Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 6

11

VHSG- Trụ sở Khu vực Sín Chải là một ngôi nhà ba gian nằm trên sườn một quả đồi thấp. Trước đây ngoài nhà trụ sở ra còn có năm nhà quần tụ. Một lần một người đốt nương sơ ý làm cho hai nhà trong xóm bị thần lửa liếm sạch. Cho là thần rừng, thần đất không dung mình nên cả năm nhà cho gia tài lên lưng ngựa đi tìm vùng đất mới chỉ còn lại cái nhà trụ sở chơ vơ trên sườn đồi.

Ngôi nhà vắng lặng như nhà hoang. Tiếng là nơi thay mặt châu quản lý, chỉ đạo các hoạt động của dân chúng trong tám xã rộng lớn nhưng thực ra cán bộ phụ trách khu vực Sín Chải chỉ là cái cầu nối trung gian giữa tám xã với châu, giữa châu với tám xã. Cũng như thế, nhà Khu vực chỉ là nơi dừng chân của các cán bộ có công việc. Cán bộ châu, tỉnh xuống cơ sở làm việc: Gặp gỡ, báo cáo nội dung, xin ý kiến của phụ trách khu vực rồi lại tất tả xuống xã. Không gạo nước mắm muối mang theo mà nằm ở nhà khu vực thì chỉ có đường uống nước lã trừ cơm. Cán bộ xã lên phụ trách Khu vực làm việc, họp hành túi dết nào cũng có nắm cơm, xâu thịt, ống rượu. Họp hành, báo cáo, nhận chỉ thị xong là lôi cơm, rượu, thịt ra chia sẻ với phụ trách khu vực rồi lại ngật ngưỡng ra về. Ông châu ủy viên phụ trách khu vực to chỗ nào không biết nhưng với sáng với tối chỉ như người coi cái nhà hoang. Giữa vùng nóng lạnh thất thường, trong ngoài bất nhất mà sống trong cảnh cô lập, không dân, không quân, thiếu cả tiếng người sớm tối là không nên, song Bắc kiên quyết không dọn vào ở với dân. Việc không vào ăn ở trong nhà dân của anh có nhiều lý do. Sợ bị phiền hà, bị mua chuộc, dụ dỗ có. Sợ dân bị liên lụy có. Sợ không có nơi họp hành, làm việc có… Nói chung Bắc sợ nhiều thứ, nhưng cái anh sợ nhất là bị dân làm phản. Năm 1953 anh được điều về phụ trách khu vực Tả Ngảo. Lúc đó trên báo cáo của xã, của khu vực và bộ đội thì lực lượng phỉ ở khu vực Tả Ngảo đã bị đánh tan, nhưng trên thực tế mấy trăm tên phỉ bại trận đang núp bóng dân, bóng rừng, hội này, hội nọ chờ thời. Sự mai danh ẩn tích của chúng khéo léo đến nỗi ta không còn biết đâu là thực, đâu là giả. Ngày Bắc về Tả Ngảo có cán bộ xã, cán bộ thôn mang ngựa ra tận châu đón. Không cờ dong trống rước, không khẩu hiệu chăng dọc đường, không hoan hô mỏi miệng nhưng Bắc vẫn giống như vị tướng giữa đám tùy tùng. Anh lên ngựa có người đỡ chân, mỗi chặng nghỉ có cơm rượu dọn mời. Mỗi câu hỏi, mỗi cái nhíu mày của anh đều có người xum xoe giảng giải. Choáng hơn nữa là nơi ăn, ở, làm việc anh được xếp vào nhà Giàng Cồ Pao, một địa chủ lớn trong vùng. Tiệc đón mừng anh có cả món Tây, món Tàu, rượu ngâm hổ cốt. Rồi bữa nào cũng như ăn cỗ. Rồi buồng ngủ thoáng mát, yên tĩnh, đầu giường có  bàn đèn, thuốc phiện… Đang lo sốt vó chuyện thân cô thế cô, không biết tiếng địa phương, không am hiểu phong tục, bỗng chốc được ăn ở như ông tướng ai mà không mừng, không cảm ơn giời đất. Anh đâu ngờ bước vào nhà Giàng Cồ Pao là anh bước vào hang hùm. Có được anh ở trong nhà, được anh nhận làm anh em kết nghĩa, Pao ngang nhiên phô trương thanh thế, áp đảo chỗ này, nạt nộ chỗ kia, khiến cho dân chúng trong vùng hoang mang, sợ hãi, cái đầu rùa vừa thò ra lại rụt lại. Có anh làm bình phong, bọn phỉ ngang nhiên đi lại, bàn bạc, gây dựng lực lượng. Việc này nối tiếp, chồng lên việc kia, việc kia phản lại việc nọ, lúc thật, lúc giả, lúc biết, lúc không, làm cho anh như cuộn lanh rối, đúng, sai, phải trái tùng phèo, nhiều lúc anh cảm thấy mình như đang chờ lên thớt. Mà anh phải lên thớt thật. Ngày Tả Ngảo nổi phỉ, chính Giàng Cồ Pao bắt anh mang xuống thung lũng hành hình. Mãi mãi anh không thể quên được cảnh mình bị trói như bó giò vào cái cọc giữa bãi. Trước mặt anh là bốn cái bếp lò cháy rừng rực. Trên bốn cái bếp là bốn cái chảo đại. Mỗi cái chảo chứa đầy thịt, lòng ngựa. Từ bốn phía người nườm nượp đổ về thung lũng. Súng ống, côn, gậy, dao quắm, giáo mác nghênh ngang, bao tải, địu, sọt loằng ngoằng, ngựa phi rầm rập. Ô hợp, lổn nhổn, man rợ… đủ mọi loại người, lành có, rách có, đi giày, đi dép, hải sảo có, chân đất có… Nhìn vào cả bọn không biết đây là cuộc đi cướp hay đi hôi của.

Nhà văn Đoàn Hữu Nam

Giữa giờ Thìn, Giàng Cồ Pao nét mặt hầm hầm nhảy lên cái bàn cao, lập tức mười mấy người cầm súng quây quanh hắn lấy uy.

Pao nhìn khắp lượt rồi dõng dạc:

– Ta gọi các người đến đây, cho các người mặc sức ăn no uống say rồi mời các người theo ta đi đánh, đi cướp. Các người đừng sợ, nước Pháp hùng mạnh đang tiếp sức cho ta cho bằng người, bằng của. Đạo quân lớn Tưởng Giới Thạch sắp tràn qua đây. Nhiều nơi đã nổi lên cùng ta, vậy các người có tuân lệnh ta không?

Lời của Giàng Cồ Pao vừa thả ra khỏi miệng lập tức những tiếng hô, tiếng hú hét ủng hộ vang lên như thác lũ.

Giàng Cồ Pao lại dõng dạc:

– Tốt, tốt. Tuân lệnh ta các người xuống châu cướp được cái gì của các người cái đó, không tuân lệnh ta, dù ta có đau lòng ta cũng phải giết hết. Trước tiên ta sẽ giết tên Việt Minh này để làm gương cho các ngươi thấy sự kiên quyết của ta.

Theo lệnh Pao một tên ra dáng đao phủ bê cái chậu, trên mặt chậu đặt ngang con dao dài sáng loáng.

Rất may, Giàng Cồ Pao chưa kịp lột da mặt rồi cắt tiết Bắc như hắn tuyên bố thì tiếng súng giải vây của bộ đội kịp đưa anh thoát khỏi tử thần. Từ lần chết hụt đó, dù công việc thế nào Bắc cũng sắp xếp để không ngủ qua đêm trong bất kỳ một nhà dân nào.

*

*       *

Pham dìu Bắc vào trong giường, đặt anh nằm xuống rồi tất tả thắp đèn, lần tìm xuống bếp nổi lửa, lấy gạo nấu cháo, ra vườn nhổ hành mang về rửa. Cô quên mình đang trốn chạy khỏi địa ngục trần gian mà thấy mình đang là người chị cả đang chăm sóc đứa em út bị ốm.

Cháo chín, Pham bê lên, nhẹ nhàng đánh thức Bắc dậy. Mùi thơm từ bát cháo hành có đập mấy quả trứng tỏa ra đánh thức cả con tỳ lẫn con vị, Bắc ngoan ngoãn húp hết bát cháo, uống cốc nước nóng pha mật ong rồi lại thiếp đi trong mệt mỏi, dễ chịu.

Pham ngồi canh cho Bắc ngủ.

Nhìn Bắc thiêm thiếp ngon lành lòng Pham như có lửa. Mẹ Pham sinh ra Pham vào mùa đực cái, lại rơi đúng vào đêm trăng rằm. Trong khoáng đạt của rừng núi bao la, trăng là nước chảy tràn trên mặt đá, là lửa hâm nóng từng mạch máu các loài vật ăn thịt, ăn theie, nhìn trăng là thấy sự sinh sôi, nhìn trăng là thấy mơ thấy mộng.

Pham  lấy trong túi ra cái gương con.

Cái gương phản chiếu khuôn mặt rạo rực của Pham.

Phải nói là Pham đẹp. Sinh ra giữa rừng, được ánh trăng nhuộm thỏa thuê từ lúc chui ra khỏi bụng mẹ nên Pham được thừa hưởng khá nhiều lộc của chị Hằng Nga. Ngày Pham được sinh ra, bố Pham lặn lội lên tận đầu con suối thiêng mang về hai ống bương nước. Từng gáo nước thiêng cùng với lời khẩn cầu của người cha thấm vào, tan chảy trong da thịt Pham. “Gáo nước nước này do thần rừng ban tặng sẽ làm cho da con gái ta như phấn của hoa, như hương của đất. ”, “Gáo nước này là nguồn sữa của thần suối ban cho, nó sẽ làm cho tóc của con gái ta đen như gỗ mun, chảy dài như dòng chảy của thần.”, “Gáo nước này là ánh trăng soi qua kẽ lá, nó sẽ làm cho mắt con ta lóng lánh như mắt nai, tinh anh như mắt chồn, trong sáng như giọt nước mắt sung sướng của thần núi mỗi khi đón ánh bình minh.”…. Mỗi gáo nước là một lời khẩn cầu, một ước muốn cháy lòng. Những gáo nước cùng những lời khẩn cầu của bố Pham đã được giời đất, các thần cho thỏa nguyện. Pham xinh đẹp như người giời. Da dẻ cô mát rượi như da rắn, trắng như vớt ra từ thùng bột gạo nếp. Đôi mắt cô lúc nào cũng lọc hết bụi bặm, cực nhọc, trong veo như sương mai. Mái tóc đen mượt thả dài tới khoeo bồng bềnh như dòng suối chảy giữa rừng thưa. Chạm tuổi mười ba các chàng trai quanh vùng đã bu lấy cô như ong bu hoa, kiến bu mật.

Nhưng người đẹp là gốc của tai họa. Tai họa từ trong ra, từ ngoài vào. Cái đẹp giữa nhầy nhụa, bẩn thỉu lại càng tai họa, càng giống như bông hoa cắm lên bãi phân người.

Trong thế giới của phân gio giòi bọ mà nổi lên trong sáng, thanh khiết thì trong sáng, thanh khiết liền trở thành tâm điểm của sự ganh ghét, ham muốn. Pham biết điều đó. Cô gắng vượt qua điều đó, song muôn sự tại giời, cô tránh được tai họa ngàn lần, đến lần thứ một ngàn linh một thì cô bị bố chồng làm nhục.

Lần ấy Pham đi lấy củi về. Những thanh gỗ sến nục nạc như những thanh giò, chắc, nặng như những thỏi sắt đè nặng lên cái cơ thể vốn sinh ra để làm trò tung hứng đã làm cho cô mệt đứt hơi. Về đến đầu hồi cô lựa thế, mắm môi mắm lợi ghệ gùi củi lên tảng đá rồi ngã ngửa, thả lỏng người ra nằm thở. Đang trưa. Mặt trời, kẻ thù truyền kiếp của cô xối những tia nắng chói chang xuống mặt đất làm da thịt cô đỏ như con tôm luộc.

Xả hơi được một lúc Pham mở cửa vào nhà.

Không có ai ở nhà, mà dẫu có ai thì cái nhà này lâu nay vẫn vắng vẻ như nhà mồ.

Theo thói quen Pham vào buồng tắm chỗ đầu hồi lột bỏ quần áo rồi từ từ thả mình vào cái máng chứa nước. Dòng nước mát lạnh xối xuống lòng máng hình con thuyền nhanh chóng xua tan mệt nhọc, dâng lên trong cô một cảm giác lâng lâng, dễ chịu.

Pham đang nhắm mắt ngâm mình trong máng nước thì bên ngoài bất chợt một luồng gió mát lạnh đến rợn người ào tới. Cô hốt hoảng nhìn qua kẽ vách trống hoác. Trước mắt cô, cả chân trời phía Tây là một biển mây đen ùn ùn đùn lên che lấp. Từ trong biển mây đó những cái lưỡi thần sét loằng ngoằng như lưỡi rắn bổ xuống núi, xuống rừng. Một chiếc vòi màu xám khổng lồ bỗng bốc vọt lên cao để lại một khoảng hẫng rồi bất ngờ chụp xuống. Cây cối, thú vật, nước, cá, bùn đất từ rừng, ruộng, sông, suối  được cái vòi cuốn tròn rồi theo vòng xuáy của nó tạo nên cái vòi rồng khổng lồ.

– Thần rồng – Tiếng hét bật ra khỏi miệng Pham.

– Thần rồng – Cùng với tiếng hét của Pham là tiếng hét của những người đàn ông, đàn bà trong bản.

– Thần rồng – Tiếng rên của người già chìm nghỉm trong tiếng quang quác hốt hoảng của ngỗng kêu, lợn hộc, ngựa hí, của nháo nhác bầy chim bay rợp đất.

– Thần rồng – Cả rừng, cả bản chết lặng. Hổ gầm ngoài ngõ, chó cụp đuôi chui vào gầm sàn run rẩy, gà táo tác bay nhảy khắp nơi, con người  nhanh chân tìm chỗ thoát thân cho mình.

Đã thành lệ, cứ năm năm, mười năm lại một lần thần Rồng trườn qua cái thung lũng Phòng Tô khốn khổ. Đi theo vệt trườn là đất cát, cây cối, nước nôi, nhà cửa tan hoang. Hoảng sợ trước sự tàn phá của thần, lo cho sự sinh tồn của mình, các nhà trong vùng đều đào cho mình một cái hang tránh nạn ngay vách núi sau nhà.

Pham sợ hãi vọt ra sau nhà, lập cập mở cửa chui tọt vào hang tránh thần Rồng. Cùng lao vào với cô cơ man là rắn. Con đỏ, con xanh, con đen, con trắng, con to như bắp tay, con bé như đầu đũa, tất cả rào rào chen nhau, ngơ ngác. Bình thường loài săn mồi máu lạnh này luôn là mối nguy hiểm của các loài vật biết đi, biết bò, biết bay trên mặt đất, nhưng trước cơn thịnh nộ của thần Rồng, trước sống chết liền kề thì sợ hãi làm chúng cụp đầu, tá hoả, nọc độc từ những răng chuyên giết mồi tan ra, toát hết ra vẩy, ra cứt đái, chúng rào rào lao theo nhau tìm chỗ ẩn nấp.

Pham chưa kéo sập được cửa hang thì đàn rắn đã lớp lớp cuống cuồng ngọ nguậy dưới chân. Cô sợ cuống lên, chân tay run rẩy, mắt lồi ra, người cứng như khúc củi, song tuyệt vọng, cùng đường đã cho cô sức mạnh, làm cho người cô hừng hực một sống một chết. Cô nghiến răng vơ đại cổ một con rắn quật mạnh vào vách hầm, miệng hét lên:

–  “Chết này!”.

Sau tiếng bốp, tiếng “chết này” là toàn thân con rắn nhũn như dọc mùng thối, máu ứa ra từ mũi, từ mồm.

– Bốp – Chết này – Một con nữa đi chầu ông vải.

– Bốp  – Chết này – Con nữa nằm chảy thượt.

– Bốp – Chết này! …

Bốp – Chết mở cho Pham đường sống, dồn lũ rắn chết tiệt vào đường tuyệt diệt.

Bốp – Chết làm cho Pham sức mạnh, cảm giác được sát sinh dâng lên ngùn ngụt.

Pham đang hứng khởi đến man dại với trò chơi bốp – chết thì một người đàn ông cởi trần đóng khố ào vào. Người đàn ông đó là bố chồng Pham, lão đang quăng chài bên bờ suối, thấy thần Rồng bò đến, lão cuống cuồng quẳng chài, quẳng giỏ chạy ngược lên. Đôi chân chó thuận đường nhanh chóng đưa hắn chui vào hang tránh thần của nhà mình. Vào trong hang, lão rùng mình khi nhìn thấy bầy rắn lúc nhúc ngóc đầu dưới chân còn con dâu lão đang hăng hái chiến đấu với bầy rắn.  Theo bản năng của kẻ cùng đường và được bản anh hùng ca bốp – chết của con dâu tiếp sức, lão tựa lưng vào Pham  rồi quào tay vớ đại một con rắn vung tay ném mạnh.

– Bốp – Chết này – Một con rắn bị quật vào vách hầm chết tươi.

– Bốp – Chết này… chết này… Cũng như Pham, sau mỗi tiếng gào của lão là một con rắn hồn lìa khỏi xác.

Bên ngoài hang, thần Rồng đang thích thú với việc chầm chậm bò qua rừng, núi, sông, suối.

Bên trong hang, có thêm người chiến đấu với bầy rắn, Pham càng vững tin hơn, bạo liệt hơn, trò bốp – chết càng mau hơn.

Bên ngoài, nước suối, nước sông, cây cối, cát sỏi, những con vật không kịp chạy bị thần cuốn vào bụng quay tròn như trong cối xay lúa. Vạn vật chưa kịp tiêu hóa đã tuột khỏi bụng thần rơi rào rào xuống đất, ngổn ngang thành vệt.

Bên trong, bản hòa tấu bốp – chết làm cho nền hang ngập trong xác rắn, máu rắn, dớt rắn lùng nhùng.

Khi bầy rắn không còn con nào cất đầu lên được, hai người hứng khởi quay mặt lại với nhau.

– Trời ơi! – Pham kêu lên thành tiếng. Bây giờ cô mới nhận ra người đứng giáp mặt với cô là ông bố chồng. Như như một chiến binh vừa chui ra khỏi cuộc chiến giáp lá cà, trên người lão chỉ mặc độc một cái khố sờn, máu rắn, dãi dớt rắn phủ khắp những mảng da trần đen bóng.

– Trời ơi! Bố chồng Pham cũng ớ người trước vẻ đẹp lộng lẫy của con dâu. Lão biết Pham đẹp. Có đẹp lão mới lấy về làm dâu, nhưng lão không ngờ con dâu lão đẹp lộng lẫy đến thế này. Và nữa, cũng như lão, Pham vừa chui từ trong trận chiến với bầy rắn ra, hào khí của chiến thắng còn phừng phừng trong mắt, trong da. Con rắn hổ mang chúa trong người lão trỗi dậy đòi quyền sống. Cái đầu rắn, thân rắn lực lưỡng, cứng như thép của hắn đội lên dứt đứt dây khố, bật ra như cái bẫy cần. Lão thoáng ngần ngừ rồi hai mắt trợn ngược, hai hàm răng nghiến chặt, hai tay kẹp cứng cái thân hình nõn nà còn loang lổ máu rắn của con dâu.

Bất ngờ làm cho Pham chết lặng người. Cô cố vùng vẫy, nhưng càng vùng vẫy người cô càng lún sâu vào lầy thụt. Hai đùi cô khép chặt chống đỡ song dãi rắn trên đùi, trong cái hang thăm thẳm cứ dần dần dẫn đường cho con rắn chúa chui sâu vào trong da trong thịt.

Pham run rẩy lả đi.

Bố chồng Pham đỡ Pham nằm xuống cái nền hang ngập trong xác rắn, bản anh hùng ca bốp – chết tiếp tục tấu lên cho đến khi cô lịm đi trong đau đớn và tội lỗi.

Pham nằm lịm đi giữa đống xác rắn không biết đến bao lâu cho đến khi một luồng ánh sáng chiếu vào cô mới bừng tỉnh. Cô rùng mình, quanh cô xác rắn, máu rắn, nhớt rắn tanh tưởi ngập ngụa.

Định hình được những việc đã trải, Pham như người vừa chui ra khỏi địa ngục, cô lảo đảo ra khỏi hang trong đau đớn, tủi hổ, ngượng ngùng bóp nghẹt. Trong nhập nhòa, chới với, cô hoa mắt. Trước mắt cô là mấy cái sào dài treo đầy rắn. Hàng trăm con rắn bị treo cổ. Con chảy thượt như sợi dây thừng bện bằng tơ. Con báo hiệu sức tàn của mình bằng cách vặn vẹo, ngọ quậy. Con, hai mắt lồi ra như căm hận, như không hiểu chuyện gì đang sảy ra. Chui vào giữa cả trăm con rắn bị treo cổ ấy là bố chồng cô. Đôi mắt lão sáng rực, toàn thân chỉ che hờ cái khố sờn, thân thể bị kích động như lên đồng. Lão cầm con dao sắc nhọn lách lách lách từng con rắn để đo độ sống chếla. Thấy cái đuôi nào ngoe nguẩy là lão túm lấy, sau nhát xoẹt của con dao nhọn sắc ngọt là cái mồm tham lam bập ngay vào mút lấy mút để. Máu rắn phè ra hai bên mép lão. Máu rắn vẽ rồng vẽ rắn con trên cổ, trên ngực lão. Máu rắn biến nước da màu chì của lão đỏ rực lên như l… phải phát. Ai uống được tiết một trăm con rắn thì sẽ thọ một trăm tuổi, ngần kia con rắn đã chết một lần lại phải chết thêm lần nữa để cho lão kéo dài tuổi khốn tuổi nạn bao nhiêu năm nữa…

Mắt Pham hoa cà hoa cải. Trời đất, rừng núi quay cuồng, cô bỗng thấy nhói lên ở bụng dưới. Cô sụm người, cúi gập mình, máu rắn, dãi rớt rắn, dãi dớt từ của quý của lão bố chồng khốn nạn hòa vào máu của cô thành từng cục máu đỏ lòm, nhầy nhụa, nhớt nhèo trôi xuống đùi làm cô giật mình. Vậy là đứa con trong bụng cô đã theo dãi dớt rắn trôi ra. Con trẻ là cục vàng giời ban sau trận mưa đá, là sợi dây rừng nối từ sự sống này đến sự sống khác. Cô và bố chồng cô đã đang tâm ném cục vàng xuống vực, đã nhẫn tâm chém đứt sợi dây nối đời nhà họ Lý. Tội này voi dày, thuồng luồng nuốt… Pham lảo đảo vào nhà, chui vào máng nước kỳ cọ cho đến khi người ngợm rực lên mà mùi rắn, mùi nhục nhã vẫn ám vào da vào thịt. Pham vào buồng nằm vật ra. Với người Dao, sinh nở là duy trì nòi giống đời đời, kiếp kiếp, là trong nhà có thêm người gánh vác công việc, là rìu nối thêm cán cho  họ tộc, làng bản. Dẫu là con nghiện thả ba phần tư tính người cho chó ngao nhai nuốt nhưng khi Pham thủ thỉ chuyện giọt máu đọng lại trong người, chồng cô như phát rồ. Hắn ấn vội cơn nghiền xuống đáy ruột, chạy vội đi bắt gà làm lễ thông báo với tổ tiên rồi coi Pham như quả trứng. Từ mầm sống đọng lại tổ tiên họ Lý mới nhòm ngó đến cô. Có mầm sống nữ thần Phình Miền (nữ thần phù hộ cho sự sinh đẻ) mới mỗi tháng một lần nhập vào cô làm bạn. Có mầm sống cô mới biết thế nào là kiêng không đốt củi đằng ngọn, không bước qua chạc buộc trâu, không được nói tục, không khâu vá quần áo cũ… Mấy năm giời làm chó làm trâu cho nhà họ Lý đến lúc này cô mới được trở lại làm người, vậy mà bây giờ…

Trong căn buồng chật hẹp Pham một mình vật vã tức tưởi, day dứt, ân hận, cô chỉ mong chồng trở về để trút vợi nỗi xót xa, uất ức. Vừa nhìn thấy cái bóng liêu xiêu từ dưới suối lên Pham đã vùng dậy chạy lại ôm chặt lấy chân hắn, nước mắt tuôn, lời tuôn như nước vỡ phai. Chồng Pham bị bất ngờ, hắn ngây người không hiểu. Hắn đá cô như đá cái thúng rách, nhưng cứ đá ra cô lại nhoài vào làm con vắt bám háng trâu.

Rồi thì kẻ nghiện ngập cũng kết nối được những lời lẽ lộn xộn. Những tưởng đau đớn của vợ sẽ kéo tuột hắn vào dòng sông nước mắt, nhưng không, hắn hết nhìn cô như nhìn con chuột chù phải bả đến nhìn người mà hắn gọi là bố đang điềm nhiên nhắm rượu với thịt rắn luộc. Hắn chợt hiểu. Đau đớn, nhục nhã bùng lên, cái máu vũ phu được nuôi dưỡng trong cam chịu, bực dọc, khinh bỉ cùng máu điên vì mất đứa con nối dõi nhập vào hắn. Hắn lồng lộn đấm đá mọi thứ trong tầm tay, tầm chân. Hắn tru lên những tiếng dài bất lực. Hắn vồ lấy Pham, nhấc cô lên như nhấc cái giẻ rách, miệng gầm lên:

– Đồ ống điếu thối tha, mày, mày làm mất con tao rồi!

– Mày là đồ rắn độc… tao… tao phải giết mày…

Pham oằn mình chịu trận đòn thù. Cô liếc ra gian bàn thờ, bố chồng vẫn lẳng lặng ngồi uống rượu, coi như câm, như điếc, như vô can. Đau đớn trên cơ thể bầm tím, rách nát không đau đớn bằng nỗi đau từ con tim lá gan trào ra, cô điên tiết đẩy thằng nghiện ngã ngửa xuống nền đất, gầm lên:

– Tao làm gì nên tội? Làm gì nên tội?…

Sự vùng lên của con chó cùng đường càng làm con hổ chui sâu vào cơn điên, tiếng rỉa rói nuôi dưỡng sự chết chóc phun ra re ré:

– Mày làm gì à! Đồ chó cái. Chó cái không cong đuôi lên thì chó đực nào xiên vào được. Mày… mày làm bại hoại cái nhà này, mày… mày…

Lời lẽ độc địa của chồng thành con dao nhọn nhằm vào tim, vào gan Pham mà đâm, mà ngoáy. Cơn giận trào sôi, cô lao ra chỗ bố chồng, hét lên:

– Tao đâu phải là con chó để chúng mày muốn làm gì thì làm? Kiếp trước tao nợ nần gì nhà mày thì hôm nay tao đạp đổ! đạp đổ…

Pham hùng hổ bê mâm thịt ném qua cửa sổ rồi quay lại đá tung ống rượu.

Bố chồng Pham lặng đi. Chồng Pham lặng đi. Cả hai không nghĩ tới tình cảnh này. Cả hai đều quen với cái việc coi cô là cái giẻ rách, chùi chân hay lót nồi đều cấm được ho he, động đậy.

Sau phút ngớ người, chồng Pham vơ lấy khúc củi còn đang cháy dở trong bếp nhằm vào đầu cô bổ xuống. Cô tránh được, khúc củi đập vào chân hắn cháy xèo xèo, mùi da thịt cháy bốc lên khét lẹt. Hắn đau đớn rú lên, quờ vội con dao dài ném mạnh, con dao xẹt qua mang tai cô. Nhìn con hổ bị cắt dái lồng lộn, cô sợ hãi, nhớn nhác trốn tránh. Con hổ đuổi theo, vừa đuổi hắn vừa cầm thanh củi phang bừa, mấy cây cột vừa là vật chịu nạn, vừa đổ thêm dầu vào lửa.

Pham chạy quanh cho đến lúc chồng kiệt sức cô mới vọt được ra ngoài. Cô chạy thẳng ra bờ suối, coi đôi chân là đôi cánh bay vèo xuống vụng nước sâu. Vừa may, vừa không may, đúng lúc cô  đang giã gạo thì Bắc khoác túi dết đi ngang qua. Thấy có người dập dình trên nuớc, anh vội quẳng xà cột, lao xuống túm tóc người bị nạn kéo lên bờ.

Bắc luống cuống vác ngược Pham chạy một thôi dài mà nước trong bụng cô vẫn không ra. Anh đặt cô xuống, trèo lên bụng ra sức dận mà thủy thần vẫn ngoan cố. Một tia sáng lóe lên, Bắc vội tụt quần, quấn ngón tay vào chùm lông đen mượt dứt mạnh. Cả một mảng da, lông bật ra, da thịt ứa máu. Bắc lấy những cái lông quý giá ngoáy vào lỗ mũi Pham. Cách chữa người chết đuối từ thủy tổ truyền lại thật hiệu nghiệm, không biết sự ngứa ngáy, cách chữa mẹo hay cái mùi đặc trưng của người đàn ông khác giới làm cho Pham nhăn mặt, hắt hơi liền mấy cái. Theo sự hắt hơi, nước trong bụng Pham ộc ra từng đợt.

Khi dạ dày bị lộn trái Pham như lôi được quái thai nằm lì trong bụng năm năm, mười năm. Người cô nhẹ nhõm, dòng máu trong cô sôi réo, cô ôm lấy Bắc, trút thống khổ vào anh như đổ đó cá vào giỏ. Cảm thông với nỗi khổ của Pham, Bắc động viên cô, đưa cô về nhà, anh bắt chồng và bố chồng cô lập giấy cam kết không được làm nhục cô nữa.

Pham biết ơn Bắc như một vị cứu tinh. Từ biết ơn đến ngưỡng mộ, đến mê mệt bùa yêu chỉ lằn qua sợi tóc. Cô như bị anh bắt mất hồn, đêm ngày bị hình ảnh anh ám ảnh đến khổ sở. Song cô xa biệt, không dám mon men đến gần trụ sở khu. Cán bộ nói hủ hóa ngang với tội trộm cuớp. Trộm cướp với vùng này như cơm bữa, nhưng hủ hóa chưa thấy cán bộ nào mắc phải. Nếu cô và anh yêu nhau, mối tình ngang trái lộ ra, cái chài rách vất cạnh đường như cô thì không nói làm gì, nhưng với anh! Anh không đi tù thì cũng phải vĩnh viễn thay trâu thay ngựa. Cô thương anh thực lòng, ngàn lần cô không muốn anh phải khổ.

Còn bây giờ… Pham lặng lẽ thở dài. Trong gang tấc là anh! Anh chững chạc, phong thái, là anh hùng tiễu phỉ, là người đứng đầu tám xã rộng lớn với mấy ngàn dân. Cán bộ tỉnh, châu xuống xã không có cái dấu có chữ “Bắc” trên góc giấy tờ thì có vào nhà chủ tịch xã nói vã bọt mép cũng chỉ uống nước lần rồi về. Cán bộ xã lên khu, lên châu không gặp Bắc thì coi như đi ruốc cá phải ngày nước lũ… Bắc đã có lần liều mình lao xuống dòng nước xiết lôi cô khỏi miệng hà bá. Bắc…. Bắc… Bắc…

Càng nghĩ đến Bắc, Pham càng xót xa cho thân phận của mình. Nhà chồng có hai người thì hai người nghiện. Bố chồng và chồng cô kết với nhau thành hai thớt cối ngày đêm nghiền Pham như nghiền ngô, nghiền đậu. Năm năm cô làm dâu là năm năm luấn quấn, đói khổ. Cho đến chiều nay… Trong nhộn nhạo người, nhộn nhạo sáng tối, những đau đớn riêng tư dễ bề khuất lấp, nhưng đối diện với tĩnh lặng, đối diện với chính mình thì nó lại thành những mũi dao khoét vào thịt, vào da. Pham đưa tay chùi mắt. Cái quạt trong tay Pham đưa Bắc vào giấc ngủ sâu bao nhiêu thì lòng cô lại đau đớn bấy nhiêu. Là con một nhà có tiếng trâu ngựa đầy chuồng, thóc lúa đầy gác, cô tưởng như đời mình quanh năm chỉ gặt hái những mùa vui, vậy mà một phiên đi chợ, một lần đi theo cái tiêu rỗng, một lần ngang bướng không cần biết đến lời già, lòng trẻ cô đã chui vào địa ngục trần gian. Trong nhà người Dao ở Phòng Tô mọi thứ nuôi sống người đều do đàn ông quản lý, còn quanh năm suốt đời công việc cứ nhằm vào những người đàn bà mà thòi ra. Muốn yên chuyện không còn cách nào khác người đàn bà phải gồng lên dọn việc như dọn cứt. Pham còn hơn thế. Năm năm trời trong cái vỏ bọc lạnh lẽo, khô cứng, ngày tháng, công việc, khổ đau cứ lặp đi lặp lại. Khát khao trong cô luôn phải ngủ vùi trong cô độc, không biết chia sẻ cùng ai. Mà cô có chim mồi cá cảnh gì. Sau ngày cưới hoàn cảnh nhà chồng buộc cô phải thích nghi với lam lũ như lũ ếch nhái thích nghi với vũng lầy. Việc nhà, việc nương ruộng là lửa, là khói, ám mãi vào rồi thành quen, thành phận sự, nhưng hầu hạ hai ông nghiện trong cái nhà rỗng thì đúng là không sức nào chịu nổi.

Đã có lúc Pham nghĩ tới cái chết. Chết thì dễ thôi. Cho một nắm lá ngón vào mồm, ực một cái là xong. Ra bờ vực nhắm mắt, bịt tai, co chân lên là tan xương nát thịt. Vào rừng, thò cổ vào một trong muôn cái thòng lọng rủ sẵn là hồn về giời, xác về đất… Biết bao cách để chết, nhưng người chết rồi có được giải thoát khỏi miệng thế gian hay không? Chết không hợp lẽ, không chúa trời, tổ tiên chấp nhận, hồn ma sẽ suốt đời lang thang, đói rét, không được bay lượn trên vương cung thánh đường, không được đầu thai kiếp khác. Và nữa, những người thân như bố mẹ, anh em, cháu chắt người chết suốt đời phải day dứt ân hận. Và nữa… Và nữa… Chuyện chồng vợ đã mọc rễ trong người thì đành phải nương theo nó suốt đời. Những day dứt, nghĩ trước, nghĩ sau đã nuôi giữ Pham, đã cho cô sức lực để cộng ngày cộng tháng. Chính lần bột phát chết không thành cùng sự ngưỡng mộ hướng về người cứu mình đã neo giữ cô trong cuộc đời này.

Phạm lại lặng lẽ thở dài. Sau buổi Bắc cứu cô, đưa cô về nhà. Trước uy lực, rõ trắng, rõ đen của anh, bố chồng, chồng cô hậm hực ấn cái máu  vũ phu, ti tiện vào xó bếp. Những ngày sau đó, dẫu chưa được làm con chim sổ lồng song cô đã trở lại chính mình, cô không phải chịu những cú đấm, cú đá vô tội vạ.

Đêm đã về khuya. Trong rừng chim từ quy đang tự cắt gan cắt ruột thả vào đêm một cách nhẫn nại. Ngay cạnh Pham, người đàn ông thường ngày cô chỉ dám nhìn từ xa đang chui sâu vào giấc ngủ. Hơi thở của anh đều đều quyến rũ. Da thịt của anh nồng nàn mê hoặc. Bóng đêm, sự vắng vẻ đến rợn người đồng lõa với sự nổi dậy của con tim lá gan… Tất cả cứ thúc lên đòi cô nổi loạn. Con gái thường bị mặt trời đốt từ bên ngoài, đàn ông đốt từ bên trong. Sự nung đốt theo đuổi, làm khổ họ cả đời. Con gái sinh vào đêm trăng rằm còn hơn thế. Cái nóng trong người  không chỉ dâng lên theo độ nóng của mặt trời mà còn dâng lên theo độ nóng của mặt trăng. Pham sợ những mùa trăng như cây non sợ lửa. Đêm trăng nào cũng vậy, khi ánh sáng trắng ngời ngợi phủ lên khắp núi khắp rừng là da thịt cô cựa quậy đòi bật tung áo quần. Mặt trăng càng tỏ, càng đĩ thõa thì cô càng phải chống đỡ vất vả. Nóng từ bên trong bung ra, bên ngoài táp vào làm cho người ngợm cô rần rần, chân tay muốn đập vỡ, đạp nát một cái gì đó. Từ khi biết đến hơi đực cái thì nó càng bùng lên, thiêu đốt cô dai dẳng. Nhà cô ngăn cách với ngoài giời bằng phên vách. Phàm là đan phên nóng mốt thì phải dùng loại nứa mỏng, nứa già, nhỏ mới kín, song bố chồng Pham lại đan vách bằng cây mai già đập dập. Thân cây mai dày cả đốt ngón tay nên cố ken đến mấy vẫn rỗng rễnh. Ban ngày, ánh nắng chan hòa, trong nhà cũng như ngoài sân. Ban đêm, cứ đến mùa là ánh trăng tung hoành khắp ngõ ngách. Mỗi khi cái bánh xe ánh sáng trắng lạnh bò lên khỏi đỉnh núi là ngực Pham lồng lên. Càng lên cao, bánh xe càng chà xát, càng làm cho người ngợm Pham nhức nhối.

Pham nhìn trăng, nhìn Bắc, rùng mình. Bên ngoài cửa sổ trăng rừng hoang dã tung hoành không cần biết làm khổ ai, sướng ai làm cho cô rạo rực như lên cơn sốt. Mùi của những sợi lông lấy từ một phần cơ thể của anh ngoáy vào mũi cô hôm nào lại dâng lên ngầy ngậy. Pham run lên, cô muốn lột phăng quần áo anh ra để xem mảng lông anh dứt ra chữa cho cô khỏi chết nước đã mọc lại chưa. Cô nghe nói cái đó của người Kinh quanh năm được ướp trong mấy lượt vải nên lúc nào cũng đỏ như da em bé, lông lá xanh đen, mượt mà như nước suối.  Giá mà bây giờ… giá mà… Trời ơi! Nếu không bị con ma nhà chồng gắn chặt, nếu không bị luật tục bịt kín đường về thì cô sẽ rũ bỏ tất cả, cô sẽ làm con đại bàng giữa bầu trời cao rộng.

Pham lại lặng lẽ thở dài.

Ngày Pham lên ngựa về nhà chồng, cái khăn màu đỏ đang đội trên đầu cô rơi xuống vũng trâu đằm. Như có ma trêu quỷ kéo, vừa rơi xuống vũng cái khăn đã chìm nghỉm trong bùn, trong cứt đái. Cùng với tiếng kêu thảng thốt, lo sợ của mọi người là tiếng chim lợn kêu như như xé vải, mặt trời đang tươi như hoa chui vội vào đám mây đen như đổ chàm. Chẳng biết ông mặt trời đánh nhau với mây gió thế nào mà chỉ một khắc sau chui ra đã thành một cái nong máu. Mọi người nhìn giời, nhìn đất lo sợ. Một thanh niên được sai xuống vũng mò khăn. Chiếc khăn được mò lên nhưng cả khăn lẫn người đều không sao gột được màu đen kịt như nhựa bám. Cái khăn màu lửa trên đầu người Dao là tượng trưng cho cái đẹp, cho sự sinh sôi, thủy chung như nhất, là mang điềm lành đến không chỉ cho mình, cho gia đình mà còn cho cả bản, cả vùng. Chiếc khăn mang màu của lửa, của thủy chung, của sinh sôi biến thành màu chết chóc cảnh báo điềm báo điềm gì? Ma rừng, ma núi, quỷ sứ ám vào khăn để hại ai đây? Cả nhà trai, nhà gái tím mặt lo sợ. Một đống lửa được đốt lên, từng người, từng người luồn cái khăn qua háng đuổi vía. Người cuối cùng chưa kịp cho cái khăn đi qua chỗ ô uế thì một con quạ sà xuống quắp lấy rồi bay vụt lên trời xanh khiến ai nấy thất kinh, ai cũng linh cảm tai họa đang ụp xuống đầu mình.

Pham lặng lẽ bỏ ra ngoài.

Trời se se lạnh. Hơi ẩm toát ra từ da thịt của rừng hòa quyện với muôn giọt nước ly ti từ trên trời sa xuống làm cho  núi rừng chìm trong một màu trắng đục. Cảm giác bình yên luồn lách qua tĩnh lặng, sương khói làm lòng Pham dâng lên cảm giác dễ chịu, cô hít hà hơi sương như trẻ nhỏ.

Bắc tỉnh dậy thì trời đã tảng sáng. Không gian trong trẻo, tĩnh lặng dịu dàng, nnhững ngôi sao mờ dần rồi tắt hẳn. Mặt trăng nhợt nhạt, buốt lạnh như được vớt lên từ lòng suối rơi dần xuống đỉnh núi phía Tây. Phía Đông bầu trời vừa hồng lên đã bị những núi mây ùn ùn kéo tới che lấp, phá phách, song những ánh sáng vẫn lọt qua kẽ liếp, tràn qua khung cửa sổ soi tỏ  căn buồng.

Bắc chợt giật mình, trên cái giường đối diện, Pham đang nằm trễ nải.  Anh ngỡ ngàng rên lên. Trời ơi! Pham, người trước đây anh đã một lần chạm da chạm thịt. Người đã làm anh mất ăn mất ngủ bao ngày  đang trong tầm tay với.  Pham ơi! Cái buổi chiều sơn cước chết người ơi! Pham có biết từ hôm anh cứu em, sau nghĩa vụ, phận sự chở che là dư âm của khát khao được chung đụng thân xác với em không? Pham ơi! Pham có biết da thịt, hơi hướm của em ám ảnh anh đến mức mấy lần anh đã định bắn chết hoặc chí ít cũng bỏ tù cái gã gia trưởng độc đoán mà em gọi là chồng rồi lấy em về nuôi bếp lửa không?

Bắc lắc lắc cái đầu, cố đuổi cái ý nghĩ náo loạn ra khỏi trí não, song cặp mắt không rời nổi hai bầu vú như cái bát tô đầy căng trong lớp vải chàm đang phập phồng mời gọi.

Nàng kia! Nàng đã lôi ta ra khỏi miệng của gã thần chết chết tiệt, suốt đêm qua nàng đã săn sóc ta như người mẹ chăm sóc con.

Nàng kia! Vậy là ta cứu nàng, nàng cứu ta. Tình cờ hay định mệnh? Duyên số từ kiếp trước hay khổ ải, đày đọa đưa nàng đến với ta? Dù ngẫu nhiên hay sự sắp đặt của tạo hóa thì ta cũng cám ơn trời đất dun dủi cho ta được gặp nàng.

Nàng kia! Người nàng tựa cái bếp ủ than hồng, tựa quả núi lửa đang ủ.

Nàng kia! Cặp môi nàng mấp máy một cách vô thức, hơi thở nàng run rẩy như cơn gió sớm mềm mại.

Bắc nôn nao như người trúng gió. Sự khoái cảm của đàn ông dễ đánh thức nhất về ban sáng. Lúc đó đất trời tinh khôi, phần Dương trỗi dậy dần dần lấn át phần Âm. Tiềm tàng sức lực cùng với sự ấm lên của trời đất, của con người được đánh thức rồi nhân lên trong từng mạch máu, nhất là khi được sự vắng vẻ, tiếng chim hót, tiếng gió ru, tiếng cây rừng đồng lõa.

Đầu óc Bắc mụ mị, bàn chân Bắc lẩy bẩy lết dần về phía Pham. Hương thơm từ da thịt Pham toả ra ngầy ngậy, đẩy sự khát khao dâng lên ngùn ngụt, Bắc từ từ gục mặt vào bàn tay xinh xinh, lịm đi.

Pham từ từ tỉnh giấc, từ từ cảm nhận sự êm ái, cô chờ đợi giây phút này từ kiếp trước mất rồi. Trong đê mê cánh tay phải của cô cử động rồi kết hợp với cánh tay trái vít đầu Bắc vào bộ ngực nóng sực của mình. Hai bầu vú cô động đậy, hai cái nhũ hoa ngỏng lên hút hồn Bắc, anh lóng ngóng lần giở từng nút áo cô rồi vục mặt vào giữa hai khe vú. Những giọt nước mắt sung sướng trào ra, vỡ oà trên miền da thịt mềm mại. Phấn hứng dềnh lên, Pham lựa chiều cởi bỏ những gì vướng víu trên người, phơi bày những gì có thể được ra trước mắt Bắc.

Bắc lặng người, lần đầu tiên mắt anh được chiêm ngưỡng tòa thiên nhiên tuyệt mỹ. Lần đầu tiên anh ngộ ra lâu nay mình chui trong vũng bùn giờ mới được ngoi lên mặt nước. Hay lâu nay anh đang lần mò giữa sa mạc khô khát giờ mới được chui sâu vào mạch nước ngầm trong mát.

 Pham đẹp, cái đẹp lồ lộ trong từng nét dáng, cử chỉ. Cơ thể hoàn mỹ của Pham không chỉ khuấy đảo thị giác, khiếu giác, mà nó còn làm tê liệt mọi cử động của Bắc. Trong tình ái, mê muội và sôi sục song hành, nó dẫn con người vào trạng thái chông chênh, hút nhau như nam chân hút sắt, hai người nhẹ nhàng dẫn nhau đi sâu vào miền cực lạc.

12

Dùn vừa ra khỏi thị trấn Phòng Tô đã thấy Sắn đứng đợi từ bao giờ. Anh giật mình, từ ngày gặp Sắn trong lễ cấp sắc cho con, anh đã cố tránh con người nửa rắn nửa quỷ này, nhưng lần nào ra khỏi xã là anh gặp hắn, hoặc gặp người của hắn đợi sẵn.

Dùn sợ Sắn. Sợ thực sự. Ban đầu nỗi sợ còn vu vơ, sau anh luôn phải sống trong cảnh ám ảnh, bứt rứt, khó chịu. Nỗi sợ len lỏi ngày, len lỏi đêm, cuối cùng biết không thoát nổi sự kiềm tỏa, lôi kéo của Sắn, lúc nào anh cũng thấy mình đang chênh vênh bên bờ vực thẳm. Ngày ngày, mỗi lần bước ra khỏi nhà anh lại hốt hoảng trông trước trông sau như bước trong rừng hổ. Hổ còn sợ người, người còn biết lối tránh hổ, còn người sợ người thì cái án chết lơ lửng trên đầu, bất cứ lúc nào cũng có thể làm mồi cho chết chóc. Đêm đêm, anh nằm giữa nhà mình mà Sắn và đồng bọn vẫn chui sâu vào từng giấc ngủ.

Dùn lẽo đẽo theo Sắn vào cái nhà tuyềnh toàng như cái lều ruộng ở đầu bản.

Thấy hai người, chủ nhà vội vã bảo ba đứa con chia nhau chạy ra rừng nghe ngóng, còn mình lặng lẽ nhóm lửa.

Sắn bảo:

– Không phải cơm rượu gì đâu, bọn tao làm một tảo xong là đi thôi.

Như theo thói quen, chủ nhà lặng lẽ vào cái buồng tối như hũ nút thu xếp bàn đèn, tẩu, thuốc, rồi quay ra thủng thẳng:

– Xong rồi đấy.

Sắn bảo:

– Tốt rồi, mày ra cửa nghe ngóng, có động thì đánh tiếng, chúng tao sẽ chuồn ra cửa sau.

Chủ nhà lẳng lặng làm theo lệnh Sắn. Hắn cầm dao ra đầu hồi ngồi tỉ mẩn vót nan song tai mắt để cả ra rừng, ra ngõ.

Dùn lụt cụt đi theo Sắn, hai người trèo lên cái phản gỗ, nằm châu đầu vào cái đèn mỡ lợn. Mùi khói, mùi ẩm mốc, mùi của bóng tối lưu cữu quyện vào nhau, mới gặp thì lờm lợm, nặng nề, quen rồi thấy ngòn ngọt, dễ chịu.

Sắn vê vê mồi thuốc, ném phập vào miệng tẩu rồi đưa cho Dùn:

– Hút đi. Không cướp lại được chính quyền thì không còn được hút nữa đâu.

Dùn không cưỡng được hương vị ngầy ngậy quyến rũ của điếu thuốc phiện bén lửa, không cưỡng được lệnh của Sắn, anh lặng lẽ bập mồm vào chuôi tẩu.

Dùn đang đắm chìm mình trong khoan khoái, thỏa mãn thì Sắn hỏi:

– Vừa lên châu nhận chỉ tiêu thu thuế hả?

Dùn uể oải:

– Ừ, năm nay bắt thu căng lắm, năm ngoái được mùa còn trầy vẩy, năm nay không biết thu thế nào đây!

Sắn thong thả rít thuốc, thong thả nhả khói, thong thả thả lời nói vào chỗ không người:

– Đấy mới là cái đích của ta. Chính quyền thu thuế nhẹ hơn chúa đất xưa, nhưng lại thu một lần vào sau mùa thu hoạch. Chết là chết ở chỗ ấy. Ngô thóc về chưa ấm sàn, lợn gà vừa mới trơn lông đỏ da đã bị san vợi non nửa. Đã thế mùa thuế má lại đúng lúc phải lo chuyện tết nhất, cưới xin, ma chay, toàn những việc trọng đại, việc cần có cái cho vào nồi vào chảo mà bị rút ruột thì ai mà không xót. Cứ thổi vào chỗ này dân không căm thù chính quyền thì cũng không nộp thuế. Chính quyền không chịu bó tay sẽ dùng quyền lực thúc ép dân, ung nhọt sẽ nảy nở, cái đích chúng ta đang với tới là đấy chứ là đâu nữa…

– Nhưng dân đen giờ vẫn yêu, tin, hy vọng vào chính quyền, tôi thấy việc mình đang làm như lấy cát bịt mỏ nước.

– Cát gì, nước gì, dân chúng đang yêu, tin, hy vọng vào chính quyền khụng phải từ lòng thực, mà là đang yêu, đang tin cái bánh vẽ. Chính quyền đã có gì để mà yêu, mà sống chết, nhưng cái bánh vẽ của nó thì hấp dẫn đấy. Nào thì độc lập tự do này. Nào thì không có áp bức, bóc lột này. Nào thì ông nông dân có thể ngồi lên đầu ông vua bà chúa này… Trâu bị bỏ đói ba ngày dắt ra ruộng mạ non thì con nào chẳng lao đến chí chết, nhưng giải phóng mấy năm rồi mà chúng đã làm được gì?

“Đúng là mừng giận, buồn vui, tốt xấu ở cả nơi miệng lưỡi, thổi vào tai lời tốt thì được tốt, thổi vào tai lời xấu thì được xấu.” – Dùn thầm nghĩ.

Như đọc được ý nghĩ của Dùn, Sắn thủng thẳng:

– Tôi biết ông đang nghĩ gì về tôi. Tôi không phải là thần thánh, tôi là con người, tôi đang ở giữa vòng tục lụy. Tục lụy bao giờ cũng đặt cái lợi lên bàn thờ, mà muốn lợi thì phải xóa đi giới hạn của phải trái, tiến tới cái đích cần đạt.

Dùn nhìn Sắn e ngại rồi thốt lên:

– Nhưng khi qua thác phải tính đến thuyền, đến mảng có chắc chắn hay không? Mình quân không, tướng không, có mấy thằng sống chui sống lủi mà chống lại cả một chính quyền có quân đội, công an, dân quân, đoàn thể thì khác gì lấy trứng chọi đá.

– Nhưng ta có dân. Có dân là có tất cả.

– Nhưng bây giờ…

– Bây giờ chưa có nhưng rồi sẽ có. Người xưa đã dạy: Cứ lấy yêu, lấy lợi ra nhử là tất theo; lấy khen lấy chê ra mơn trớn là tất ngủ; giả lấy đức làm trọng, lấy hòa làm gốc, lấy dọa nạt làm sợ hãi, dẫn được đám dân đen vào mê hồn trận rồi thì đánh một tiếng trống chỉ xuôi là chạy xuôi, chỉ ngược là chạy ngược thôi.

– ….

– Bọn tôi đã chuẩn bị cả rồi. Có cương lĩnh, chính sách, có tập hợp lực lượng đàng hoàng. Không gì thu hút con người bằng cách bắt chúng đổ xô vào cái danh, cái lợi. Cái danh, cái lợi có thứ sờ thấy được, bắt lấy được, có cái lơ lửng trên đầu, có cái làm cho người ta vui sướng đến điên loạn. Ta sẽ đưa ra chiêu bài dựng được chính quyền mới thì ai cũng có phúc có phần. Kẻ ham hố thì hứa cho quyền lực, tiền bạc. Kẻ đói cơm, đói chữ hứa cho cơm áo, học hành. Kẻ khát tình cho tự do nam nữ… Còn nữa, ta sẽ gắng đưa độc chiêu dân tộc, tín ngưỡng lên hàng đầu. Toàn những cái bọn chính quyền đang cố công cố sức thực hiện. Ác nỗi, cái nghiệp chúng đeo đuổi lớn như rời núi lấp sông, nhưng gốc không, rễ không; việc, cái mới nghe bằng mắt, cái mới thấy bằng tai, nên càng cố chúng càng như thả muối xuống sông. Ta khác, tự tôn dân tộc, phong tục tập quán chất đầy trên gác bếp, lôi xuống đánh rửa một chút là có thể làm vũ khí đánh đâu thắng đấy được rồi.

– …

– Tôi nhắc lại: Phải học bọn Việt Minh. Chỗ chúng cố công lợi dụng là những người cùng khổ, ta cũng phải cố công giữ lấy bọn cùng khổ. Lôi bọn cùng khổ sống chết với mình không khó. Việt Minh bảo: Đứng lên chiến đấu giành tự do, nếu mất chẳng mất gì, nếu được được tất cả – chúng đồng lòng như ruốc cá trên suối. Làm thay đổi cuộc sống ở đất này là thay đổi cuộc sống của chính mình – chúng hăng hái như mổ lợn tết. Phải thấy cuộc sống hiện nay là tù đày, giam hãm – chúng lăm lăm đánh phìa tạo, lăm lăm rỡ bỏ bàn thờ tổ tiên. Việt Minh làm được thế, tại sao ta không làm được thế.

– …

– Phàm là người dẫn dắt phải nhớ điều cốt yếu là làm sao cho cả thiên hạ lao theo hướng mình chỉ.

– …

– Trong cuộc đi săn tập thể dù có thú hay không có thú song  hễ có tiếng súng nổ là cả chó lẫn người đều bị hút vào chỗ đùng đoàng. Ta cũng phải làm như vậy. Lấy nhân nghĩa làm phương tiện, tục lệ làm nền móng, lợi lộc để mua chuộc, dọa nạt, cảnh báo để lừa bọn người quanh năm mặt dòm đất, đít dòm trời có khó gì…

– Nhưng nịnh nọt lấy được lòng dân chúng một lúc song lại nuôi cái vạ ỉ lại mai sau – Dùn phản kháng yếu ớt.

– Trời ơi là trời! – Sắn kêu lên sảng khoái – Khi được chính quyền trong tay thì làm gì hay không làm gì là ở mình. Khi ấy đám dân đen, giặc cỏ không súng ống, không quyền thế trong tay, cho sống được sống, cho chết được chết. Thôi, ta làm tảo nữa rồi bàn tới những việc phải làm.

Dùn bị Sắn thuyết phục hoàn toàn, anh biết từ nay mình chỉ là cái gậy trong tay  quỷ dữ  mà thôi.

13

Mặt trời từ từ xuống núi.

Đã đến giờ gà tìm chuồng, chim tìm tổ, người kết thúc một ngày cực nhọc trở về hang ổ của mình. Đã đến giờ cụ giáo Triệu trèo lên cái sàn đầu hồi điểm người, điểm trâu ngựa.

Nhà cụ giáo ngũ đại đồng đường.

Ở cái vùng loạn lạc liên miên, canh tác nương rẫy theo kiểu hưu canh như Sín Chải thì nhà cụ giáo độc nhất vô nhị. Người Dao đỏ sinh sống nhờ rừng, nhờ nương rẫy là chính. Một mảnh nương làm được bốn năm vụ là đất bị khô cằn, màu mỡ bị mưa gió bóc dần, đá mọc cao, lúa ngô lười cho hạt. Lúc đó chủ cho nương nghỉ vài vụ, khi cây cối  xanh tươi trở lại, độ mùn, độ xốp cao họ mới quay trở lại trồng cấy tiếp. Canh tác hưu canh kéo theo người hưu canh. Nơi ăn chốn ở tạm bợ. Chăn nuôi, trồng trọt tạm bợ.  Con cái mười bốn mười lăm tuổi là dựng vợ, gả chồng, là làm cho một cái nhà nhỏ, cắt cho mấy mảnh nương, rồi khóa to chìa to, khóa bé chìa bé, cứ thế mà tự lập, mà sinh sôi nảy nở. Nhà họ Triệu khác, thêm người thì chỉ được phép thêm buồng, thêm giường, thêm bát, thêm đũa. Cây cột cái Triệu Giáo Choong còn sống thì người và vật nhà họ Triệu chỉ được phép cộng vào chứ không được phép chia ra. Chính vì thế mà nhà họ Triệu bề thế, đông đúc, giàu có nhất vùng. Người: già trẻ lớn bé hơn bẩy chục. Ruộng nương: mấy trăm cân giống chưa quãi kín đất. Trâu ngựa: chật cả hai dãy chuồng dựng đối mặt với nhau như trại lính. Gà vịt: quãi thúng ngô quay đi quay lại đã không còn một hạt. Cả vùng: được mùa dân bản mang ngô lúa đến nhà họ Triệu đổi chác, mua bán; mất mùà mang tải đến nhà họ Triệu vay mượn. Nhà họ Triệu có hơn hai mươi người đàn ông ở tuổi gánh vác được việc nhà việc bản thì cả hơn hai mươi người đã qua lễ cấp sắc. Về mặt Âm: người ít nhất cũng có ba mươi sáu âm binh. Về mặt Dương: người nào cũng được công nhận đã qua tu luyện để làm tròn được bổn phận với mình, với gia đình, cộng đồng.

Trên cái sàn lát gỗ sến dựng giáp cái cổng đá dẫn vào nhà họ Triệu cụ giáo ung dung tự tại như con hổ đầu đàn chờ điểm con cái cháu chắt về hang.

Trên ba ngả đường rừng chụm lại, những con ngựa hớn hở gõ móng cồm cộp bước qua cái cổng đá nhà họ Triệu. Tiếp theo sau chân ngựa là những con trâu béo nục đủng đỉnh từng bước, từng bước, những con chó lăng xăng chạy trước, chạy sau. Đằng sau trâu, ngựa là mấy chục con người lớn có, bé có, già có, trẻ có lục tục nối đuôi nhau. Cũng như những người Dao khác, người nhà họ Triệu có thói quen sáng đi mang trên người những thứ giúp cho việc vào rừng, lên nương, xuống ruộng; chiều về mang những thứ về nuôi bếp lửa. Trên lưng, trên vai, trên tay người nào cũng có thứ gì đó, hoặc là bó củi, hoặc là gùi rau lợn, gùi măng. Trên lưng con ngựa nào cũng lặc lè cái mã làn ngô, thóc hoặc cỏ ngựa…

Bốn mươi sáu người nhà họ Triệu đã chui qua cái cổng đá, còn lại một người duy nhất là Dùn chưa thấy mặt.

Cụ Triệu như thấy cái gai nhoi nhói xói vào lồng ngực.

Từ ngày thằng cháu nội gặp lại cái thằng lê la mồm nhọn, lời ngon ngọt lòng lá ngón Triệu Tá Sắn, cụ cảm thấy nó đang tuột khỏi tay cụ để lao vào vòng u tối. Cụ không hùng tâm tráng khí gì nhưng đã trải qua gần một trăm mùa sấm đẻ, nhìn giời biết giời nóng giời lạnh, nhìn đất biết đất trôi, đất ở, nhìn cây biết cành sâu cành khỏe. Bao năm làm cây cột cái của nhà này, bản này cụ luôn luôn là chỗ dựa, là ngọn đèn cho trẻ già, trai gái trông vào. Nghe cụ thì có con đường sáng, tuột khỏi cụ là đi vào mê muội, khổ ải. Năm một chín bốn tám, tuột khỏi cụ, thằng Dùn cùng hơn chục con cháu nhà họ Triệu theo mấy thằng thổ ty người Thái tranh cướp thiên hạ khiến cả nhà này bị coi là nhà hủi. Năm một chín năm ba, tuột khỏi tay cụ, đàn ông trai tráng bản này nghe theo bọn Pháp, bọn đặc vụ Tàu Tưởng đã cùng gần một ngàn tên phỉ người Hmông, Dao, Thái, Phú Nả cầm súng rùng rùng đánh chiếm Lở Thàng, Tam Đường, Phin Chải, Sùng Phài… Tưởng một sớm một chiều nghiền nát Việt Minh như nghiền ngô, nghiền gạo, ngờ đâu vấp phải một loạt boong ke du kích và bộ đội địa phương phải chững lại, đến khi phải đối mặt với bộ đội chủ lực thì thành bọt trong thác. Nghe cụ, thằng Dùn đưa chú cháu, anh em mang súng ra hàng, không những không mang tiếng là con cá ươn trong giỏ mà còn được đứng đầu một xã, dẫu là cơm nhà việc bản nhưng cũng cầm đầu cả nghìn con người.

Là người ăn cơm nhiều mâm, uống nước nhiều bản, chỗ trong chỗ đục, chỗ ngọt, chỗ tanh cụ giáo đều hiểu. Triệu Tá Sắn là ai cụ quá hiểu. Sắn bao năm theo Pháp, làm phỉ, gây ra bao nhiêu tội ác, Việt Minh giải phóng đất này, đồng bọn Sắn, kẻ ra hàng, kẻ phải dạt vào rừng sâu chờ ngày về với đất. Sắn không yên phận của kẻ thất bại, nó đã cố luồn lách ngoi ngóp để làm vùng đất này thành cái ao bị trâu quần thì đúng là con rắn độc thật rồi. Trong lúc thời cuộc đêm chưa qua, mặt trời chưa tỏ, thằng Dùn gặp gỡ, nhỏ to với Sắn, trước là họ Triệu mất người, sau là mất nhà, mất bản. Vạn vật đều cần phải có giềng mối, trên dưới. Không giềng mối, trên dưới thì hổ quét đuôi, liếm mép giữa chợ. Không giềng mối, trên dưới, mỗi năm  giời làm đôi trận lũ, mỗi vụ một lần loạn cào cào châu chấu thử hỏi người có còn là người, vật có còn là vật.

Cụ giáo cố nén tiếng thở dài.

Như hạt cái lựa chiều từ lâu cụ đã xa hẳn bụi trần, thoát khỏi vòng danh lợi, lấy dung nạp là việc trọng, lấy lòng thương người mà làm người trải chiếu khắp chợ. Với lối sống này cụ đã tránh được hệ lụy, tránh được nóng lạnh ở đời. Nhưng còn sống thì còn phải làm, phải ngẫm nghĩ, phải chỉ bảo những người non trẻ. Thấy việc phải mà không theo thì không thể coi là biết. Thấy việc trái mà không can thì không phải là người. Người Dao đỏ luôn có một ý niệm lấy chữ tâm, chữ đức làm trọng, không muốn va chạm đến người khác, và ngược lại người khác va chạm, gây sự với mình thì tìm mọi cách để lánh xa ra hoặc di dịch sang nơi khác. Tính cách ấy đã thành dòng, thành dõi, truyền từ đời này sang đời khác. Tổ tộc Bàn Vương có công lao phò vua giúp nước được vua ban cho vùng đất rộng lớn. Như người khác được phong vương cấp đất thì chăm chắm củng cố quyền lực, chăm chắm mở rộng đất đai, khát vọng khuất phục người, cướp của người nhân lên theo ngày theo tháng. Tổ tộc không làm thế. Được lộc vua ban, Tổ liền chia làm ba vùng rồi trao quyền cai trị mỗi vùng cho một người con trai cùng với lời nguyền: “Đã là người Dao thì dù ở bất kỳ đâu cũng phải đóng thuế cho nhà vua đầy đủ, triều đình cần đất phải nhường đất, cần người phải nhường người…”.   Nghe Tổ, ngàn đời qua người Dao Đỏ ở vùng núi cao, người Dao Tuyển ở vùng giữa; người Dao Họ bám lấy sông, lấy suối. Nghe Tổ cả ba đều bảo ban nhau gìn giữ bàn thờ tổ tiên, vùng nào vùng nấy nương tựa vào nhau, chí thú làm ăn. Nghe Tổ, người Dao cùng theo nhau với các tộc người khác ngày đêm giữ lửa, giữ rừng. Thời buổi nhộn nhạo, thấy hổ gầm hươu nai cũng nhảy cẫng. Chúng muốn thay đổi xã hội ư! Thay đổi là tốt rồi, nhưng thay đổi thế nào? Người Pháp bao năm trời chia ra để trị đã làm cả vùng trong cảnh nồi da nấu thịt. Người Nhật đuổi người Pháp, ngỡ Phòng Tô được ngẩng mặt với giời, ngờ đâu quan, lính da vàng cũng cùng một duộc với quan, lính da trắng. Sau người Nhật đến Quốc dân Đảng Tàu, Quốc dân Đảng ta. Cứ tưởng cái sau hay hơn cái trước, cuối cùng thì đều là những con sói tham ăn tranh nhau một miếng mồi. Mấy năm qua, chính quyền dẫu còn có nhiều điều chưa hợp lẽ, nhưng họ đang cố công làm yên người, yên rừng, yên núi. Giờ bọn thằng Sắn, thằng Dùn lại định thay đổi bằng cách đưa Phòng Tô trở lại thời kỳ loạn lạc, người không ra người, thú không ra thú, đúng là hoang đường, hoang đường… chỉ lo thắng người thắng giời thì làm sao nhà yên, bản yên…

Cụ giáo nặng nhọc tụt xuống tảng đá.

Đến cữ ngày bàn giao sang đêm, giá rét từ trên trời đã bắt đầu buông xuống, ruột núi bắt đầu phả ra làn hơi buốt giá. Từng vệt mây mỏng tang dùng dằng nửa đi nửa ở choàng lên dãy Pu Sam Cáp làm cho ngút ngát của rừng, của núi chìm trong một màu xanh đen mờ nhạt. Bóng tối từ chân núi đang từ từ bò ngược lên. Đã cuối mùa thu. Cây cối giữ lửa, nuôi sức bằng cách tích nhựa, tích nước, thải dần những chiếc lá già. Những con vật tích trữ sức lực bằng cách lười vận động. Con người lo xa bằng cách tích trữ thức ăn, củi lửa, rau cỏ. Trong mùa hoang vu tất cả đang âm thầm đón đợi một mùa rét buốt.

Cụ giáo nhìn khắp  mênh mông.

Lũ ống, lũ quét đi qua, trong các loài chịu nạn đau nhất là mẹ Núi. Mẹ đang yên lành nuôi mình, nuôi người, nuôi cây cối, muông thú,  dòng sông, con suối, đùng một cái mưa gió, sấm chớp và những dòng nước hứng chí đua nhau ào qua, từng tảng da, tảng thịt của mẹ bị bóc ra, cuốn theo đứa con ngạo ngược. Nhưng mẹ Núi là thần, mỗi một phần nhỏ trong mẹ đều có hồn, nên da thịt của mẹ dù có bị bóp nát ra thành đất, thành cát, thành sỏi thì vẫn là da thịt của mẹ. Những phần của da của thịt ấy không tan vào dòng sông mà lựa chiều để chống chọi sau đó lớn dần thành bãi, thành bờ. Nhưng còn con người? Những kẻ trôi theo dòng lũ có cưỡng lại được với giời đất hay thịt nát xương tan? Những kẻ sống sót liệu có níu kéo được chỗ che thân, giữ được miếng cơm bỏ vào mồm hay thân tàn ma dại? Làng bản sau lũ nuôi nấng, gây dựng đến bao giờ mới cho hoa cho quả? Tại sao chúng chăm chắm vào tham, sân, si đến thế? Chúng không hiểu ba quê hương trên thiên đường đang đợi sẵn con người hay sao? Chúng không biết trong trần thế xô bồ, trắng đen lẫn lộn mỗi con người cần phải dùng trí lực để tu luyện, để luôn coi trọng điều thiện, xoá đi điều ác hay sao?

Cụ giáo lại nén ục ức dâng lên trong lồng ngực. Cụ thấy  trước mắt, sau lưng, bên phải, bên trái mình toàn những việc vừa phải, vừa không phải. Cách mạng đã khuấy lên ở lòng thúng Phòng Tô này một hồi, song rồi mọi việc lại yên vị như­ cũ. Con đường về Sín Chải vẫn nhữ­ng dây gai mọc trùm lối. Những đám mây đen vẫn làm cái khăn quấn lưu cữu trên đỉnh Phan Si, đỉnh Pu Sam Cáp. Đêm đêm bên bếp lửa, đám đàn ông luẩn quẩn ôm cái điếu và rì rầm chuyện mùa vụ, săn bắn. Ngày ngày đám đàn bà vẫn túm tụm xe lanh, quay sợi, đám trẻ con vẫn tự mua vui bằng những trò chơi từ thủa ông giời làm nên đất, nên nước. Con người mong được tích trữ của cải, tích trữ nhân đức nhưng cũng mong được đổi đời, được thể hiện chí mình, lực mình, liệu cách mạng có làm được như lời họ hứa hay chỉ để vui tai vui mắt mà thôi.

ĐOÀN HỮU NAM

(Còn tiếp)

TIN LIÊN QUAN:

>> Đoàn Hữu Nam – Từ công nhân làm đường đến nhà văn

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 1

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 2

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 3

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 4

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 5

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *