Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 5

Tượng thờ Đinh Liễn ở đền Vua Đinh Tiên Hoàng – Hoa Lư

Phần thứ ba

DẸP LOẠN SỨ QUÂN

 

Chương một

Đinh Liễn trở về

1.

VHSG- Cái tin Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn trúng tên tử trận, ở Nguyễn Gia Loan, bay về Bố Hải Khẩu, khiến Bộ Lĩnh sợ tái mặt. Trần Lãm giật mình hỏi:

– Sao vậy, Bộ Lĩnh?

– Nam Tấn Vương băng hà, Cổ Loa ắt rối loạn, tính mạng thằng Liễn nguy mất, – Bộ Lĩnh run run đáp.

– Thế thì, phái ngay một toán quân, giả dân buôn, đột nhập Loa Thành, giải cứu cho mau mới kịp! – Bặc hăm hở bày kế.

Toán lính Cờ Lau đóng vai con buôn, tức tốc lên đường tới Cổ Loa. Kiếm gói trong bọc, giả làm đòn gánh vác vai, thang dây cuộn trong tay nải, giả làm hàng hóa. Qua đò Lo Lủ phải bỏ lại ngựa, cả toán chia làm bốn cánh vượt bốn cửa thành, đề phòng toán này bị bắt thì còn toán kia. Các toán qua cửa Tây Nam, Tây Bắc vượt gò Pháo Đài, lối Xóm Mít. Toán cửa Nam qua Loa Khẩu, Cống Ngòi, Chợ Sa. Toán qua cửa Bắc đi Gò Vua, Đống Bắn, Đống Giáo… Tất thảy nhằm hướng Thành Nội tiến vào. Dân ngoài thành nháo nhác, nội đô còn bồn chồn hơn. Các điếm canh xem chừng trễ nải, từ Xóm Chùa, đến Ngòi Dưới, Xóm Gà quân lính chỉ đứng làm vì, không xét hỏi gắt gao như trước, nên các toán lọt vào thành khá dễ dàng. Bởi đã do thám từ trước, biết chỗ giam giữ con tin, nên cả bọn hành quân chóng vánh. Nhưng đến trước cửa Thành Nội, nơi cung thất, gặp phải bọn lính tuần phòng, canh gác nghiêm ngặt, nên chúng phải nấp kín, chờ đêm tối. Nhân lúc nhập nhoạng gà lên chuồng, cả bọn bất ngờ vắt thang dây qua tường, trèo vào, rồi lẻn đến nhà giam.

Liễn đang nằm thở vắn thở dài trên tấm phản, bỗng thấy mấy kẻ bịt mặt xông vào, ngỡ thích khách, toan kêu cứu, thì bị chúng bịt mồm và đưa tờ giấy giấu trong thắt lưng ra. Liễn căng mắt đọc: “Liễn đâu? Liễn đâu? Quân Cờ Lau cứu. Mày ở đâu, về mau!”. Nhận ra kiểu chữ của cha và nhất là nhận ra cái giọng khi xưa, suốt ngày cứ gọi ồi ồi :”Liễn đâu? Liễn đâu? Mày ở đâu, về mau!”, khiến Liễn mừng quýnh, biết là quân ta đến cứu rồi. Liễn nghe binh tình, chỉ lo hỗn quân hỗn quan, nó cho một nhát kiếm là rồi đời. Có quân đến cứu thế này là kịp thời, nên Liễn quýnh quáng chạy theo ngay. Chúng húm vào, kẻ canh gác, người giữ thang, đẩy Liễn vượt tường, rồi tức tốc thu quân. Cả bọn tẩu nước mã hồi, chia quân làm ba toán, Liễn đi cùng toán giữa cho an toàn. May sao, bọn Lã Xử Bình không tính đến nước giải cứu con tin của bọn Cờ Lau, nên việc canh giữ nhà giam có phần lơi lỏng. Vả lại, các quan triều đình đang lo tang lễ Nam Tấn Vương và hằm hè tranh nhau ngai vàng, nên việc giải cứu diễn ra an toàn, không xảy ra đổ máu. Chứ lúc đi, cả bọn đã thề với nhau, nhất chết, dù chỉ còn một người cũng quyết đưa Liễn về đến nơi đến chốn.

Liễn về đến Bố Hải Khẩu, khiến cả kẻ Bo xôn xao hẳn lên. Đàm thị ôm ghì cháu nội vào lòng mà khóc:

– Lúc đi, nó mới như con rái cá, mà nay bằng sào bằng gậy rồi, – Đàm thị móm mém nhả bã trầu, xoa lên gương mặt xanh xao của cháu, vẻ xót xa.

– Thì những mười bốn năm ròng ở Cổ Loa. – Điền chen vào, nhìn Liễn từ đầu đến chân, hỏi, – ra dáng đấy chứ, chỉ tội gày nhẳng. Thế, nó có đánh đập không?

– Không bị đánh đập gì hết, còn sướng hơn lính, – Liễn hồ hởi đáp.

– Thế thì tao cũng thích đi làm con tin, – Điền cười hô hố.

– Bây giờ, phải ăn cho lại sức, rồi tính chuyện lấy vợ đi thôi. – Đàm thị cười cười, – bằng tuổi mày bây giờ, thì thầy mày đã từ Châu Ái giở về gò Bồ Đề mà chăn trâu cho ông Dự rồi đấy nhá.

– Vội gì bu, – Điền nửa đùa nửa thật, nói khơi khơi. – Chờ lúc đi đánh trận, thấy cô nào hay hay mắt, bắt đem về. – Và đổ trận cười, – hê hê hê…, vợ đấy chứ vợ đâu mà phải bờn tở?

Nghe vậy, cả bọn vỗ tay tán thưởng, cười theo rầm trời.

2.

Từ khi nhà Ngô hết số, Cổ Loa như rắn mất đầu. Thái tử Ngô Xương Xí là con thứ của Ngô Xương Ngập, mới hai mươi mốt tuổi, không trị nổi Tham tá Lã Xử Bình. Bình thấy Văn mất, thì xứ này, không ai dám vượt mặt mình nữa. Vả lại, Bình cũng được vua Ngô ban quốc tính, gọi là Ngô Xử Bình kia mà.

Trong khi đó, Thứ sử Phong Châu là Kiều Công Hãn, thấy triều đình rối loạn, bèn cất quân về, quyết tranh ngôi báu với Bình. Bình và Hãn đấu nhau, không bên nào thắng bên nào. Ngó lên, các quan Thái sư, Thái úy; nhìn xuống văn, võ, tăng quan cũng đều im thin thít. Còn các châu, động đều án binh bất động. Bởi, không biết mèo nào cắn mỉu nào mà ngả theo. Theo bên này, lỡ bên kia lật lại thế cờ, thì biết chạy đâu?

Tình thế ngặt nghèo, Xí lượng sức mình không dẹp nổi bọn Bình, Hãn, bèn dụng kế “Tẩu vi thượng sách”.

Ất Sửu (965) thế mà loạn to.

– Về đâu bây giờ? – Xí ngảnh sang, hỏi Thái úy.

– Bẩm, hạ thần từng theo Ngô Tiên Vương trấn nhận Châu Ái khi xưa, thấy Tiên Vương đã để mắt tới đất Bình Kiều. Nay Thái tử có thể vào đấy tạm lánh thân, mà mưu việc lớn.

– Ta chưa tới bao giờ, – Xí thực thà nói, – có xa lắm không?

– Đất ấy bằng phẳng, phía đông có Cửu Noãn Sơn chín ngọn, tây nam có núi Nưa chắn giữ địa môn, ra bể Đông Hải cũng không xa lắm.

– Núi Nưa, ta có nghe, nhưng xa đấy, – Xí có vẻ ngần ngừ.

– Xa mới yên, gần lửa rát mặt. – Thái úy thấy Xí không thuận, bèn bồi thêm, – binh đao xảy ra, rồi không phải đầu lại phải tai.

Thế cùng, Xí theo kế ấy. Đang đêm, quan quân lặng lẽ rút ra khỏi thành Cổ Loa. Người ngậm tăm, ngựa buộc mõm, bó vó. Tất thảy, nhằm phương nam mà chạy. Hôm sau, bọn Bình, Hãn mới phát hiện ra Xí đã chạy trốn, nhưng không ai dám đuổi theo trừ hậu họa, vì sợ bỏ kinh đô thì không còn đường quay về nữa.

*

Chập tối, khi xe Xí vừa ra khỏi cửa thành ngoại, thì bị gãy trục, Xí cho là điềm gở, liền quay lại, viên Thái úy thấy vậy, hoảng sợ nói;

– Thái tử quay lại, khác nào nộp mạng cho bọn Bình, Hãn?

– Làm gì đến nỗi? – Xí vẫn mơ hồ.

– Hàng mấy ngàn quân chạy trốn thế này, che sao nổi mắt chúng nó? Thái tử mà thối chí, quay lại, chúng thần xin đập đầu chết ngay tại đây!

– Ấy chớ… – Xí hoang mang do dự, không biết nên đi hay ở.

– Đằng nào thì quay lại cũng chết, – cả bọn nhao nhao đòi tự vẫn.

Nghe tiếng quan quân xôn xao, các điếm canh bật hồng. Lính trong thành nghe động, vội đổ ra, thấy binh tình như thế, thì cùng bỏ thành theo Thái tử, ước đến hàng vạn. Xí vừa mừng lại vừa lo, mừng là lòng quân vẫn phụng thờ dòng máu Ngô Vương, nhưng lo đám đông thế này, chạy sao cho thoát. Thái úy thấy Xí đã xiêu lòng, vội dìu lên ngựa, phi nước đại. Quan quân chạy theo rầm rầm. Khi đến bến Gián Khẩu thì trời hồng đông. Xí cầm roi ngựa, chỉ bà bán quán đang bày hàng sớm, hỏi:

– Mụ có thấy quân Cờ Lau quanh quẩn đâu đây không?

Bà lão lặng thinh, bày biện đồ hàng, hầu như không để ý gì đến xung quanh, khiến Xí bực, toan đánh. Viên Thái úy vội chạy tới can:

– Đây là đất Gián Khẩu, thằng Bộ Lĩnh đã tức mình mà đặt thế rồi. Gián khẩu nghĩa là mồm câm. Thái tử nên đi mau cho lành.

– Cũng may, ví mà thằng ấy cho phục quân ở đây, thể nào phận ta cũng giống con nó, – Xí nói, có vẻ đắc ý.

Xí vừa nói hết câu, bỗng thấy tiếng reo hò nổi lên từ núi Thiệu. Cả đám quân chạy trốn đang mỏi mệt, toan dừng chân nghỉ, nhưng nhìn thấy đám lính Cờ Lau đang rầm rập phi trâu xuống như voi trận, thì hồn vía lên mây. Xí tá hỏa, nhảy vội xuống đò. Thái úy tay cầm khiên đỡ tên, tay đẩy thuyền hỗ trợ vượt sông. Chợt thấy bọn lính bơi trên sông xúm cả vào mạn thuyền, Thái úy vội bỏ khiên, rút gươm toan chém. Bọn lính thất kinh kêu lên:

– Thái úy, chớ chém, tất cả cùng đẩy thuyền cho Thái tử đấy chứ.

Thái úy định thần nhìn lại, thì quả nhiên thấy thuyền đang lướt băng băng ngang sông Hoàng Long. Thuyền vừa cập bến, Thái úy đã kéo thốc Xí lên bờ. Một con ngựa cũng vừa bơi sang, đang rung bờm rũ nước, Thái úy đã bế thốc Xí lên yên mà giục giã ngậu cả lên.

Qua khỏi Gián Khẩu, quân lính bảy phần vơi mất ba, đứa bị tên bắn giáo đâm, đứa bị trâu giẫm ngựa xéo, đứa chết đuối, đứa bỏ trốn, đứa đầu hàng. Cả bọn tàn quân lướt thướt chạy theo Xí, tưởng thoát nạn, ai ngờ, vừa đến núi Ngọc Mỹ Nhân đã bị quân Cờ Lau phục kích, đánh tơi bời, qua khỏi động Thiên Tôn mới thôi. Đến Tam Điệp lại bị một trận nữa, khiến quan quân tả tơi như lá chuối gặp bão. Xí nghĩ bụng, bọn mục đồng này không phải thường. Thảo nào, nó được Ngọc khuê, Rồng cõng qua sông, không phải là không có lý…

Vào đến Bình Kiều, Xí thốt lên:

– Sống rồi! – Trỏ dãy núi cao phía mặt trời mọc, Xí buồn rầu nói, – sao núi lại chắn đằng  đông thế vầy? Mà lại những chín ngọn, khác nào vía đàn bà. Nghịch!

– Thế đất hiểm, chứ không phải nghịch, – viên Thái úy vội biến báo để an lòng chủ.

Nhà văn Vũ Xuân Tửu

Chương hai

Trận đầu Bộ Lĩnh lấy Cổ Loa

1.

Thứ sử Dương Huy thấy Ngô Xương Xí đã bỏ chạy vào châu Ái, liền kéo quân về Cổ Loa, tranh giành vương miện với bọn Lã Xử Bình, Kiều Công Hãn. Đỗ Cảnh Thạc là nha tướng của Ngô Tiên Vương khi xưa, thấy vậy cũng không bỏ lỡ cơ hội cầu vận may. Thế là bốn con hổ gầm rú tranh ngôi, làm náo động cả Thành Ốc.

Đa phần quan quân triều đình bỏ theo Ngô Xương Xí, làm ngoảng cả thành. Nay bốn đám tranh vương kéo quân vào, khiến đâu lại vào đấy, khác nào tát bùn sang ao. Bọn Lã Xử Bình, Kiều Công Hãn, Dương Huy, Đỗ Cảnh Thạc chỉ đấu khẩu, mà không dám động binh. Một dấy binh, ba chập lại, thì không chột cũng què, nên chỉ giương vây múa vuốt, gầm ghè lẫn nhau mà thôi.

Thạc mắng Huy:

– Ngươi là kẻ vô danh tiểu tốt, mà dám cả gan nhòm đến ngai vàng ư? Sao không về nhà giặt váy vợ cho rồi?

Huy cũng chửi lại Thạc:

– Thằng giặc phương Bắc cụt tai kia. Cha mi từ Quảng Lăng(1) mò sang đây làm gì? Sao mi không cuốn gói về quê hương bản quốc cho rảnh mắt ta?

Thạc gầm lên như hổ bị trọng thương:

– Ngươi là kẻ vô lại, mù mắt điếc tai hay sao mà không biết chuyện, ta theo Ngô Tiên Vương giết được Kiều Công Tiễn, lại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, đường đường là Chỉ huy sứ. Cái đồ chuột nhắt thì biết gì chí lớn đại bàng!

Huy lại la lối:

– Chính mi làm tay sai cho Dương Tam Kha, ba lần đi bắt Thiên Sách Vương đấy thôi. May mà giời có mắt, không độ chúng bay.

Thạc cười khinh khi, trỏ ngón tay út vào mặt Huy mà kinh bỉ nói:

– Chính ta cùng Dương Cát Lợi, theo lệnh Nam Tấn Vương, bắt sống Dương Tam Kha, dựng nên nhà Hậu Ngô. Đúng là cái đồ đã mù còn ngọng, sao không câm mồm đi cho xong?

Thấy đấu khẩu mãi cũng chẳng làm cho kẻ thù nổ họng, vỡ tai mà chết, nên Lã Xử Bình bàn với Dương Huy và Kiều Công Hãn:

– Thằng cụt tai này, cậy có chút công lao, mà cả gan áp đảo triều đình. Nếu ba chúng ta không hợp sức, thì nó làm loạn như bỡn.

Thế là, ngay đêm ấy, ba cánh quân bất ngờ đánh úp trại Thạc. Thạc thua to, phải rút quân về Tích Giang, tu sửa Thành Quèn làm nơi cố thủ.

2.

Thấy binh tình Cổ Loa rối ren, Trần Lãm họp các tướng lại nghị bàn:

– Chúng ta là bầy tôi, hưởng lộc của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, kế theo là của Ngô Tiên Vương cũng đã nhiều. Nay nhìn cảnh triều đình giềng tan mối nát, không khỏi chạnh lòng.

Chỉ hiềm nỗi, ta sức cùng lực kiệt, giương cung bắn ruồi còn khó…

Lãm nói xong gạt lệ, khiến ai nấy đều cảm kích. Bộ Lĩnh đứng dậy, chắp tay cung kính, nói:

– Thưa Minh Công, bấy nay, chúng thần cũng được hưởng lộc của hai họ Dương, Ngô. Nay thần lại được nhờ cậy Minh Công, dẫu gan óc lầy đất cũng không báo đáp được.

– Bộ Lĩnh chớ nói thế mà quá lời, – Lãm tỏ ra khiêm nhường, khoát tay chiếu lệ, ý can ngăn sự tung hô.

– Đận này, nghe tin kinh đô có biến mà rầu ruột, – Bộ Lĩnh lại nói. – Nay Minh Công đã có ý như thế, quân Cờ Lau xin ra tay một phen, đuổi lũ ruồi nhặng, mang lại bình an cho Loa Thành, rồi xin đón Thái tử Ngô Xương Xí giở về, nối dòng họ Ngô.

– Bộ Lĩnh nói thế, chính hợp ý ta, – Lãm cười nói. – Dù sao, Ngô Xương Xí cũng là cháu đích tôn của Ngô Tiên Vương, bởi ngặt quá mà phải lánh nạn Bình Kiều đó thôi.

– Cứ ngỡ Ất Sửu (965) loạn qua, ai dè, đến Bính Dần (966) lại đại loạn thế vầy, – lão Bộc lẩm bẩm như nói với chòm râu của mình.

– Lão trượng chớ lo, có Đinh Bộ Lĩnh bình thiên hạ! – Điền bô lô ba la.

Nghe vậy, Lãm biến sắc mặt, Bộ Lĩnh quắc mắt nhìn, khiến Điền giật mình vì xảy  miệng, vội biến báo:

– Là ngu ý của kẻ hèn mọn này, muốn Bộ Lĩnh cất quân lĩnh ý nhạc phụ Minh Công, mà tảo thanh Loa Thành.

– Phải, phải, – Lãm đổi giận làm vui, – ý huynh trưởng quả là hợp bụng ta.

Cả bọn đưa mắt nhìn nhau, nói cười rôm rả.

3.

Bộ Lĩnh cất quân Cờ Lau đi đánh Cổ Loa. Nguyễn Bặc được cử làm tiên phong, có Đinh Liễn đi cùng. Bộ Lĩnh cầm trung quân, Lưu Cơ và Đỗ Thích phò tá. Đinh Điền đốc thúc hậu quân. Lính Bố Hải Khẩu tham gia tải lương, thảo bằng đàn trâu kéo xe và ngựa thồ.

Điền giắt côn mẫu tử sau lưng, cưỡi ngựa dẫn đầu đoàn quân tải lương. Tên lính vác Chùy đá cho Điền, lúc nào cũng cưỡi ngựa kèm bên cạnh chủ tướng. Đoàn ngựa oằn lưng thồ gạo, con nọ bám sát con kia, rậm rịch khua vó, tung bụi đường, nom đầy vẻ chinh chiến, khiến cho Điền háo hức lạ thường. Nhưng nom lại đàn trâu kéo xe ì à ì ạch mà ngám ngẩm, hò hét đốc thúc khản cổ, mà chúng như bỏ ngoài tai.

– Đúng là tai trâu! – Điền bực, – bọn bay, xuống dắt trâu, cấm ngồi trên xe! Thằng nào không tuân, chém!

Bọn lính sợ hãi, nhảy vội xuống. Quả nhiên, đàn trâu có vẻ bước nhanh hơn, làm cho Điền vui ra mặt. Bọn lính kháo nhau:

– Nhẽ ra, chủ tướng phải cầm quân tiên phong, nay cầm chân tải lương, nên tức đấy thôi.

– Phải, trâu nó chỉ đủng đỉnh vậy, chứ có phải ngựa đâu mà phi.

Điền nghe láo kháo, ghìm ngựa lại, quát to:

– Đứa nào nói gì? – đoạn, rút phắt côn mẫu tử, lăm lăm trong tay.

Bọn lính nom thấy vậy, mặt cắt không còn hột máu. Một tên lính vác thừng lên vai, liền bị Điền chỉ côn vào mặt:

– Ai cho mày vác thừng?

Tên lính run cầm cập, đái ra quần, ú ớ không nói được nên lời, khiến Điền phì cười. Bọn lính thấy vậy cũng cười theo, để lấy lòng chủ tướng.

– Mày không biết gì à? – Điền trở nên vui vẻ, ôn tồn bảo, – các cụ kiêng vác thừng, sợ trâu nó gày.

Tên lính hoảng sợ cúi lạy như tế sao:

– Quan lớn tha tội, con ngu dại…

Điền như không để ý đến tên vác thừng nữa, giật cương cho ngựa né sang bên, nhường đường cho đàn trâu kéo xe đi.

Hoàng hôn buông xuống, đàn ngựa vẫn hăm hở khua vó, đàn trâu vẫn đủng đỉnh kéo xe trên đường, dài dằng dẵng, tưởng như vô cùng tận. Hai bên đường là cánh đồng mênh mông. Ao chuôm thưa thớt, ánh lên lấp lóa. Đàn cò thấy động, vội tung cánh bay về phía chân trời. Xa xa, có mấy đụn khói đang bốc lên. Phía bên kia rặng tre, thấp thoáng mái tranh nghèo. Chốc nữa, đoàn tải lương sẽ qua làng này, có lẽ, cho lính dừng lại nấu cơm, trâu ngựa ăn cỏ lấy sức. Đêm, ta lại đi tiếp cho mát. Phải lệnh cho quân lính hộ vệ canh chừng, phòng địch nhân cướp phá lương, thảo. Phen này, bọn Cổ Loa chết bỏ bu rồi, Điền nghĩ bụng. Đến nơi tập kết, ta phải bảo Bộ Lĩnh cho tham chiến ngay mới được. Chả gì cũng là trận đầu, nhưng nói gì thì nói, cứ phải đốc thúc việc vận chuyển quân lương cho chu toàn cái đã. Mình phải tuân lệnh, làm gương cho bọn chúng, cũng là ngầm giúp Bộ Lĩnh vậy.

Bọn Bộ Lĩnh vẫn cay cú chuyện cũ. Chẳng là, khi đến viếng Ngô Tiên Vương, nhưng Dương Tam Kha không cho đi tham quan Thành Ốc, nên Bộ Lĩnh đã cho quân đi thám sát, lại kết hợp với sự hiểu biết thời xưa của lão Bộc và thời nay của Liễn nữa, thế là mọi sự tỏ tường cả trong lẫn ngoài. Bộ Lĩnh cho vẽ địa đồ Cổ Loa, to bằng cái chiếu, trưng lên giữa doanh trại, lại đưa roi ngựa cho Liễn chỉ dẫn cụ thể từng vị trí, trước khi công thành. Liễn xúc động, run run cầm cái roi ngựa của cha, chỉ lên địa đồ và nói:

– Thành Cổ Loa, dựng từ thời An Dương Vương và Ngô Tiên Vương đóng đô ở đây, đều có tu sửa. Thành dựng ba lớp, xoắn theo nhau như kiểu chôn ốc, nên gọi là Thành Ốc là cái sự vậy.

Nghe vậy, các tướng ồ cả lên, cho là Liễn trẻ tuổi mà kiến thức sâu sa, khiến Liễn tự tin hơn, tay không run mà giọng không bị tắc trong cổ nữa.

– Thành Ốc ba lớp, – Liễn lại nói, – Thành Ngoại đắp đất liên kết các gò đất cổ, có công sự phòng vệ, – Liễn chỉ roi vào chỗ vẽ Thành Ngoại, vạch một vòng, rồi chấm vào giữa địa đồ mà nói, – còn đây là Thành Nội, dài năm trăm trượng(2), trung tâm phòng vệ có mười tám ụ đất đắp cao, nhô ra làm các trạm gác. Từ đây, lính trong thành dùng cung, nỏ bắn tên ra, – bất chợt, nhìn thấy Đỗ Thích đang phe phẩy quạt hầu Bộ Lĩnh, mà tỏ ra lơ đãng không nghe, khiến Liễn rùng mình như bị gió lạnh. Phút phân tâm, khiến các tướng xôn xao, ghé tai hỏi nhau, tưởng Liễn quên, – lúc nãy, nói về Thành Ngoại mà chưa kể độ dài. Độ dài của nó chừng hai ngàn rưỡi trượng. Lại nói, chỗ này, giữa Thành Ngoại và Thành Nội là Thành Trung, dài ngót hai ngàn trượng. Dưới chân các thành là nền  móng rộng cỡ sáu, bảy chục thước(3), có kè đá, tre, gỗ, bên trên đắp đất. Chân thành có đào hào, thoát nước ra Hoàng Giang qua Cống Sang, Cửa Khấu… – Liễn chỉ sông Hoàng Giang, Lộc Hà và Cà Lồ chảy vòng qua Cửa Đông, Cửa Nam. Từ Hoàng Giang thông ra sông Hồng, đổ ra bể. Cổ Loa dùng bộ binh và thủy binh để phòng thủ và tấn công đều thuận.

– Thành cao bao nhiêu? – Bặc hỏi.

– À quên, – Liễn cười trừ. – Thường thường cao chừng chục thước, có chỗ lại cao hơn hai chục thước. Nhưng sức quân ta, trèo như bỡn.

– Cửa thành chỗ nào? – Điền hỏi to.

– Đây! – Liễn chỉ, – Thành Ngoại có Cửa Nam, Tây Nam và Cửa Đông. Thành Trung có cửa Tây Nam, Tây Bắc, Bắc, Cây Song. Còn đây là Cửa Khâu, Cửa Nội. Ngoài ra, có hơn hai chục điếm cánh ở Xóm Chùa, Thôn Trại, Ngòi Dưới, Ngòi Trên, Xóm Hương, Lan Trì, Xóm Gà, Xóm Sằn, Xóm Mít, Xóm Chợ, Chợ Thượng, Xóm Dõng, Xóm Bãi…

– Nhìn kia thì thấy các cửa thành so le, nên lâm trận phải để ý, kẻo quân ta bắn quân mình. Thành lại có nhiều hào nước, nhiều sông, hồ bao quanh, nên hành binh phải nhớ phép vượt đầm lầy mà Binh pháp đã dạy. Điếm canh, trạm gác dày đặc như gai mít, như trăm con mắt, lại nhìn ra bằng cung tên, nên phải ra sức đề phòng mới được. Đội quân tiên phong mà mật tập chọc mù được những cái mắt ấy, nhổ được những cái gai ấy, thì lấy thành khác nào ăn cỗ.

Nghe chủ tướng nói vậy, chúng cười hể hả. Đoạn, Bộ Lĩnh nghiêm sắc mặt, ra lệnh:

– Chuyến này, ta cất quân đánh trận đầu, nhất quyết phải thắng, lấy nhuệ khí. Kẻ nào thua chạy thì chém!

– Ta có giàn phóng lao, súng bắn đá, máng ném cầu lửa dùng vào trận đầu, làm gì không thắng, – Điền oang oang nói.

– Ta chỉ dụng vũ khí hạng nặng để thị uy thôi. Bởi nếu bắn vào, thì thành tan gạch nát, vong linh Ngô Tiên Vương ắt chê trách con cháu Đinh Thứ sử không biết thương dân.

*

Thứ sử Dương Huy đang hùng hổ tranh vương với Lã Xử Bình và Kiều Công Hãn, chợt nghe tin Đinh Bộ Lĩnh cất mấy vạn quân đi làm cỏ Cổ Loa, thì vội vàng tẩu thoát, sợ không phải đầu lại phải tai. Bấy giờ, trong thành chỉ còn bọn Bình và Hãn trấn giữ. Bộ Lĩnh cho quân hạ trại vây thành, ngày đêm đánh trống khua chiêng và reo hò ẫm ĩ thị uy, bày đặt vũ khí hạng nặng, hòng làm cho quan quân trong thành mất vía mà quy hàng, đỡ tổn hao xương máu quan, quân, dân chúng, lại giữ được kiến trúc cổ thành.

Bình thấy vậy, bàn với Hãn:

– Thằng mục đồng này, từng bị anh em Hậu Ngô vây khốn ở Trường Châu, phải cho con trưởng đi làm con tin, mới thoát nạn. Nay nó hư trương thanh thế mà hù dọa đấy thôi. Các vàng nó cũng không dám công phá Thành Ốc.

– Thằng Bặc là tướng tài, lại làm tiên phong, chớ khinh địch. Bọn chúng lại ăn ở, luyện tập tại Bố Hải Khẩu đã mười lăm năm rồi, ngựa béo, quân khỏe, đánh trận đầu ắt ham lập công, nên liều chết đấy, – Hãn thận trọng.

– Tướng quân đã từng đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mà nay nhát chết thế ư? – Bình nói khích.

– Tướng quân có giỏi, thử ra nghênh chiến? – Hãn khích lại.

Lã Xử Bình tức khí dẫn quân, mở cửa thành xông ra. Chợt thấy Nguyễn Bặc tay cầm huyết đương thương, cưỡi ngựa đứng trước trận, Bình trỏ roi, quát to:

– Thằng củ cải kia, theo đít mục đồng, dám đem quân vây áp kinh đô triều đình sao?

– Mày là thằng mặt trắng. – Bặc trỏ thương mắng, – theo hầu Nam Tấn Vương không xong, mà còn dám ra đây ăn nói càn rỡ vậy sao?

– Bọn mục đồng chúng bay, may được Nam Tấn Vương mở lượng hải hà rút quân bỏ thành, giải vây, không thì đã chết không toàn thây rồi, – Bình kể lể công đức của vua, sỉ nhục quân Cờ Lau.

Lúc đó, Đinh Liễn mặc áo giáp, cưỡi ngựa chạy đến bên Bặc, nói nhỏ:

– Khi ta làm con tin, thằng này hay giở trò tiểu nhân. Nay xin được rửa hận.

Bặc gật đầu, Liễn vác giáo xông thẳng vào đâm Bình. Bình né được, quay ngựa lại đánh. Quân sĩ hai bên đánh trống ầm ĩ thúc giục. Liễn càng đánh càng hăng. Nhưng Bặc sợ Liễn mới trở về, chưa quen chiến trận, lỡ không may có mệnh hệ nào, thì khó ăn nói với bằng hữu, bèn khua chiêng thu quân. Liễn hậm hực ruổi ngựa chạy về, nói trống không:

– Chớ khinh nhau quá thế!

– Bình là thằng gian giảo, lắm mẹo hiểm, lại trải qua mấy phen trận mạc, phải bảo trọng mới được, – Bặc nhún nhường thanh minh.

Bình thu quân vào thành, hạ cầu treo xuống. Hãn thấy vậy, bảo:

– Bọn này, phải dụng kế mới được.

– Kế gì? – Bình hỏi.

– Ta cứ đóng chặt cửa thành. Chúng vây lâu ngày sẽ hết lương, thảo. Lúc ấy, người, ngựa mỏi mệt. Quân ta mới nhất tề xông ra, quyết chiến, tất phá được giặc.

– Quân do thám báo về, thằng Đinh Điền chuyên lo tiếp tế lương thảo. Xứ Bo cá lắm, gạo nhiều, quanh thành cũng là vựa lúa, thì kế ấy khó xong.

– Hay là, tôi dẫn quân bản bộ kéo ra ngoài thành trá hàng. Rồi lợi dụng đêm tối, dụng kế “Trùng độc chiến”, trong đánh ra ngoài đánh vào. Có khi, còn bắt được cả thằng tướng mục đồng, chứ nói gì đến bọn nhãi nhép Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Đỗ Thích…

Bình nghĩ bụng, Hãn ra ngoài, thì trong thành chỉ còn có ta mà thôi, một mình ngự giang san, nên gật đầu đồng ý. Hãn tuy mặt ngoài nói vậy, nhưng trong bụng lại vui mở cờ. Quân Cờ Lau đông như kiến cỏ, làm sao địch nổi, chi bằng lừa thằng Bình, dụng kế “Tẩu vi thượng sách”.

Đang đêm, Bình sai lính mở cổng thành, Hãn dẫn quân lặng lẽ tiến ra. Bọn Bặc thấy quân trong thành chạy ra, ngỡ là bị đột kích bất ngờ, vội hò nhau cự lại. Nhưng Hãn chỉ cho quân chống đỡ qua loa, rồi nhằm hướng sao Bắc Đẩu tháo chạy. Bặc không hiểu ý đồ quân địch ra sao, sợ trúng gian kế, nên không dám đuổi theo, chỉ một mực vây chặt thành mà thôi.

Đợi mãi không thấy bọn Hãn quay lại đánh như đã hợp đồng, Bình cười to bảo:

– Đúng là cái đồ nhát chết, thế mà sao Tiên Vương phong nó là Thứ sử Phong Châu?

– Thì nó có công giúp Tiên Vương chống lại ông nội nó mà lại, – viên phó tướng nói.

– Chả nhẽ, ta không biết sao? – Bình giảng giải, – ông nội nó là Kiều Công Tiễn đã giết Dương Đình Nghệ. Nhưng nó lại theo Ngô Tiên Vương. Chính ta sợ sự phản trắc của nó, nên mới lập kế đẩy đi đấy chứ, – Bình vớt vát chữa thẹn, tưởng như sai khiến được Hãn vậy.

– Bây giờ, chủ tướng tính sao?

– Ta cứ đóng chặt cửa thành, kê cao gối mà ngủ. Chờ khi nó binh yếu, ngựa ốm, lương hết, thì sẽ ào ra đánh một trận sạch không kình ngạc.

– Giời ơi, có mà ta hết lương, thảo trong nay mai thì có.

Nghe vậy, Bình ngớ người ra, cho quan Tổng quản kiểm lại kho lương, thì mới biết chưa kịp thu thuế năm nay, mà thành đã bị vây rồi, nên mễ cốc cạn kiệt cả, kho đụn sạch không.

Quân Cờ Lau chờ mấy ngày mà không thấy bọn Bình động tĩnh gì, Bộ Lĩnh bèn mật bàn với Bặc và Liễn:

– Bây giờ, hai bác cháu nhà ông giúp cho việc này. Bằng hữu vờ cất quân tiên phong đi đánh Phong Châu, trị tội Kiều Công Hãn. Ta thì phao tin đi lấy Thành Quèn, bắt Đỗ Cảnh Thạc, chỉ để lại Đinh Điền vây thành thôi. Nhưng kỳ thực, – Bộ Lĩnh trỏ Bặc, – bằng hữu mang quân đi Phong Châu. Còn thằng Liễn đóng giả tôi, được cái giống là hai bố con cũng nước da ngăm ngăm đen như nhau, – Bộ Lĩnh cười cười, – vờ tiến quân về sông Tích. Tôi và bác Điền ở lại, thế nào cũng vồ được thằng Bình cho mà xem.

– Tướng quân quả là đa mưu túc kế, – Bặc cười nói.

– Ấy, không phải ta, kế của Lưu Cơ đó, – Bộ Lĩnh vội xua tay thanh minh. – Việc này mà thành, thì quả là giời giúp ta. Trịnh Tú tiến cử, công lớn lắm.

Nghe vậy, Bặc và Liễn y kế, dẫn quân đi.

Quân do thám về cấp báo tin lành, nhưng Bình do dự không tin, bèn lên chòi canh nhìn ra xa xa, thì thấy đúng thế thật, bèn cười to:

– Quả là giời giúp ta rồi! Phen này, ta sẽ cướp được vũ khí hạng nặng như bỡn rồi!

Viên phó tướng nghe vậy, vội nói:

– Đinh Điền cũng là võ tướng dưới trướng Bộ Lĩnh đấy. Huynh đệ chúng nó gắn bó lắm.

Bình không coi Điền ra gì, bảo:

– Thằng ấy chỉ là con nuôi, giả tử mà thôi. Vả, nó là hạng võ biền.

Hôm sau, quân do thám lại báo về, hai đội quân của Nguyễn Bặc và Bộ Lĩnh, đạo ngược bắc, đạo xuôi nam, mang theo vũ khí hạng nặng đã đi xa rồi, Bình mới mặc áo giáp, đội mũ trụ, nai nịt gọn gàng, cưỡi ngựa ra cổng thành, lớn tiếng chửi mắng Đinh Điền. Điền không nói không rằng, vác chùy đá, nhảy lên ngựa, lao thẳng đến, nhằm đầu Bình, nện một phát như trời giáng. Bình không ngờ cú đòn ra nhanh như thế, cái thằng võ biền này, chẳng chửi mắng mào đầu gì đã chiến luôn. May mà Bình vội giơ khiên đồng lên đỡ. Nghe “choang” một tiếng, chùy đá vỡ tan, khiên đồng bay mất. Bình chưa kịp hoàn hồn, thì Đinh Điền đã rút côn mẫu tử giắt ở lưng ra, khua vùn vụt. Bình thất kinh, vội chạy về cửa trận, giật ngọn giáo của tên lính, rồi tế ngựa xông ra. Điền vụt ngang một phát, tưởng đã chụp được đầu địch thủ. Nhưng Bình nhanh mắt, né người, tiện đà giơ giáo tạo thế cuốn, kéo mạnh như chớp giật, thu được cây côn. Điền vội rút kiếm bên hông ra, nhưng kiếm không dài bằng giáo. Bình lợi thế sấn tới, toan đâm một phát xuyên hông. Bỗng đâu, Bộ Lĩnh cưỡi ngựa, cắp gươm xông tới, quát to:

– Thằng thất phu kia, sao dám vô lễ với anh ta?

Bình giật nảy mình, khi thấy bóng Bộ Lĩnh; nghĩ bụng, quái lạ, sao bảo nó đi lấy Thành Quèn cơ mà, nhưng cố trấn tĩnh, chửi lại:

– Thằng mục đồng này, dám lừa triều đình ư?

– Chính bọn mày toan cướp ngôi nhà Hậu Ngô, gây cảnh loạn lạc. Ta vâng lệnh giời, đến tảo thanh đây!

Đoạn, Bộ Lĩnh cầm thanh gươm ba cạnh, phi thẳng một phát. Lưỡi gươm bay như tia chớp trong nắng sớm mai, tiếng xé gió rít lên rợn người, ngù kiếm màu ngũ sắc, bay tỏa như đuôi chim phượng. Bình đờ đẫn, tránh không kịp, bị mũi gươm cắm vào cổ, xuyên ra sau gáy, ngã ngựa, chết tươi.

Quân lính sợ hãi, tháo chạy cả vào thành. Bộ Lĩnh thúc quân đuổi theo, ào vào thành Cổ Loa, thỏa sức chém giết, lấy thành dễ như trở bàn tay.

Bọn Bặc, Liễn cũng thu quân quay lại. Quân Cờ Lau làm chủ Thành Ốc.

Bởi lúc xuất binh, thấy Trần Lãm đã yếu lắm rồi, nên khi sắp chiếm được Cổ Loa, Bộ Lĩnh đã vội sai Đinh Điền, Lưu Cơ về gấp Bố Hải Khẩu, lo giữ hậu phương.

*

Ngô Xương Xí đang xây dựng thành Bình Kiều, thì có sứ giả của Đinh Bộ Lĩnh mang thư tới. Xí xem xong, bèn hội các tướng lại bàn:

– Bộ Lĩnh đã chiếm Cổ Loa, giết Lã Xử Bình, đuổi bọn Dương Huy, Kiều Công Hãn, Đỗ Cảnh Thạc chạy tứ tán cả.

– Thế cơ à? – Thái úy buột miệng kêu lên, đầy vẻ kinh ngạc.

– Nhưng, Bộ Lĩnh mời ta về, kế ngôi Thiên Sách Vương và Nam Tấn Vương, đặng giữ  gìn tôn miếu Ngô Tiên Vương để lại, – Xí hồ hởi nói to.

– Đinh Bộ Lĩnh là kẻ anh hùng đời nay. – Thái úy bồn chồn lo lắng, thấy Xí chuyển ý, nên chọc ngang, – nó được Ngọc khuê, lại có Rồng cõng qua sông, thế là mệnh Thiên tử. – Thái úy chắp tay, cúi đầu cố thuyết phục Xí, – mới đây, khi quân ta rời Cổ Loa, nó chẳng chặn đánh tam tứ phen, đấy thôi. Thái tử mà nghe lời dỗ ngon dỗ ngọt của nó, khác nào tự đưa chân vào bẫy, nước làm gì có hai vua. Thái tử cố giữ thành này, gây thanh thế, rồi lên ngôi kế tiếp tiền nhân. Đó là kế sâu rễ bền gốc.

Xí nghe vậy, không biết quyết thế nào cho phải. Các quan bàn tán phân tâm. Thái úy thấy vậy, liều nói to:

– Nếu Thái tử bỏ về, chúng thần xin đập đầu chết tại đây!

– Ấy chớ…, – Xí lại phản ứng yếu ớt.

Thấy vậy, ai nấy đều nhớ lại cảnh đang đêm chạy trốn khỏi Loa Thành, bị gãy trục xe.

– Thái úy một lòng vì công nghiệp của ta, – Xí bùi ngùi nói. – Chẳng lẽ, ta quay đi sao?

Nghe vậy, cả bọn ồ lên hoan hỷ. Thái úy bảo:

– Phải chém ngay sứ giả!

– Ấy chớ, sứ giả có tội tình gì? – Xí vội can ngăn.

– Chém sứ giả để thị uy với bọn mục đồng ấy. Chúng phải kiềng mặt, không dám lợi dụng danh nghĩa cao quý của nhà Ngô nữa.

Sứ giả bị chém rồi, Xí sực nghĩ ra, thế là thằng Thái úy khốn kiếp này, chặt đứt đường về Cổ Loa của ta rồi!

 

Chương ba

Loạn đả sứ quân

1.

Lã Đường, thuở nhỏ ở làng Khoai(4), lớn lên chuyển đến làng Bến(5), thuộc đất Tế Giang(6), cách chừng chục dặm. Đường xuất thân trong một gia đình hào trưởng giàu có, lại thêm chí lớn, nên thế lực ngày càng hùng hậu.

Khi nghe tin Đinh Bộ Lĩnh chiếm đóng kinh đô Cổ Loa, khiến Đỗ Cảnh Thạc phải chạy về Thành Quèn, thì Đường bàn với chư tướng:

– Thằng cụt tai mới chạy về đấy, chân ướt chân ráo. Ta phải lập tức, đập một nhát chết tươi!

– Nó từng làm Chỉ huy sứ thời Ngô Tiên Vương, không dễ lơ là đâu. Ta phải cẩn trọng mới được.

– Còn thua cả thằng mặt trắng Lã Xử Bình, thì tài cán nỗi gì? – Đường có ý xem thường Thạc, – ta không đánh ngay, để nó củng cố Thành Quèn vững chãi, thì khó công phá.

Lã Đường phán vậy, rồi dẫn quân bản bộ ra đi.

Thạc rút Cổ Loa, chạy về Thành Quèn, đắp đất dựng thành cao, biến sông Tích làm hào sâu. Đêm ngày, Thạc chăm lo củng cố căn cứ, phủ dụ dân chúng, bành trướng thế lực, thu cả vùng núi sông dưới chân Ba Vì làm hậu phương của họ Đỗ, gọi là Đỗ Động Giang.

Quân do thám báo, có bọn Lã Đường ở Tế Giang đang dẫn quân tới, Thạc bảo bọn tả hữu:

– Hẳn thằng này hồ đồ, cho rằng ta về đây còn chân nâng, nên rắp tâm cướp phá đây.

– Chưa hẳn, thưa động chủ, xem ra thì nó có học Binh pháp, nên mới vội vã cất quân tiến đánh, khi ta vừa mới hạ trại.

– Ồ, ta không chủ quan khinh địch, nhưng biết địch. Thằng này cũng từng chinh chiến mở rộng căn cứ. Khi đánh trận bị thương, có người đàn bà thuyền chài cứu chữa cho, nên nó lấy làm vợ.

– Quả là chủ tướng biết khá tường tận về địch nhân.

Thạc nghe vậy, trong bụng vui lắm, bèn gọi từng tướng lại, dặn nhỏ kế sách cứ thế, cứ thế…

Quân do thám của Đường về báo, lính Đỗ Động Giang đang đắp thành, chẳng phòng bị gì cả. Trên sông Tích có thấy luyện tập thủy quân, nhưng ngày tập, đêm nghỉ, thuyền bè buộc đầy bến sông.

– Quả là giời giúp ta rồi! – Đường khoái chí, kêu to, – đúng là mỡ nó rán nó.

– Đề phòng chúng nghi binh.

– Đêm nay, ta cho quân lén sang, chở thuyền về.  Quả thực, ta đang lo, không biết lấy gì vượt sông, tạo thế bất ngờ khi tấn công hướng này. Hà hà hà…

Đêm ấy, trăng suông lờ mờ, Đường cho quân lặng lẽ bơi sang, dìu hết thuyền về bên mình, rồi hối hả xếp quân lính, vũ khí lên. Khi hàng trăm chiếc thuyền ngập mạn vừa tới giữa sông, thì bỗng nhiên, một phát pháo hiệu từ Thành Quèn nổi lên, phá vỡ màn đêm. Lập tức, tên nỏ bắn xuống thuyền như mưa, khiến quân Tế Giang không sao tiến sang được, đành quay lại. Bọn chết tên, chết đuối không biết bao nhiêu mà kể. Số còn sống sót vội nhao lên bờ. Lập tức, hàng loạt tên lửa bắn sang, khiến những đống cỏ khô cháy đùng đùng, cả bọn sợ hãi chạy dạt vào chân núi.

Chúng chưa kịp thở, thì lại nghe phát pháo lệnh nổ, toán quân phục trong núi, ào ạt xông ra chém giết. Tình thế nguy kịch, Đường hô to:

– Đằng sau là sông bốc lửa, đằng trước là núi cao, không liều chết thoát “Bối thủy trận”,  thì không có lối về.

Nghe vậy, quan quân liều chết quay lại kháng cự như lũ trâu điên, khiến quân Đỗ Động khiếp vía, dạt cả ra. Đường dẫn tàn quân chạy lên núi, cố thủ. Quân Đỗ Động hè nhau vây ráp.

– Chủ tướng, đang đêm thế này, phải mở đường máu mới thoát được. Chứ nấn ná trời sáng là khó lắm.

– Nhưng quân lính thất tán cả, làm sao mà tập hợp? – Đường lo lắng hỏi.

– Cốt là chủ tướng bình an giở về. Còn quân lính, hết đám này, thì tuyển đám khác. Dân Tế Giang thiếu gì trai tráng?

Nghe bùi tai, Đường cùng bọn tâm phúc lợi dụng đêm tối trốn thoát. Đám tàn quân Tế Giang chui lủi trong hang núi, bị Thạc vây ép không có đường ra, đành ôm nhau chết đói cả. Đời sau, dân chúng thương tình xây một cái bể to trong hang, thu nhặt những nắm xương tan chất vào đấy, để thờ cúng cho đỡ tủi hổ vong hồn. Những người lính xấu số ấy, được dân chúng gọi là nghĩa quân cho sang trọng.

Than ôi, quân trung mà trong tay tướng hèn thì cũng chết uổng mạng.

2.

Sau khi bỏ thành Cổ Loa, mặc cho Lã Xử Bình đánh nhau với Đinh Bộ Lĩnh, Kiều Công Hãn chạy về Phong Châu.

Thấy thế lực của Đinh Bộ Lĩnh đã hùng cường gấp bội, so với thời cờ lau tập trận, lại có Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu hậu thuẫn, nên Hãn nghĩ bụng, thế nào nó cũng bành trướng khắp vùng, ta phải phòng bị vững chắc mới được. Một mặt, ta cần khoa trương thanh thế, đường đường là Thứ sử Phong Châu, do chính tay Ngô vương phong chức cơ mà; mặt khác, phải củng cố Tam Giang, Phù Lập làm thế ỷ dốc; rồi nữa, chiếm luôn Hào Châu, Thái Châu. Nếu ta đánh luôn thằng Khoan, thì đất rộng thêm đến Tam Đái, lại chứng tỏ sức ta cường, lực ta mạnh, chứ không phải sợ thua thằng mục đồng ấy mà chạy khỏi Cổ Loa đâu? Chẳng qua, ta tính kế lừa địch. Thằng Bình mặt trắng ta còn chẳng sợ, lại dám làm tứ hổ tranh hùng đấy thôi…

Nghĩ vậy, Hãn dẫn quân vượt sông, đi đánh Tam Đái.

Khoan trấn thủ vùng Tam Đái, dựng phủ trên gò Biện Sơn, đóng đồn ở gò Đồng Đậu. Khoan chú trọng mộ quân luyện binh, lại chăm lo đời sống dân chúng, nên thế mạnh và được lòng người. Dân chúng trong vùng tôn Khoan là Quảng Trí Quân, nghĩa là ông vua có đức lớn, tài cao. Căn cứ Tam Đái trở nên trù phú, dân gian có câu: “Nhất Tam Đái, nhị Khoái Châu” là vậy.

Quân do thám cấp báo việc Hãn hành binh tiến đánh Tam Đái, Khoan bảo các tướng:

– Thằng Hãn động binh chuyến này, chẳng qua là để thanh minh với bàn dân thiên hạ, về việc bó chạy khỏi Cổ Loa mà thôi.

– Sao nó phải làm thế?

– Thực ra, nó định một công đôi việc: nhất là, chữa thẹn với quan quân Phong Châu; nhị là, mở rộng đất đai cát cứ, – Khoan tự tin, như đi guốc trong bụng Hãn vậy. – Nhưng ta lấy quân nghỉ ngơi mà đánh quân mệt nhọc, thì lo gì không giữ được Tam Đái. Có khi, nhân đà, ta làm cỏ luôn Tam Giang của nó không biết chừng.

Các tướng nghe vậy, trợn mắt kinh hãi, lòng càng thêm phục chủ tướng. Thảo nào, Khoan tự xưng là Nguyễn Thái Bình.

Hãn cho quân vây chặt Biện Sơn, Gò Đậu. Khoan cố thủ không ra. Quân lính Tam Đái đánh chiến thuật du kích, cho lẩn quất trong rừng núi, làng bản, thỉnh thoảng nhè sơ hở đánh ào một cái, rồi rút chạy tắp lự, khiến bọn Hãn không biết đâu mà lần.

Một hôm, Hãn dụng kế khích tướng, cưỡi ngựa ra trước trận, quát to lên rằng:

– Con chuột Nguyễn Khoan kia, sao cứ lản tránh trong hang mãi thế?

Khoan múa giáo ra trước trại, mắng:

– Mày còn thua cả Lã Xử Bình, tháo chạy khỏi Cổ Loa, thì còn có gì giắt lưng mà dám mò tới đây khua môi múa mép?

– Chẳng qua là ta để bọn Xử Bình, Bộ Lĩnh tranh ăn mà thôi. Người xưa từng dạy, tọa sơn quan hổ đấu. Nếu ta yếu lực, đâu còn sức mà vây ép thế này, làm cho Tam Đái của mày sống dở chết dở?

– Thằng Bình từng phò tá Ngô Xương Văn, năm xưa lên đây tác oai tác quái. Nhưng chỉ một mũi tên “Thái Bình” của ta bắn ra, cũng khiến chúng nó lôi xác nhau chạy về chẳng kịp. Ngươi xem đây!

Khoan huơ huơ cây giáo tre, thân vẽ hình vằn vện như rắn cạp nong, lắp mũi giáo búp đa bằng sắt, lại có ngạnh, đeo ngù như thương, nom rất kỳ quái, hòng thôi miên đối thủ, khiến  Hãn nhìn theo như thể bị rắn hớp hồn. Bất ngờ, Khoan phóng mạnh một phát, cây giáo bay như rắn lội. Hãn vừa kịp né người, thì Khoan đã giương cung, tức thì nghe “pựt” một tiếng, mũi tên đã cắm ngay vào giữa ngực, may có mảnh trấn tâm che chở, cản được mũi tên độc. Hãn tức mình, hô quân đánh ào lên. Khoan vội rút lui và phất tay ra hiệu bắn nỏ. Tên bay như mưa, quân Hãn chết chồng đồng. Bọn Hãn đành lùi lại, chỉnh đốn thế trận.

Vây hãm mãi mà không hạ nổi Tam Đái, mùa mưa lại đến, nước sông lên to, tiếp tế khó khăn, nên Hãn để lại một toán khoa trương thanh thế nghi binh, cho đại quân lặng lẽ rút lui. Bọn quân ở Gia Loan, Giã Bàng, Vĩnh Nỗ, Ao Náu… lập tức chặn đánh, khiến quân Hãn phải co cẳng chạy dài. Kết cục, Hãn không lấy được Tam Đái, lại hao người tốn của, nhụt chí khí quan quân. Còn Khoan, vẫn giữ được cương thổ, chỉ tốn mấy vạn mũi tên mà thôi.

3.

Dương Huy lượng sức không địch nổi Bộ Lĩnh, bèn chạy về Vũ Ninh(7). Nguyễn Thủ Tiệp thấy cơ hội ngàn năm có một, liền cất quân Tiên Du(8) ào sang Vũ Ninh. Thứ sử Dương Huy thất kinh, kêu lên:

– Rõ là quân ăn cướp, nhưng một mình “thằng giặc sấm ấy”, ta không sợ, chỉ lo anh em nhà nó cùng hợp binh mà thôi. Thằng anh cả của nó từng bắn chết Nam Tấn Vương, vừa giờ lại đánh lui được tay Hãn. Lại còn thằng út ở Tây Phù Liệt(9) cũng tác oai tác quái không ngừng.

Bọn quan quân cũng lo thay cho chủ. Bỗng một tên bước ra nói to:

– Anh em nhà nó tuy mạnh, nhưng chưa kịp phối hợp với nhau. Chẳng qua, nó là lân bang, nhân cơ hội ta vừa ở kinh đô giở về, mà làm càn đấy thôi.

– Cổ Loa ta còn chẳng sợ, sợ gì Tiên Du? – Huy mạnh mồm trấn an quan quân.

Bọn chúng đang bàn định chưa xong, thì chợt nghe tiếng la hét dậy trời. Thảo nào, người ta gọi Thủ Tiệp là Lôi Công, tức Ông Sấm. Huy cả kinh, nhìn ra ngoài thành, thấy khói bụi bốc lên mù mịt, bóng người, ngựa thấp thoáng nom như thể thiên binh vạn mã.

Huy vội cắt đặt quân mã phòng thủ, rồi cưỡi ngựa ra ngoài thành, đánh nhau với Tiệp. Tiệp ngồi trên lưng ngựa, trỏ roi mắng:

– Nhà ngươi khôn hồn thì đầu hàng, sẽ được bảo toàn tính mạng.

Huy tức khí quát:

– Mày là lân bang, anh em vẫn thường uống rượu với nhau, sao giở mặt như giở bàn tay vậy?

– Ngươi còn dám tranh vương với Cổ Loa, sao còn mở miệng trách ta?

– Thằng anh mày phạm tội giết vua. Chúng mày đáng phải chu di tam tộc. – Huy vung lưỡi kiếm lá sáng loáng lên, hô to, – hãy nếm một mũi kiếm của ta!

Hai bên tế ngựa, xông vào đánh nhau. Quân sĩ cùng hò reo khích lệ. Thanh kiếm lá hai cạnh của Huy vung lên như tia chớp. Tiệp cũng rút cặp đoản đao ra, tay phải múa tít nghênh chiến, nhưng tay trái lừa miếng, phóng mạnh một phát, lưỡi đao trúng ngay vào mắt ngựa đối phương, khiến con ngựa nhảy dựng lên, làm Huy chới với. Tiệp nhanh tay dùng đao gạt kiếm, đâm chết Huy, khi chưa kịp rơi xuống đất. Quân Tiên Du thấy vậy, ào vào thành Vũ Ninh đốt nhà, chém người, cướp của, hãm hiếp… Tiếng kêu la vang ịch, khói lửa bốc lên ngút một góc trời.

Nguyễn Thủ Tiệp thu vùng đất Vũ Ninh, sáp nhập vào Tiên Du, xưng là Vũ Ninh Vương, mở rộng giang san, hùng cứ một vùng.(10)

VŨ XUÂN TỬU

(Còn tiếp)

___________________

(1) nay thuộc tỉnh Giang Tô (Trung Quốc).

(2) độ dài 1 trượng = 10 thước, chừng 4 mét.

(3) độ dài 1 thước khoảng 0,4 mét

(4) nay là làng Minh Khai, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

(5) nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

(6) nay là xã Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

(7), (8) nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.

(9) nay thuộc huyện Thanh Trì, thủ đô Hà Nội.

(10) nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.

(Còn tiếp)

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 1

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 2

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 3

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 4

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *