lông chân à?

– Quân tử lông chân, hiểu chưa?

Chúng cùng à lên vui vẻ. Lão Bộc lại dạy chúng cách lấy sáp ong, chuốt dây nỏ cho săn, rồi mới buộc lên hai đầu cánh nỏ.

– Ấy, cánh nỏ phải lắp bụng quay ra phía trước, thì lên dây mới có sức bật mạnh.

Có đứa lên dây nỏ, mất đà, ngã lăn ra bãi cỏ. Mấy chú lính lại phải bảo cách đạp chân vào gốc cánh cho cân, rồi tì bụng, kép dây. Đoạn, bảo chúng chọn những ống tre dài và thẳng, chẻ ra mà vót tên. Mỗi cái tên dài bằng cả cánh tay.

– Dài quá, ông ạ, – chúng thắc mắc.

– Tên dài mới bay xa. Muốn tên bay xa thì đầu tù, thân thót đều hai bên bụng, như thể hông trâu đói cỏ là chuẩn, chứ không ai vót tên tròng trùng trục như ống trúc, – lão Bộc ôn tồn nói.

– Giống như con cá đã bị mổ bụng moi ruột, – Điền cười cười châu vào.

– Phải, cậu này nhọn việc, – chú lính vỗ vai khen Điền.

– Cái này bị cong, mà nắn mãi không thẳng ra được, – Bặc cầm cái tên cằn nhằn.

– Chúng bay đốt một đống lửa, vừa sưởi cho tan giá, vừa lấy gio nóng lùi mũi tên bị cong vào đấy, như thể nướng khoai. Thế, thế… rồi mang ra nắn, thì có cong như cái b. giời cũng thẳng dẵng cho mà xem, – chú lính lại bảo.

– Chớ nói nhảm! – Lão Bộc lừ mắt, nạt.

Nghe vậy chú lính nói bậy, bọn mục đồng lại tỏ ra khoái chí, cười ngả ngớn.

Hai chú lính dạy bọn mục đồng cách đứng bắn, quỳ bắn, nằm bắn. Lẫy nỏ “pựt” một phát, mũi tên lao vút đi, cắm phập vào hồng tâm màu đỏ, vẽ trên tờ giấy dán vào thân cây chuối, cách xa hàng trăm bước nhảy, khiến chúng nhảy cẫng lên hoan hô, reo hò vang cả thung lũng.

Trong khi đó, Điền ngồi dưới chân núi, kỳ cạch đẽo hòn đá to như quả bòng, để làm chùy. Xung quanh quả bòng bằng đá ấy, Điền xẻ múi dứa chéo nhau để tạo mũ gai, rồi khoét lỗ tra cán tre, dài cả xải tay. Ròng rã hàng tháng trời, quả trùy mới hoàn thành. Điền ngắm nghĩa công trình của mình, đầy vẻ kiêu hãnh. Bọn trẻ tròn mắt thán phục và thèm thuồng.

– Tôi phục cậu, tính nóng như lửa mà kiên trì chế tác được chùy đá, quả là vô song! – Lão Bộc khen nắc nỏm.

Điền cầm chùy vung lên, xoay vòng, đập “chát” một phát vào gốc cây nghiến khô. Gốc nghiến bị bay một mảng, khói bốc khét lẹt, khiến ai nấy đều kinh sợ.

Có chùy đá rồi, Điền lại chế thêm bộ côn tử mẫu, gồm một khúc côn cao tới nách, dùng dây xích sắt nối với đoạn côn dài bằng cánh tay. Đinh Điền vung côn khỏa tít, che kín thân thể. Chú lính trầm trồ:

– Múa côn thế kia, mưa cũng chẳng sợ ướt áo.

Điền phơ lên, vung côn bổ một phát vào thân cây chuối và giật mạnh, khiến cây chuối đứt lìa.

– Ối giời, thế mà bổ vào người thì đứt cổ như bỡn, – bọn trẻ kinh hãi, thốt lên.

Từ đấy, lúc nào Điền cũng vác chùy trên vai, giắt côn sau lưng, khệnh khệnh bước đi đến đâu, bọn trẻ dạt ra đến đấy. Thỉnh thoảng, bọn trẻ lại chơi trò đấu vật, lần nào Điền cũng thắng. Một tay, cầm dải khố đối phương nhấc bổng lên, khiến ai cũng vì nể Điền, bởi  sức vóc hơn người.

*

Hai chú lính cầm thương đứng ra giữa bãi, làm mẫu từng động tác, bọn trẻ bắt chước làm theo.

– Đây là cây thương, – một chú lính giơ cây thương lên lắc lắc cho cái ngù đung đưa.

– Sao mà giống cây giáo búp đa thế nhỉ? – bọn trẻ thắc mắc.

– Tuy hao hao giống nhau về hình dáng, nhưng khác kích cỡ. Thương lớn hơn, dài hơn. Loại thương dùng cho bộ binh dài bảy bộ, nghĩa là cao một đầu một với, – chú lính dựng thương, với tay lên đo. – Còn loại dùng cho kỵ binh dài gấp đôi. Có thế, ngồi trên lưng ngựa mà thọc sang địch nhân mới thấu. Trong tay lão Bộc là cây giáo, – cả bọn hướng về lão Bộc đang giơ cao ngọn giáo. – Mũi giáo hình búp đa, có khi làm bằng gốc tre đực, có khi bằng đá, bằng đồng, nhưng phần đa làm bằng sắt. Mũi giáo nhọn, thửa răng cưa hai bên cạnh, có cái thêm ngạnh nữa. Nhưng mũi thương thì khác, nhìn đây, – bọn trẻ lại nhìn về chú lính. – Mũi thương hình hạt kiều mạch, sống cao, đầu nhọn, có rãnh máu.

– Rãnh máu, – Bặc nhíu mày, vẻ khó hiểu.

– Phải, rãnh máu có tác dụng, khi ta đâm địch nhân, thì máu phun qua rãnh này, làm cho trơn rễ rút, bởi khi hồi thương về cũng mạnh như dây kéo vậy, – chú lính làm động tác dứt khoát.

Cả bọn à lên, vẻ thú vị.

– Tua thương, có tác dụng ngăn máu địch nhân, không chảy xuống tay ta được. Nếu tay dính máu, sẽ trơn nhẫy, khó khiển thương theo ý mình.

– Cứ tưởng làm cho đẹp, – Bặc lại nói.

– Cũng là đẹp nữa, nhưng chủ yếu màu tua để phân biệt loại thương. Thương có tua đỏ, gọi là huyết đương thương. Thương có tua đen là tố anh thương. Tay ta cầm là…

– Huyết đương thương, – bọn trẻ đồng thanh.

– Còn chú kia cầm là…

– Tố anh thương, – bọn trẻ lại cùng nói.

Hai chú lính xuống tấn và giảng:

– Thế tứ bình là như vầy, đỉnh bằng, – chú ta đưa bàn tay lên đầu, mắt nhìn thẳng. – Vai bằng, – lại vỗ xuống vai. – Chân bằng, – chỉ đôi chân đang xuống tấn. – Và thương bằng, gốc thương luôn dính sát vào hông. Kình lực mạnh khi đâm xuất phát từ hông. Nhớ nhá!

– Phải, – bọn trẻ lại đế theo.

Rồi hai chú lính, kẻ đâm người gạt, kẻ nhử người đỡ cho chúng xem.

– Đâm thương như giao long, có hư thực, có kỳ chính. Này, – chú lính vẫy Bặc. – Thử cái.

Bặc đỏ nhừ cả mặt vì xúc động, nhảy vào, cầm cây huyết đương thương, đứng thế tứ bình. Chú lính vỗ tay, khen ngợi.

Quân mục đồng chia làm mấy toán, luôn phiên nhau, toán thì chăn trâu cắt cỏ, toán thì cưỡi trâu giao chiến bằng giáo dài, toán thì bắn cung, bắn nỏ, toán thì tập cứu chữa bọn bị thương, chôn cất kẻ tử trận, cứ y như thật vậy. Giao hẹn, cứ nghe hiệu lệnh mà giáp trận. Nghe trống phải tiến lên. Nghe chiêng thì lui về. Đại quân Cờ Lau trú trong Thung Lau. Địch quân ở Thung Lá. Hai bên bí mật hành quân leo núi, vượt đầm Cút mà giao tranh.              Trên đầm Cút, bọn chúng đóng bè làm thủy binh, cũng chia hai phe mà giao chiến. Ngày ngày, tiếng trẻ hò la, tiếng chiêng, tiếng chống náo loạn cả một vùng. Bọn lính đánh trống truyền lệnh tấn công đứng ở gò cao, gọi là Gò Trống. Chỗ đánh chiêng thu quân gọi là Gò Chiêng. Nơi giấu cơm nắm tiếp tế cho lính tập trận, gọi là Gò Nắm Cơm. Chốn dừng trâu, gọi là Đồi Họ. Lán trú quân, gọi là Nội Chòi. Ruộng hội quân, gọi là Đồng Quân… Hoàn cứ đặt tên như thế, như thế cho quân lính dễ tìm nhau.

Hai chú lính còn truyền dạy cách thức chế ra loại cung bắn giáo, giàn ném đá và máng hất quả cầu lửa, để dùng vào việc công thành. Trò này, khiến Hoàn và Bặc cũng mê tít. Bọn mục đồng tham gia chế tác và luyện tập cũng rạo rực trong người, chỉ mong sao chóng có chiến trận để trổ tài tác chiến, khoe vũ khí lợi hại của quân Cờ Lau.

Nhìn vào cái cung bắn giáo khổng lồ, lắp trên giá đỡ, Điền bảo:

– Cũng y như cung bắn tên, chẳng qua là thay tên bằng giáo, thay người bằng giá, thay cánh nỏ bằng nửa cây tre mà thôi.

– Bắn thử mới khiếp chứ, mũi giáo xuyên qua năm cây chuối, thay cho một ngũ địch nhân, – Bặc trầm trồ.

– Nhưng chúng có sắp hàng chờ ta phóng lao đâu? – Điền hỏi kháy.

– Trong đám quân trăm vạn như bầy gà, vịt, ta bắn phứa đi, cũng xuyên đủ, khác nào xiên chả nướng. – Bặc tỏ ra thích thú, nhưng cũng lộ vẻ phân vân, – chỉ có điều, hơi cồng kềnh.

– Chính cái giàn ném đá, hất cầu lửa kia mới cồng kềnh kìa. – Điền chỉ sang bên cạnh, – nào là giá đỡ như tòa tháp, cần bật thì bằng cả cây tre đực, dây kéo thì rút gân cả đàn bò. Nặng đấy, may sao có bốn bánh gỗ mà đẩy.

– Bắn xa không? – Bặc hỏi.

– Loại đá bằng củ chuối, thì chỉ dùng một cần bật. Loại đá bằng cái thúng khảo thì phải ba cần bật ghép lại với nhau. Chỉ nhọc bọn lính kéo cần mà thôi, – lão Bộc trình bày rành rẽ.

– Thế thì, phá cổng thành ngon như đập trứng vậy, – Hoàn hồ hởi. – Khi thay đạn đá bằng cầu lửa, thì khác gì sao băng, nhề?

– Cái này phải ém nhẹm, không phô phang, để lúc lâm trận mới có lợi thế bất ngờ, – lão Bộc tỏ ra sành sỏi.

– Nhưng to quá, khiêng gãy xương sống, – Bặc phân vân.

– Trâu kéo, – Hoàn ra vẻ hiểu biết.

– Đường xá vừa bằng cái lỗ mũi, kéo sao đặng? – Bặc lo lắng.

– Khi hành quân, ta tháo ra, cho quân khiêng vác, trâu thồ, đến trận địa mới lắp ráp vào mà hành sự, – chú lính trình bày. – Đây, toàn mộng thắt như lắp xà vào cột nhà, với lại chốt tre, kiểu như con xỏ gá vì kèo thôi mà.

– Mấy chú cũng bợm ra phết! – Hoàn khen.

– Trò này, bọn Hán đã dùng từ đời tám hoánh, nhưng cũ người mới ta, – lão Bộc tâm đắc.

Đêm đêm, chúng cũng cắt đặt canh gác trên các quèn và ngả đường vào thung, y như thể chiến binh. Từng đàn trâu được dồn vào Thung Lau trú đêm. Những con trâu đực nằm vòng ngoài, bên trong là trâu cái và nghé con. Hoàn thấy vậy, bèn chỉ cho Bặc về cách tự vệ của loài cầm thú, mà phép dụng binh của quân Cờ Lau cũng không thể bỏ qua. Hoàn còn truyền cho Bặc về Binh pháp đã được học, nào phép hành quân, nào phép quân tranh… Bặc lại chỉ cho  Hoàn về địa hình, địa vật quanh vùng Đại Hoàng, sang tận Trường Châu(20), ra tới cửa bể Non Nước(21), xuống tận cửa Thần Phù… Chẳng bao lâu, cả hai thông thạo binh pháp cũng như hình sông thế núi, tỏ tường đường bộ, đường thủy, xem chỗ dựng thành, lập lũy, tính nước tấn công, liệu bề phòng thủ. Lão Bộc và hai chú lính cũng hăng say luyện tập cùng đám trẻ, trên dưới một lòng, chủ tớ hòa hợp.

*

Đại bản doanh đóng trong Thung Lau, vách núi dựng thành, địch không công phá nổi. Đường vào thung phải vượt qua quèn. Quèn là một cái đèo cao, lại có lính canh, động là khua chiêng, đánh trống ầm ĩ, ai nhát gan yếu bóng vía là không dám qua lại.

Nhân một hôm, Điền lật chiếu trên sạp Hoàn, thấy đôi song kiếm, chợt reo lên:

– A, báu vật của lão Hán! Nhưng lại nối dây xích vào nhau thế này, thì chém làm sao được nhỉ?

– Ấy, chớ nghịch. – Hoàn giật vội lại, – sắc lắm, đứt tay như bỡn.

– Nó buộc xích vào nhau để làm gì nhỉ? Chắc hẳn chỉ để treo vào cái gì đấy thôi? – Điền thắc mắc.

– Thiên cơ bất khả lộ, – Bặc cướp lời, có ý bênh che cho Hoàn.

Lúc này, Hoàn mới nhớ việc phải treo đôi song kiếm vào cổ ngựa đá dưới sông, theo lời lão thầy đại lý người Hán dặn. Chắc nó không biết mình đánh tráo, nên mới nhờ vả việc này chứ. Hoàn đắc ý, nghĩ bụng, thôi thì tương kế tựu kế, ta sẽ treo đôi song kiếm này vào cổ ngựa đá cho mà xem. Nó chắc mẩm bảo vệ phúc lộc cho nó, ai dè lại bảo vệ cho ta. A hà hà… Việc đánh tráo bình hài cốt, Hoàn chỉ làm một mình, đến như Bặc và Điền cũng không hay biết, còn lão Bộc và mấy chú lính lại càng không biết gì. Khi quân mục đồng tụ họp về đông đàn dài lũ, luyện tập ngày một thành thục, không kém gì lính trận, thì Hoàn mới tin chuyện Ngọc khuê và thạch mã.

Nhân lúc tối trời, Hoàn giắt đôi song kiếm sau lưng, cưỡi trâu đầu đàn, lặng lẽ ra bến Thạch Mã. Con trâu hục hặc, có vẻ miễn cưỡng cất bước. Bầu trời đầy sao như một chiếc bánh đa vừng khổng lồ, gió hây hây thổi. Thế mà bỗng dưng, mây đen kéo về mù mịt, giông bão nổi lên, sấm chớp đùng đùng. Hoàn tất tả lột áo, toan cầm đôi song kiếm, nhảy xuống sông, thì con trâu cứ cắn lá tọa cạp quần lôi lại. Hoàn phải trừng mắt, gắt lên: “Ngoan nào!”. Cố lặn xuống mấy lần mà không thành, tưởng như có quân hà bá đẩy lên, Hoàn lấy làm lạ, hay bữa nay ta mệt quá chăng? Bởi vậy, lại lấy hơi, quyết chí ngụp xuống. Làn nước tối mò, thỉnh thoảng mới có ánh chớp chiếu xuống, nhưng Hoàn vẫn mò mẫm lần được tới nơi và treo đôi song kiếm vào cổ ngựa đá. Ô, mà sao cu cậu như vùng vằng không chịu nhận. Dòng nước xoáy, khiến đôi thanh kiếm cọ lách cách vào cổ ngựa. Lúc này, tưởng như tức thở, Hoàn vội ngoi lên. Một tiếng sét kinh thiên động địa, con sóng dữ đẩy bật Hoàn lên bờ, nằm vật ra, kiệt sức và kinh hãi.

Đêm lạnh. Bặc chợt tỉnh giấc, ngó sang bên vẫn thấy lão Bộc ngồi trầm ngâm bên bếp lửa, quờ tay lại, chỉ thấy Điền ngủ say như chết, mà không thấy bóng dáng Hoàn và đôi song kiếm đâu cả. Hai chú lính ngáy rung cả lán. Bặc lò dò đến bên bếp lửa, khẽ hỏi lão Bộc:

– Ông ơi, Hoàn đi đâu, mà từ chập tối đến giờ chưa về?

– Tao cũng đang lo cháy ruột đây này.

Lão Bộc thở dài, bóng lão chập chờn trên vách lán, được ken bằng thân cây lau. Hai chú lính nghe tiếng nói chuyện lao xao, cũng chồm dậy. Phàm là người ngủ ngáy là tỉnh giấc nhanh lắm.

– Gì vậy? – hai chú gần như đồng thanh hỏi.

– Hoàn cưỡi trâu đi từ chập tối, giờ vẫn chưa về, – Bặc mau mồm đáp.

– Vậy hử, phải đi tìm mau! – chú lính đáp, như ra lệnh.

– Giời mưa quá! – lão Bộc khẽ khàng.

Đến lúc này, cả bọn mới dỏng tai lắng nghe tiếng mưa.

– Phía ngoài sông, còn có tiếng sấm vọng về, – lão Bộc bồn chồn.

Bỗng con trâu đầu đàn chạy về, đứng trên quèn mà hộc lên. Bọn gác chạy ra thì không thấy chủ tướng đâu. Hai chú lính bật đuốc nhựa trám. Các lán nghe thủng câu chuyện cũng đâm hồng, đội mưa, đổ đi tìm động chủ. Điền tìm đầu sạp, không thấy đôi song kiếm đâu, kêu toáng lên:

– Thằng này, mang đôi song kiếm đi treo cố ngựa đá rồi!

Con trâu đầu đàn dẫn đường, như mách bảo cho Bặc, dẫn một toán quân, chạy gấp đến bến Thạch Mã. Quả nhiên, trong ánh đuốc, thấy Hoàn nằm ngất lịm trên mô đất ven bờ sông. Bọn chúng thất kinh, khi thấy trời mưa gió, mà chỗ Hoàn nằm lại tạnh ráo, ngẩng lên, thấy có đám mây phủ như cái lọng che. Anh em hốt hoảng, kẻ bảo đưa về Thung Lá, nhờ bà lang chữa chạy, người bảo phải đưa về làng, nhỡ có mệnh hệ nào… Bặc quyết đưa về làng, bởi trời mưa gió thế này, khí núi trong động độc lắm.

Nghe vậy, chúng bèn vực Hoàn lên lưng trâu đầu đàn, đưa về Kim Lư.

Nửa đêm, chúng mới đưa Hoàn về tới nhà. Xóm làng náo động. Đàm thị, Yên Khê và bọn hầu gái, khóc ầm cả lên. Thúc Dự gạt mọi người ra, quờ tay vào trong đũng quần Hoàn thấy vẫn cộm tay, bèn tươi nét mặt, bảo:

– Không sao! Cho nó uống bát nước gừng, lấy tóc rối, quả trứng gà luộc mà đánh cảm,  – đoạn, Dự bỏ đi hút thuốc lào, bình thản như không.

Hồi lâu, Hoàn tỉnh dậy, thấy xung quanh lố nhố những người là người, không rõ cơ sự làm sao. Bặc kể lại sự tình. Hoàn tươi nét mặt, nhớ việc treo đôi song kiếm vào cổ ngựa đá, nhưng tịnh không nói gì.

VŨ XUÂN TỬU

(Còn tiếp)

_____________________

(1) tên cũ của sông Lam.

(2) nay là Thủ đô Hà Nội.

(3) xưa thuộc hương Thổ Lỗi, tổng Siêu Loại, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh;

nay thuộc xã Dương Xá, huyện Gia Lâm,  thủ đô Hà Nội.

(4) nay thuộc xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, (khác với núi Kỳ Lân ở thành phố Ninh Bình).

(5) động Hoa Lư xưa gồm hai vùng Uy Tế, Uy Viễn; nay thuộc xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình

(6) nay thuộc thôn 13, xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

(7) đường qua dốc núi (đèo).

(8) độ dài 1 dặm  bằng 135 trượng, khoảng 540 mét

(9) nay thuộc xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

(10) nay thuộc xã Gia Thủy, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh bình.

(11) nay thuộc xã Gia Vân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

(12) trung tâm nay thuộc thôn Vân Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

(13) nay thuộc huyện Đông Anh, thủ đô Hà Nội.

(14) nay thuộc xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

(15) nay thuộc xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

(16) nay là sông Hoàng Long.

(17) nay thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

(18) nay thuộc tỉnh Nam Định, giáp tỉnh Thái Bình.

(19) nay thuộc tỉnh Ninh Bình.

(20) nay thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

(21) nay thuộc thành phố Ninh Bình.

 

Xem tiếp:

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 1

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 3

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 4

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 5

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *