Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 5

8

VHSG- Dùn hầm hầm ra khỏi trụ sở Khu vực, vọt lên lưng ngựa ra roi.

Đét, đét… Con ngựa bị bất ngờ lồng lên, qua cơn hoảng hồn, nó phầm phập lao xuôi, nửa muốn hất chủ khỏi lưng, nửa cam chịu thân phận.

Đét, đét… Sau mỗi ngọn roi là gió rít qua tai người, tai ngựa, là mọi vật lùi lại phía sau vùn vụt.

Đét, đét… Cảm giác của một chiến binh, gió rừng, cây cối không xả nổi cuồng nộ đang sục sôi trong lòng Dùn.

Nhà văn Đoàn Hữu Nam

Đét, đét… Cái thằng vắt mũi chưa sạch, cái thằng… cái thằng. Trâu đực đến đất nhà người còn phải hạ mình thành trâu cái, nó – con ngựa non đến đất nhà người mộng làm con hổ. Nó… nó…nó… Uất ức làm cho nước bọt phè ra mép Dùn, hệt như mép con ngựa đang lồng lộn bực tức vì bị đánh đau mà không rõ tại sao lại bị đánh.

Đét, đét… “- Cấp sắc là mê tín dị đoan, là tàn dư của chế độ cũ?…”.  Hừ!… Cấp sắc là việc làm không thể thiếu được của người đàn ông người Dao. Cấp sắc là nghi lễ tín ngưỡng gắn con người riêng lẻ với cộng đồng, tạo cho con người niềm tin, hướng con người tới điều thiện, ghét bỏ điều ác, sống vì mọi người. Cấp sắc dạy cho con người biết thương yêu gia đình, dòng họ, thương yêu cộng đồng, đất nước, giúp con người nhớ về tổ tông…, vậy mà nó dám bảo là mê tín dị đoan, là phản dân, hại nước.

Đét, đét…  “- … Tốn kém, lãng phí. Giữa lúc giáp hạt, sàn các nhà sạch như trứng dốc ruột, trẻ con bỏ học hành, người lớn bỏ nương ruộng, tất cả đổ xô vào rừng đào bới để lấy cái cho vào mồm mà người đứng đầu xã đổ cả đống của, hút cả trăm con người vào việc làm cấp sắc…”. Hừ!… Hai con trâu, mười hai con lợn, bốn mươi vò rượu, ba mươi thồ gạo có là gì trong núi của cải nhà họ Triệu. Mà có là gì đi chăng nữa thì việc đánh dấu bước tu luyện trưởng thành cho tương lai và linh hồn một con người, nhất là người nhà họ Triệu thì dẫu có vét rỗng gác, rỗng chuồng thì nhà họ Triệu cũng phải làm, người Dao cũng phải làm.

Đét, đét… “- Khắp các bếp đang thổi vào tai nhau chuyện ai có công có việc gặp chủ tịch xã cũng phải có cái gì lót mồm. Chí ít cũng phải mang theo con gà chai rượu thì nước mới chảy xuôi, việc mới thành. Anh không thấy việc làm của anh là bóc lột, là thổ ty đời mới à?”. Hừ!… bóc lột!!! thổ ty!!! không biết ai bóc lột ai, ai thổ ty ai. Khách huyện, khách tỉnh, rồi ngay cả chính mày đến làm việc với chủ tịch xã cũng phải ăn, phải ngủ. Chủ tịch xã lấy gì mà tiếp? Chủ tịch xã bỏ công bỏ việc đi huyện, đi tỉnh họp hành ai trả công? Chủ tịch xã bỏ ngày bỏ tháng đi nắm dân, dạy bảo dân mang cơm nhà đi ăn, rượu nhà đi uống mãi được không? Làm chủ tịch mà quanh năm phải dốc bồ đãi khách, bỏ ngày bỏ tháng lo việc không công thì làm chủ tịch làm cái đếch gì!…

Đét, đét… “- Đã sống trong chế độ dân chủ cộng hòa năm năm rồi mà đường đường là chủ tịch xã ông vẫn còn nuôi ước vọng con mình sau này xưng vương xưng vua thì điên, điên thật rồi.”. Ừ điên. Không biết tao điên hay mày điên. Ở nơi nào có cách thắp hương của nơi ấy, ở vùng Dao cả chục năm rồi mà một chữ Nôm Dao bẻ đôi không biết, làm cái gì cũng tát lấy cạn, bắt lấy được, không còn biết đến trên, đến dưới, đến trong, đến ngoài thì còn thua cả đứa trẻ trong tuổi mụ mà biết lý biết lối. Mày quyền, mày thế, mày đè tao như đá đè trứng, nhưng mày không được phép miệt thị khát vọng của một tộc người…

Con ngựa thuận đường phóng về phía Nậm Khánh.

Dùn ngập ngừng dừng roi.

Đầu bản Nậm Khánh là nhà Lý Văn San.

Lý Văn  San có một quá khứ phức tạp. Tháng mười một năm 1950 Phòng Tô được giải phóng, chính quyền mới của Việt Minh được thành lập từ châu đến xã. San được mấy chục tàn binh phỉ đang lẩn trốn trong rừng Dào San tin tưởng cử ra uỷ ban kháng chiến hành chính châu thương thuyết xin đầu hàng, nộp vũ khí. Trốn hổ gặp beo, San không ngờ chủ tịch ủy ban lại là cựu Tri châu Đèo Văn Hen, Phó chủ tịch lại là cựu Chánh tổng Đèo Văn Tín. Từ khi nước Pháp thành lập Liên bang Thái đến nay có mấy chục năm thì mấy chục năm Phòng Tô nằm trong sự cai quản của họ Đèo. Sự thật hiển nhiên này San biết, cả vùng Tây Bắc biết, nhưng việc người họ Đèo cai quản chính quyền của Việt Minh thì San nằm mơ cũng không nghĩ đến. Biết đem chuyện đầu hàng nói với chủ tịch Đèo Văn Hen là hỏi gỗ mục lấy rắn rết, nhưng tên ra khỏi nỏ, không còn cách nào khác San đành phải cắn răng dẫn tay chân thân tín của Hen đi  nhận người, nhận súng, và để rồi cả bọn nghiễm nhiên phải đầu quân cho Đèo Văn Hen. Năm 1951 Đèo Văn Hen làm phản, những người theo Hen trong đó có San buộc phải quay súng chống phá cách mạng. Năm 1954 San bị bắt, sau một năm cải tạo San được tha về.

Lý lịch của Lý Văn San là vậy. Với người khác chìm nổi thế chứ chìm nổi nữa thì cũng lòng thẳng, người thẳng, xuôi tới bến, ngược tới nguồn, San không làm được như thế. Sau cuộc trốn ma gặp quỷ hắn  chui vào con đường tối. Mấy năm vừa rồi hắn cố làm cho mọi người biết mình đang là sóc lo ổ, chim lo tổ, song Dùn biết, nhiều người biết hắn vẫn thậm thụt buôn bán thuốc phiện. Ở tù ra mà ngày ba buổi thì ba lần dùng đến bàn đèn, ngày ba bữa thì ba bữa thịt cá, mỗi con trăng dăm lần xin phép ra khỏi bản, không buôn lậu, không có người rót tiền rót của thì cơ nghiệp nhà hắn được mấy nả.

Ngọn gió mồ côi thốc lên từ lòng khe nong rỗng những lỗ chân lông làm cho Dùn như mê man trong khoái cảm. Cũng như mọi lần đến cái ngã ba này Dùn không cưỡng nổi bước chân. Có hai lý do Dùn dính với San. Một là San tự trồng, tự làm ra loại thuốc phiện ngon đến nỗi đã bập vào một lần là chẳng khác gì trâu nhớ đường, ké dính bờm ngựa. Hai là cũng như Sắn, San là người biết rõ những ngày Dùn trong tiểu đoàn Thái. Với hai cái lý do chết người ấy nên dẫu biết, dẫu hiểu San đang là con rắn trong đêm Dùn vẫn bị hắn mê hoặc.

Con ngựa đã đưa Dùn đến cửa nhà San.Cửa vẫn mở song trong nhà tịch không có tiếng động.

Dùn ngoắc hờ chạc ngựa vào cái ngoãm sàn đầu hồi rồi bước vào nhà.

Tiếng e hèm trong căn buồng mé Tây làm Dùn giật mình.

Biết San đang “nằm bẹp”, Dùn bỗ bã:

– Lại “vương quốc ngẫm ngợi” rồi, sao mà nhập thế sớm thế?

Không có tiếng trả lời.

Dùn bước qua cửa buồng.

Trên cái giường gỗ nghiến, San đang điệu nghệ vê thuốc, điệu nghệ ném phập mồi thuốc vào dọc tẩu rồi ghé dọc tẩu vào cái đĩa đèn mỡ lợn. Mồi thuốc gặp lửa phồng lên, toả ra mùi thơm ngầy ngậy.

Dùn bực bội quay ra ngoài, “Hắn không cần biết chủ tịch xã đang vào nhà?”, “Ngươi coi trọng “thiên đường ngẫm nghĩ” hơn cả ta ư? Rồi  ngươi sẽ biết thế nào là làm ma có đất.” .

Dùn vừa với tay vào sợi dây cương thì giọng của kẻ no thuốc ngọt như khúc mía chui ra từ bếp than hồng đuổi theo thổi vào tai:

– Kìa chủ tịch, đang kỳ hoan lạc mà. Vào đi, thuốc ủ đúng cữ đấy!

Dùn chưa kịp nói gì thì San đã chạy ra xun xoe:

– Kìa chủ tịch, vào đi, thuốc, bàn đèn đã bày sẵn rồi mà.

Nhìn cái thân tướng hội tụ đủ cả sự bần tiện, ma mãnh của San, Dùn khinh bỉ:

– Tưởng không còn biết mặt trời mặt trăng ở chốn nào nữa?

Không để ý tới những lời giận dỗi của Dùn, cái mồm no thuốc dẻo quẹo:

– Cây có gốc, làm sao em dám bỏ tình anh em, chủ tịch bỏ quá cho, đang cơn thèm mà.

Dùn thoáng lưỡng lự, cái bụng chứa lửa dịu đi.

San được thể kéo tuột Dùn vào buồng.

Cơn thèm thuốc làm lục phủ ngũ tạng của Dùn bắt lửa, anh sẽ sàng nằm xuống giường, lim dim tận hưởng sự chăm sóc của kẻ nắm tóc mình.

Thuốc ngon. Quá ngon. Trong việc gieo trồng, lấy nhựa thuốc phiện, San là người cẩn thận nhất vùng. Ở cái nơi  mưa gió thuận hòa, “hạt đất như hạt mỡ” này trồng thuốc phiện dễ như trồng rau cải. Người trồng chỉ cần chọn mảnh nương tụ màu, tụ ẩm, cày bừa, rắc hạt thuốc phiện xuống là có thể ung dung chờ ngày lấy nhựa. Năm được mùa quả thuốc to như cái chén, rạch dao vào là nhựa thuốc ứa ra như rạch vào vỏ cây sung cây ngái. Năm mất mùa quả thuốc vẫn vói lên thách thức, nhựa thuốc không nhiều nhưng cũng rịn ra hơn mồ hôi, nước mắt của người giàu. Thuận thời tiết thuốc thơm ngon, không thuận thuốc vẫn giữ được hương vị chết người. Đời này, đời nọ, nhà này, nhà nọ, vụ trước, vụ sau đều gặt hái dễ dàng như thế cả. San còn hơn thế. Hắn vừa lợi dụng ưu thế giời cho để trồng cấy, vừa lấy cái tính cẩn thận ra bồi đắp bổ béo cho cây thuốc. Đất trồng thuốc của San phải là tràn ruộng giữa hai chân đồi roãng ra như háng người đàn bà. Trên đồi có rừng cây giữ đất, giữ nước, có độ dốc vừa đủ để màu mỡ trôi xuống bồi đắp cho ruộng. Dưới ruộng có lạch nước giữ độ ẩm, làm mát  cho cây. Đất trồng được cày bừa, để ải, làm cỏ hai ba lượt. Phân bón phải ủ kỹ như ủ rượu. Do chọn đất, chọn giống tốt, phân gio cày bừa, cỏ rả kỹ càng nên vụ nào nương thuốc của nhà San cũng như một thảm hoa rực rỡ. Các màu tím, hồng, trắng luôn phấp phới rộn rã trên nền lá xanh rờn. Khi cái mùi ngai ngái, ngầy ngậy quyến rũ đến mê hoặc của dòng sữa náo nức lẩn dần vào những quả thuốc to tròn như quả lựu cũng là lúc tự tay San thu hoạch nhựa. Cây thuốc phiện dễ trồng nhưng khi lấy nhựa phải thận trọng như người thợ chạm bạc khéo tay, cần mẫn. Dao sắc, khía hơi nặng tay là quả rời khỏi cuống. Dao không sắc, khía nhẹ tay là quả không ứa nhựa, khía hơi sâu là nhựa chảy vào trong. Khía dính vào những ngày mưa là nhựa đen kịt. Dính những ngày trời đổ lửa thì nhựa khô quánh lại, thu được chỉ đáng phân nửa. San thu nhựa thuốc như lấy vợ cho con. Trước khi đi lấy nhựa, San xem nương thuốc, xem thiên văn. Biết vài ba ngày tới trời không đổ mưa, không nắng quá; biết quả thuốc vừa đủ độ cho nhựa hắn mới mang chăn chiếu lên ở lì trên ruộng thuốc, rồi từ sáng sớm đến tối dùng chùm dao sắc lẻm chế từ mảnh đồng nhẹ nhàng vuốt ngược từng quả, từng quả. Qua ba ngày, ba đêm tẩm sương, tẩm nắng dòng nhựa trắng đục từ da quả thuốc chuyển sang màu mật ong, San mới tỉ mẩn dùng cật nứa gạt dòng sữa đặc quánh ấy vào cái bát, ấp vào mo nang mang về cất lên gác bếp…

Một tảo, rồi hai tảo, ba tảo chui qua dọc tẩu. Dùn lim dim mắt tận hưởng sự thư thái giãn ra trong từng mạch máu chảy trong cơ thể.

Giọng nói của San thoảng qua tai Dùn:

– Nghe nói việc thu thuế năm nay làm gắt lắm?

Dùn yên lặng không trả lời, anh biết chắc câu chuyện của San sẽ dẫn anh đi đến đâu. Tiếng thì thào của San vẫn chạy qua tai anh:

– Cứ cho cái thung lũng Phòng Tô này là cái thúng của cải đi, nhưng cái gì có trong thúng để nguyên thì còn, ra ngoài thúng thì coi như mất. Từ trước tới nay các thổ ty họ Đèo bóc lột bằng cách mà Việt Minh gọi là phát canh thu tô, bằng chế độ bảo na đi chăng nữa thì của cải của Phòng Tô vẫn không vượt qua miệng thúng. Của cải từ rừng, từ ruộng, từ sông, từ suối đổ vào nhà họ Đèo vẫn là hạt gạo cần trong mùa giáp hạt, gáo nước cần cho cơn khát của người Phòng Tô. Thử hỏi con trâu, thồ thóc, con lợn của Phòng Tô trèo qua dãy Hoàng Liên rồi liệu có còn quay trở về được nữa không?

Dùn cay cay sống mũi, sao mà lời lẽ từ mồm con ma ốm này sắc như dao chém quỷ thế không biết.

– Hôm trước lão Sắn có ghé thăm tôi… – San ra đòn quyết định.

Dùn giật mình, nhỏm dậy.

San ấn Dùn nằm xuống như ấn đầu trẻ:

– Đừng làm như bị ong đốt thế, ông theo chúng tôi thì theo, không theo thì thôi, nhưng ông nên biết trước sau cái mà bọn Kinh gọi là đảng, là chính quyền sẽ thành bèo gặp lũ, lúc đó ông có quay đầu lại cũng không có chỗ dung thân đâu.

Dùn nóng nảy:

– Đừng có mà hồ đồ, các ông sức mấy mà kéo rào ngược dòng mùa lũ .

San vẫn thủng thẳng:

– Đã bảo đừng như bị ong đốt mà. Tôi đang nói đến sự sẽ tan rã phải không? Tôi nói đúng đấy, chúng sẽ tan bắt đầu từ sự hô hào xuông như: Hăng hái tham gia sản xuất này; Tinh thần quốc tế muôn năm này; Làm chủ quê hương, làm chủ núi rừng này…., toàn những lời có cánh cả. Những lời ngọt như mía lùi dễ làm người ta sướng tai, những việc làm ví dụ dễ làm người ta vui mắt, song sau no tai vui mắt là sẽ đến bòn rút. Bòn được một lần rồi là bòn mãi. Người nghe, người xem đến lúc kiệt sức rồi mới giật mình tỉnh ngộ, lúc đó họ mới biết mình bị lừa, bị bóc lột, đến cơ sự ấy ta không cần đánh chúng cũng tan.

Dùn nhắm mắt, nửa chối bỏ, nửa không.

San vừa gại gại dọc tẩu vào miệng Dùn vừa kích:

– Sao mà như con trâu  tự nuốt mất lưỡi thế?

Dùn nhắm mắt đi tiếp tảo thuốc nữa song đầu óc vẫn để cả vào hình ảnh trâu tự nuốt mất lưỡi mà San vừa ví. Hay, hay thật. Trâu tự nuốt mất lưỡi. Ngươi không làm cho ta nuốt lưỡi thì chính ta cũng phải tự nuốt lưỡi rồi. Ngươi khăng khăng cái có được, cái nhìn thấy, nghe thấy để mê hoặc, dẫn dắt ta. Ngươi không biết trời bên ngoài Phòng Tô đã yên, biển bên ngoài Phòng Tô đã lặng, không ai để cho các ngươi làm khổ dân Việt mãi đâu. Ta đã như con trâu tự nuốt mất lưỡi, ta không thể không nghe mi, nhưng ta sẽ có cái cách của ta, rồi đến lúc chính sợi dây ngươi buộc vào cổ ta sẽ chuyển sang buộc vào cổ ngươi.

Trời đã quá chiều, nắng đã nhạt, núi đang màu xanh từ từ chuyển sang màu tím sẫm. Từng đàn mây lững lờ trôi qua khiến cho chim nghĩ để đường về tổ, người nghĩ đến đường về ổ.

Dùn uể oải ngồi dậy, chào San rồi lững thững dắt ngựa ra khỏi cổng.

San tựa vào cái cổng đá nheo mắt nhìn theo bóng Dùn, bóng ngựa. Hắn chợt bật lên cười ha hả: “Ha ha… Bao nhiêu cái được đưa mày lên tận giời, bây giờ ta sẽ đưa mày xuống âm ty địa ngục. Rồi mày sẽ nếm mùi khổ ải suốt những đốt đời còn lại, ta sẽ bắt chính mày đạp đổ cái trật tự mà mày đang cố công gây dựng… Ha ha…”.

9

Chủ tịch xã Triệu Tá Dùn đùng đùng đập bàn quát tháo, đùng đùng rời khỏi trụ sở khu vực quất ngựa xuôi về phía Sín Chải thì cán bộ phụ trách khu vực Đoàn Phương Bắc cũng đùng đùng không kém. Anh lao ra khỏi phòng, hét lên:

– Đứng lại!

Tiếng hét của Bắc khựng lại, vuốt theo bóng con ngựa đang vun vút phóng xuôi.

– Đứng lại!

Chân Bắc lồng theo chân ngựa, miệng Bắc đuổi theo bóng người.

– Đứng lại!

Bóng người bóng ngựa mất hút sau những khúc cua, còn lại một mình Bắc chơi vơi giữa vùng rừng vắng lặng.

– Đứng lại!…

Tiếng quát của Bắc thả lên trời một cách vô vọng. Uất ức, bất lực, cay đắng vò xé, Bắc vuốt những giọt mồ hôi túa đầy mặt, ngửa cổ tru lên những tiếng dài.

Trên đầu Bắc ông mặt trời đứng khựng giữa đỉnh giời đang cố thả hết những bực dọc xuống trần gian qua ánh nắng chói chang.

Dưới chân Bắc đất cát bỏng rẫy, con đường như vừa được rải than hồng.

Nóng từ trên trời hun xuống, nóng từ dưới đất nung lên, cây cối, người ngợm chết lặng, vạn vật nặng nề như bầu trời trước bão.

Bắc lắc đầu, thập thễnh quay về trụ sở. Đi đến chỗ con thác tung bọt trắng xóa, anh mệt mỏi vật mình xuống tảng đá, mọi ý nghĩ trong đầu luẩn quẩn, bức bối. Bắc không sinh ra và lớn lên ở cái nơi sáng tối đè nhau này. Anh người Kinh, quê gốc Phú Thọ, năm 1946 anh vào bộ đội, thuộc quân số của trung đoàn 171. Cuối năm 1947 Khu 10 – Khu quản lý hành chính, quân sự vùng Tây Bắc mở Mặt trận Tây tiến, trung đoàn 171 được giao nhiệm vụ tiến đánh Phòng Tô. Trong chiến dịch này, tiểu đội của anh phối hợp với dân quân du kích địa phương đánh tan vị trí đóng quân của địch ở Nậm Xe, rồi cùng các đơn vị khác tiến lên giải phóng Phòng Tô.

Phòng Tô được giải phóng song bọn địch, kẻ công khai chống đối, kẻ núp bóng chính quyền cách mạng để củng cố lực lượng, kẻ chơi trò hai mang, bí mật chỉ lối đưa đường cho Pháp quay trở lại tái chiếm. Việt Minh, do đánh theo kiểu rải mành mành, chưa tính đến kế hoạch phòng ngự nên khi gặp địch đánh gọng kìm không trụ được, phải rút. Rút rồi lại phản công. Phản công rồi lại rút, cho đến lúc cả vùng nổi phỉ thì khắp vùng nước sôi lửa bỏng. Trông vào chính quyền thì phần đa cán bộ chính quyền là chức dịch cũ của Pháp nên sẵn sàng bắt tay với Pháp. Kêu gọi nhân dân thì thì phần nhiều nhân dân là ruột thịt của phỉ. Lòng bàn tay cũng da, lưng bàn tay cũng thịt nên ai cũng lừng chừng, nửa muốn giúp đỡ cách mạng, nửa không. Kêu gọi lực lượng thì lực lượng bị dàn ra khắp các chiến trường không đủ sức tiếp viện, mà dẫu có tiếp viện đi chăng nữa thì cũng như cõng nước đi chữa lửa, lửa tắt rồi lại phải đi chữa nơi khác. Áp lực từ nhiều phía khiến ta như gà mắc tóc để rồi chính ta bị Pháp, phỉ bao vây, vô hiệu hóa ngay trong chính vùng đất của mình.

Không thể để cảnh ta địch nhùng nhằng mãi được, cấp trên quyết định cử các tổ, nhóm, cá nhân bí mật vào sâu tác chiến theo phương án nở hoa trong lòng địch. Trong chiến dịch này Bắc đóng vai người thầy giáo vùng xuôi được điều lên vùng cao dạy học. Anh đến thẳng nhà họ Đèo ăn ở, mở lớp. Từ nhà họ Đèo anh đã góp phần chặn đứng được cuộc nổi dậy lần thứ hai của chúng ở Phòng Tô. Nhưng đó là thời chiến, mọi việc dù có lộn xộn nhưng địch ta khá rõ ràng, bọn phỉ dù có thâm độc, ngoắt ngoéo, lẩn khuất trong dân, trong rừng song cũng lộ rõ cái đuôi phản động, hại dân, hại nước. Từ cái đuôi ấy mấy lần chúng nổi phỉ thì mấy lần chúng cay đắng nhận thất bại. Còn bây giờ… Bắc cố nén luồng hơi uể oải dâng lên trong lồng ngực. Miền Bắc hòa bình đã được năm năm. Năm năm đồng bào phấn khởi sống trong độc lập tự do, song với gần một trăm năm đô hộ, chính sách ngu dân của Thực dân Pháp để lại cho Phòng Tô biết bao hậu quả nặng nề. Chưa nói đến chuyện mù chữ, đói khổ triền miên, tệ nạn tràn lan thì hàng ngàn tên thổ phỉ cấu kết với nhau, lúc nằm im chờ thời, lúc ngóc đầu chống phá khắp nơi đã làm cho tâm lý hoang mang, lo sợ ám ảnh triền miên trong dân, trong cán bộ. Tình thế đang trong chảo lửa mà đường đường là chủ tịch xã, Dùn lại đứng ra làm cấp sắc cho con to hơn cả xã mừng ngày độc lập. Trong cái vùng đói khổ năm nọ cộng năm kia thì có cộng thêm đói khổ vài năm nữa cũng chẳng sao, nhưng giữa đói khổ, rơi rụng lại trồi lên một cuộc ăn chơi hoang phí, mê tín dị đoan, không là tâm điểm cho những kẻ đang nhăm nhăm lật đổ chính quyền thì cũng đi ngược với tư chất cán bộ. Đốt lửa nóng vách, thắc mắc của dân chúng, của cán bộ trong xã chạy lên châu, châu gọi Bắc lên kiểm điểm, kiểm thảo, cực chẳng đã anh phải gọi Dùn lên làm việc. Những tưởng trước cái sai thì phải nhận, phải sửa sai, ai ngờ… “Ghen ghét, đặt điều dèm pha là cơm ăn, nước uống của những kẻ ghen ăn tức ở, chấp với họ thì chấp cả đời.”, “Ở nơi nào có cách thắp hương của nơi ấy”… toàn những lời ngụy biện, bảo thủ, coi thiên hạ là trẻ con. Điên, điên thật rồi.

Nắng đã nhạt dần, những làn gió nhè nhẹ lướt trong không gian yên tĩnh. Bắc nhìn xuôi theo dòng suối, nơi dòng chảy cuồng loạn trong mùa lũ giờ đang thu nhỏ, mảnh mai, hờ hững. Trong dòng nước trong xanh như lọc, những con cá mánh cỡ ngón tay đang vô tư le te ngược dòng, dường như chúng không cần biết  đến hạn, đến lũ. Bắc ngước nhìn giời. Bầu trời trong xanh không một gợn mây, cái thăm thẳm của không cùng lấy lại cho anh cái cảm giác thư thái, nhẹ nhõm. Anh đứng dậy, lững thững đi đến trước thác, chần chừ một lát rồi để nguyên cả quần áo chui sâu vào trong dòng nước đổ từ lưng chừng trời xuống. Nguồn sữa mát lạnh của mẹ núi nhanh chóng làm nguội bớt những bức bối trong lòng anh.

10

Pham bật ra khỏi nhà như một mũi tên.

Nhà Pham nằm đơn độc ngay ngay đầu bản. Trước cửa nhà là con đường ngập phân trâu, phân ngựa. Phía trước là con suối uốn lượn. Phía sau là rừng, lớp lớp cây to mấy người ôm lòa xòa, quanh năm đứng lặng, dây leo, địa y quấn quanh, mây mù bảng lảng gây nên cảm giác ngưng trệ, tù túng. Chạy sâu vào trong bản là các ngôi nhà chon von, cẩu thả, tiện hướng nào quay hướng ấy.

Con đường dưới chân Pham ngập ngụa. Phân trâu ngựa tươi, phân lưu cữu, bùn non ngày ngày nhào trộn, chồng chất lên nhau làm cho con đường chẳng khác gì cái chuồng phân nối từ đường cái vào bản, từ nhà này sang nhà khác.

Mặc phân, mặc lầy thụt, rút được chân này chân kia lại dấn sâu vào nghiêng ngả. Mặc cho phía sau tiếng hét, tiếng rền rĩ của chồng đuổi theo xoi xói vào xương, vào thịt, Pham cứ bước trầy bước trật trong dòng sông bùn, cứt đái, và chính dòng sông bùn, cứt đái làm cho nỗi thống khổ trong Pham vợi đi, những đau khổ, tan nát cứ mỏng dần sau những bước chân.

Pham đã ra tới đường cái, ồn ào, gào réo đã bị chìm nghỉm trong thăm thẳm núi rừng.

Chạy thêm một đoạn nữa, mệt quá Pham ngồi phệt xuống vệ đường, người rũ xuống như cây cải héo.

Trời ơi!… Người ta lấy chồng để nương tựa vào nhà chồng, còn Pham lấy chồng thành cái ghẻ bắt nồi, thành cái đầu trọc cho ong đốt.

Trời ơi!… Pham chưa đến hai nhăm mùa sấm đẻ mà đã đinh chốt khóa mõm chó, đinh tre khóa mỏ gà, sủa không được sủa, gáy không được gáy, đến làm con trâu con ngựa cũng không xong.

Trời ơi!… Vẫn biết lấy chồng là đem thân phận khốn khổ của người đàn bà vùi vào tro bếp nhà người. Lửa nóng tro nóng, lửa lạnh tro lạnh, mọi động tâm, khắc khoải đều dựa vào nóng lạnh nhà chồng, vậy mà sự vô tâm, vô tình của ông bố chồng, sự ác tâm ác tính của chồng  đã bao lần làm cho Pham muốn nghiến răng làm cái lá xanh rời cuống, cái cây không còn gốc, không còn ngọn.

Trời ơi!…

Pham uể oải đứng dậy lê bước về hướng nhà mẹ đẻ.

Trời quá chiều hư hư, thực thực. Nắng chiều nhộm nhoạm, mọi thứ cứ rối tung, tất bật mà chẳng cái nào vào cái nào. Mùa gặt, mùa chim gọi bầy, mùa chuột dửng mỡ vừa qua. Những búp lá thoát thai từ đau đớn thân cành run rẩy, e ngại nép vào những nách lá đang khô đét trên những cành cây mốc meo. Ánh nắng mặt trời đang soi mói từng kẽ lá bỗng chốc bị mây mù ùn ùn kéo đến phá phách làm cho cả vùng chìm trong biển mây. Một trận gió ào qua tất cả lại rõ ràng trước thanh thiên bạch nhật. Trong nóng lạnh thất thường như giận yêu, hờn ghét của giời, của đất, bóng Pham lòng khòng như chiếc câu liêm níu giữ chiều hiu hắt.

Pham thập thững tới chân thác. Cô ngập ngừng trước con thác mải mê tung bờm trắng xóa. Ý nghĩ bất cần lóe lên, Pham từ từ đi vào cái mê cung giời cho. Dòng thác trắng xóa gột rửa bùn đất phân gio, gột rửa những uất ức, trả lại sự thanh thản cho cô.

Chừng thấm lạnh, Pham chui ra khỏi bụng thác, cô giật mình khi thấy trước mắt cô là một người đàn ông trông chẳng khác gì một xác chết đang nằm sấp trên tảng đá cạnh thác. Cô nhìn ngược nhìn xuôi. Cả vùng rừng núi mênh mông không một bóng người. Thấy không bấu víu vào đâu được, Pham tới bên cạnh người đàn ông. Cô bỗng rên lên, người đàn ông đó chính là Bắc – cán bộ phụ trách khu vực, người đã từng giằng cô khỏi miệng hà bá rồi đưa cô về nhà. Cây bị dao búa chém rời gốc, mầm cây mọc lại, người chết là hết, chiều hôm ấy không có Bắc thì Pham không còn được hít thở, ăn uống, khổ ải trên cõi đời này. Không chần chừ Pham lật ngửa cái cơ thể mê man, vật vã, kê cho Bắc nằm ở thế thoải mái, rồi bẻ cái lá vả khum lại, cố rặn chút nước giải, rót vào miệng anh.

Bắc đã hơi hồi hồi, tiếng thở của anh còn nặng nhọc, đứt quãng, song da dẻ đã đỡ tím tái, mạch đập trong lồng ngực rõ dần.

Pham vội tháo cái vòng bạc ở cổ tay, dứt vội mấy cái lông ở chỗ kín, lấy cái khăn gói lại, dùng hết sức lực miết khắp người Bắc.

Bắc từ từ hé mắt. Trời đất vàng vọt, loáng nhoáng, bóng chiều nặng nề trườn theo triền núi, tiếng suối rên rỉ dai dẳng như kêu cứu, như thù hận.

Bóng  người phụ nữ chập chờn thật ảo làm Bắc ấm lòng, anh cố cựa quậy song đầu óc, người ngợm như năm ngày không có gì cho vào bụng, mồ hôi túa ra, phồng dần thành từng giọt, anh rùng mình, thở dốc, cặp môi khô khốc mấp máy:

– Nước, cho xin hớp nước.

Tiếng kêu cầu sự sống của Bắc làm cho Pham vui sướng, cô thích thú reo lên:

– Cán bộ tỉnh rồi, cán bộ tỉnh rồi!

Bắc ngạc nhiên, lúng túng:

– Cô… cô…

Pham náo nức cướp lời Bắc:

– Cô… cô là người cứu cán bộ. Cán bộ nằm yên để mình đi lấy nước cho cán bộ uống.

Pham ríu rít như đứa trẻ, cô bẻ cái lá vả khum lại làm cái gầu múc nước suối đem lên cho Bắc.

Bắc run rẩy vục mặt vào gầu nước uống ừng ực. Dòng sữa mát lạnh chui ra từ ruột núi lấy lại nhanh sức lực, anh thều thào hỏi:

– Có phải cô là…

Pham khoác cái áo vào cái cơ thế đỏ rực của Bắc cười:

– Đúng rồi, mình là Pham, người được cán bộ vớt lên ở vực thuồng luồng, cán bộ chóng quên thế.

– Thì ra cô là Pham, nhưng sao cô lại…

– Mình vừa đi ngang qua, thấy cán bộ người một nơi hồn một nẻo nên… –  Pham chợt đỏ mặt, lúng túng nhìn cái lá vả nằm tênh hênh cạnh Bắc, chút nước giải còn dính lại trên lá ánh lên trong nắng chiều.

Bắc không để ý tới sự lúng túng của Pham, anh gật gù mãn nguyện:

– Thì ra cô đã cứu tôi. Tôi cứu cô, cô cứu tôi, đúng là giời đất sắp đặt, nhưng mà…

Pham khỏa lấp bối rối trong lòng bằng cách săm sắn đứng dậy, ra lệnh cho Bắc:

– Nhưng mà gì, bây giờ cán bộ phải về nhà thôi. Cán bộ phải bám vào vai mình mới về được nhà đấy!

– Làm thế không được đâu, người ta…

– Thả cái người ta xuống suối đi, lúc cứu người cán bộ có sợ cái người ta không?

– Nhưng tôi… tôi…

– Không tôi gì cả, mạng người là quan trọng, tiếc là mình không đủ sức cõng cán bộ. Cán bộ bám vào vai mình, thế thế… nào ta đi.

Bắc như đứa trẻ ngoan, anh bối rối quàng tay qua bờ vai bé nhỏ của cô sơn nữ, cả hai thập thững tha lôi nhau về trụ sở khu vực.

ĐOÀN HỮU NAM

(Còn tiếp)

TIN LIÊN QUAN:

>> Đoàn Hữu Nam – Từ công nhân làm đường đến nhà văn

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 1

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 2

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 3

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 4

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *