Gia tộc Thanh Vàng – Tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Văn – Kỳ 4

4    

VHSG- Mùa xuân năm Canh Thìn có một sự kiện trọng đại diễn ra ở làng Thanh Vàng. Đó là việc anh cả Thân, mà bây giờ sẽ gọi là Thày Lang Thân, nêu ý kiến và đứng ra lo liệu việc làng xây cất đình làng. Đã qua đúng một giáp người dân làng Thanh Vàng trồng cây hoa cúc. Việc lợi từ trồng hoa cúc thì đã rõ ràng nhưng Thày Lang Thân còn canh cánh. Làng mà không có đình khác nào một cái thôn nhỏ hẻo lánh, khuất tiếng giữa thiên hạ? Làng mà có đình cũng có nghĩa là đã ra dáng một ngôi làng thực thụ. Hôm Thày Lang Thân thưa ý định xây đình với các cụ cao niên trong làng là một bữa sau tết.

Ngày mùng năm tháng giêng, phây phây gió bắc, mưa phùn lắc rắc gieo mầm xuân trên những cành xoan còng queo, lún phún đầu cành lấp ló những nụ hoa e hé. Rượu vào vừa đủ ngọt giọng nên các cụ tỏ ra rất hào hứng nhưng cũng tranh luận không kém lời. Phe thứ nhất nghiêng về chuyện tiền nong cho việc cất ngôi đình? Phe thứ hai lại chỉ chăm chăm bàn đình của làng phải bề thế ra sao? Cả hai phe ý kiến này đều nhanh chóng được giải tỏa khi Thày Lang Thân giãi bầy, tiền phần nhiều sẽ do gia đình mình công đức. Còn đã gọi là đình của làng thì dĩ nhiên người trong làng cũng phải góp chút của. Người ít góp gọi là. Người sẵn đóng lơn lớn. Công thì những việc thuộc về kỹ thuật phải mướn thợ. Người làng góp công ở những việc chỉ cần sức lực.

Nhà văn Nguyễn Trọng Văn

Điều hay nhất là chuyện xây cất ngôi đình là ước muốn chung. Làng Dục vốn là một ngôi làng trẻ. Làng trẻ quá, chưa đủ dài lâu. Vả lại người làng đâu có khấm khá nên khi vào tháng giêng mấy làng lân cận mở hội xuân linh đình, cờ trống rinh ran, người làng Dục chỉ biết hóng hớt người ta. Kể cũng tủi. Nay Thày Lang Thân nói chuyện xây cất một ngôi đình riêng cho làng thì mừng quá rồi nhưng nói gì thì nói đã gọi là có đình làng thì trong đình làng ấy phải thờ cúng gì gì? Chuyện nói ra nhưng cũng chẳng nói ra đó chính là việc từ khi làng có là làng Dục đến giờ đã có ai được làng tôn làm thành hoàng làng đâu? Đình phải thờ thành hoàng làng mới đủ ý nghĩa. Những ánh mắt nghi ngờ cùng bao ý thầm thì bắt đầu hướng về phía Thày Lang Thân. Lại một hồi bàn luận. Thành hoàng làng sẽ là ai? Hồi lập nên cái làng Dục có ai đã suy nghĩ xem ai là người có công khai phá dựng làng. Thực ra làng Dục hình thành sau khi người Pháp tiến hành mở đường. Cái thẻo đất dư ra nằm lọt giữa đường quốc lộ số 5 và sông Như chẳng ra ruộng, chẳng ra vườn chỉ nổi lên một dải đất chạy dài. Dải đất ấy nhìn heo hắt mà chẳng mấy ai hoài đoái tới. Những người dân đến đây cắm đất dựng nhà là những người vốn ở những làng lân cận, họ vốn cũng khó trăm bề nơi đất chật nên tìm nơi đất mới cho yên chuyện. Bởi thế họ như những người tứ chiếng dồn lại với nhau, dựng dăm nếp nhà, qua vài năm mà tự gọi nên làng. Cũng bởi thế nên người làng Dục qua bao đời mà vóc dáng đàn ông có khá khẩm lên đâu? Vóc dáng thấp đậm cũng là từ sự khó mà ra.

Nghèo hèn nên có dám ngẩng đầu lên đâu.

Thày Lang Thân cũng xứng để làng nể trọng nhưng đặt làm thành hoàng làng e không tiện. Thứ nhất là thày Lang Thân vẫn còn sống mà lại còn trẻ tuổi nữa. Thứ hai là vì làng vốn dân tứ chiếng dồn về do vậy việc ganh ghét, kèn cựa, nhau, chẳng chịu nhau là hẳn nhiên rồi. Có đình mà không có thờ khác gì cái đình ấy chỉ là một ngôi nhà lạnh vắng. Cả làng nghĩ nát óc mà chưa ra.

Cụ Lang nhà mình biết ý lắm.

Trong giấc ngủ trưa giữa một cái hốc cây đa ông Thìn đen mủm mỉm cười. Nụ cười đầy ý nhị của ông không thành tiếng nên “cậu” vẫn tít mít. Từ sáng đến tận trưa nắng, “cậu” đã chật chưỡng qua mấy bờ ruộng nên cũng khá vất. “Cậu” xưa nay đi xa nhất cũng tới mép cửa căn phòng luôn khóa ngoài. Xa nhất là thế nên “cậu” mệt ngủ quay lơ cũng phải. Nghĩ tới đây ông Thìn đen vòng tay ôm chặt ngang người “cậu” mong cho “cậu” thêm ngon giấc. Chuyện còn dài, ngày còn dài cứ từ từ có sao đâu.

Trong cái rủi lại có cái hay.

Nắng bên ngoài nóng bỏng. Nhìn ra xa, đoạn đường quốc lộ số 5 chạy dọc cánh đồng hoa cúc của làng Thanh Vàng như bị nung chín. Từng luồng hơi nước rùng rình bốc lên trên cái nền rải nhựa, đoạn đường giống hệt một nồi nước đang sôi. Ông Thìn càng ái ngại. Những bông hoa cúc màu vàng chợt như trắng dại dưới cái nắng chuyển mùa. Chút gió nam từ sông Như thổi tới gặp cây đa mà ngừng lại, gió quấn quýt vẫy từng chiếc lá đa, tạo thành tiếng kêu vù vù như tiếng cối xay lúa rồi bứt xuống luồn lách vào từng hốc cây. Gió xuống đến hốc cây xoáy lành lạnh nên cái vòng tay ôm ngang người “cậu” càng giữ cho “cậu” thêm tin cậy. Trong đời “cậu” chưa khi nào “cậu” có được cảm giác ấm êm như thế. Ông Thìn đen thấy thương thân cho “cậu”. Ở đời được người khác thương đã khó và thương được nhau đâu có dễ. Nhất là những người như “cậu” thì sự thương thường bị nén trong lòng. Ông Thìn đen cố gượng dậy để nghé mắt nhìn mặt “cậu” như những lúc ông ghé mắt nhìn qua khe ổ khóa để nhìn “cậu”. Trông “cậu” bây giờ có khác những người khác chút nào đâu.

Cứ người như “cậu” mà lại hóa hay.

Ông Thìn đen lại cuốn vào giấc ngủ cùng “cậu”. Giấc ngủ cùng cũng là một thứ bệnh dịch. Nó cũng làm lây nhau. Cũng như việc trồng hoa cúc ấy. Một người trồng được thì cả làng trồng được. Người đố kỵ nhất làng Dục đã nói như vậy để chống chế việc có đình làng rồi làng sẽ tôn ai làm thành hoàng làng. Nói cho cùng thì có nhiều người trong làng biết ơn anh cả Thân đã đem hoa cúc về làng nhưng họ lại khăng khăng không chịu nhận chính anh cả Thân xứng xứng đáng được người làng ngưỡng vọng mà trân trọng. Việc ông Thìn đen ở lại làng sau đám tang cụ Lang Thân chính có một phần suy nghĩ đó. Đình làng cứ tôn vinh hoa cúc. Sửa sang ngôi nhà cũ lấy chỗ hương khói cho cụ Lang xem ra thuận hơn. Không mang tiếng với làng mà vẫn đưa được hồn cụ về đúng làng xưa thờ cúng. Ông Thìn đen lại mủm mỉm cười nhưng nụ cười bây giờ đầy đắc ý.

Chính cụ nhà mình gợi ý đình làng nên  tôn vinh  hoa cúc đấy “cậu” ạ.

Đình làng Thanh Vàng có lẽ là ngôi đình độc nhất trong cả nước không thờ thần, không thờ thánh và cũng chẳng thờ thành hoàng làng. Một ngôi đình khá bề thế chỉ tôn độc thứ hoa cúc được xây cất chính giữa làng. Chỗ ấy ngày xưa là bãi đất trống lại chồi lên cao ráo. Hồi những người dân tứ chiếng dồn về đây tự gọi nên làng Dục chỗ ấy giống như một cái gò thấp. Đã là gò nên trong suy nghĩ của mọi người nó như miếng đất tụ long nên chẳng có ai dám liều lĩnh tới cắm đất làm nhà. Đất tụ long là đất thiêng, là đất công, chiếm làm của tư dựng nhà ở chết bất đắc kỳ tử luôn.

Nếu đi theo con đường đất rải đá từ ngoài quốc lộ số 5 xuyên giữa cánh đồng hoa vào làng, ta sẽ thấy con đường ấy dẫn thẳng tới đình làng. Ngôi đình bề thế lại nổi trội giữa làng nên chỉ đi một phần ba quãng đường đất rải đá là đã thấy đầy đủ. Con đường đi thật tiện nhưng vô tình nó lại là huyệt đạo. Một lối đi huyệt đạo báo hiệu trước tương lai của làng Thanh Vàng sớm muộn cũng có ngày vong bại. Không biết ai là người khởi xướng làm con đường đất rải đá đó nhưng cụ Lang Thân biết chuyện, cụ phản đối ghê lắm. Cụ về làng thuyết phục rồi giảng giải mãi mà chẳng thấu. Cánh trẻ ở làng viện cớ cụ đã là người Hà Nội rồi nên mọi góp ý cuối cùng cũng chỉ là góp ý. Cánh trẻ ở làng thấy cái tiện trước mắt mà không nghĩ chuyện hậu vận.

Thời thế  cũng có vận của thế thời “cậu” ạ.

Ông Thìn đen lại nở một nụ cười nhưng nụ cười bây giờ hơi chua chát. Cái ngày ông theo gia đình thày Lang Thân lên Hà thành cũng là cái ngày mà ông chẳng thể nào quên. Chú bé Thìn da đen nhẻm, chân lích chích, khoác tay nải vải nâu đi như chạy theo mọi người ra đường cái vẫy xe. Chú được đi xa mà những tận Hà thành kia đấy. Thử hỏi trong làng này có thằng trẻ con nào được vinh hạnh ấy. Hình như với chú bé Thìn đen mọi việc đều vận vào chú. Trước tiên là chú cũng đứng can Mậu với cụ Lang Thân. Tiếp nữa là năm chú chào đời cũng là năm cụ Lang Thân đem hoa cúc về trồng ở ngoài đồng làng. Thứ theo là làng xây đình cũng đúng vào năm tuổi Thìn của chú. Và cuối cùng khi cụ Lang về nằm ở đồng làng theo tiên tổ ông Thìn đen cũng ở lại làng luôn. Mọi việc cứ ứng một cách kỳ lạ.

Đình làng Thanh Vàng được xây ở chỗ gò đất giữa làng. Nó cao vọt hẳn lên giữa cái làng quanh năm hoảng hoắc mùi hoa cúc cùng hăng khét mùi diêm sinh cháy. Một ngôi đình xây theo lối chữ đinh với khoảng sân rộng trước cửa luôn đủ chỗ cho cả làng hội họp. Mặt tiền của đình trông về hướng bắc, hướng ngắm sao bắc đẩu. Những đêm trời trong, sáng vành vạch bọn trẻ con ra sân đình chơi, chúng chỉ cần thẳng mắt là nhìn rõ chòm sao Bắc đẩu mang hình cái gầu sòng. Cái gầu sòng chi chít sao đang vục xuống sông Như mà múc từng gầu nước đổ vào cánh đồng. Đồng làng Thanh Vàng được tưới nước sông Như do các vì sao phương bắc hợp thành gầu múc đổ nên đồng sinh ra vàng. Sinh ra lộc nuôi danh nuôi tiếng cả làng.

Lưng đình áp về hướng nam. Chỗ sau lưng đó là sông Như chảy thầm thì. Dòng sông vào buổi chiều hôm ánh mặt trời từ phía tây dọi tới, gợn lăn tăn màu vàng pha ráng đỏ. Gió nam nồm thổi qua sông thấm mát lưng đình tạo cho mọi người cái cảm giác se co khi bước chân vào trong đình. Cảm giác se co khiến mọi người như cung kính thêm trong cảnh trầm mặc, nhẹ nhàng tỏa khói trầm thơm. Hình ảnh làm người ta chú ý là một bông hoa cúc được phóng tác trên giấy lụa điều, to bằng cái nia, trông gợi màu như một bông hoa thật, treo ngay trên chính điện. Bông hoa cúc phóng tác được dựng ngay ngắn thay thế chỗ ngự án mà các thành hoàng làng vẫn ngự như các đình làng khác. Cuộn giấy điệp viết tên làng Thanh Vàng được rước vào đình sau khi làng khánh thành đình. Lễ rước cuộn giấy điệp diễn ra giản dị nhưng trang trọng. Thày Lang Thân là người cuối cùng nhận cuộn giấy điệp đó. Rất cẩn thận theo cách của những người chu đáo, Thày Lang Thân thong thả đặt tờ giấy điệp vào trong chiếc hộp gỗ dài được sơn son thiếp vàng. Chiếc hộp gỗ chứa tờ giấy điệp giờ nằm im trên bệ điện thờ, phía dưới hình ảnh phóng tác bông hoa cúc. Hình bông hoa cúc nở vàng ánh lên bên màu đỏ của đầu hương đang cháy cắm thành bó lớn trong chiếc lư hương đại, hai màu đỏ của lửa và vàng của hoa cúc phản chiếu với nhau tạo nên vẻ thâm cô, cung kính.

Những người đọc sách đều nói rằng, lưng đình dựa sông Như là không ổn lắm về mặt phong thủy. Ý họ cho rằng tiền của vào cửa trước sẽ lại theo dòng nước phía sau lưng mà chảy đi. Làng Thanh Vàng về mai sau không giữa được của. Làng lại hoàn nghèo như hồi còn cái tên làng Dục. Thày Lang Thân là người đứng can Mậu nên quyết đoán. Chọn chỗ đất cao nhất làng để xây đình ai cũng tán đồng nhưng chọn hướng cho đình thì lắm bàn tán. Người làng Thanh Vàng là vậy. Tiền ít nhưng thích nói nhiều. Người không góp tiền lại hay ý kiến. Thày Lang Thân kiên nhẫn lắng nghe rồi mới thong thả giải thích. Hướng mặt đình quay về bắc là hướng nhận đường, nhận hướng, ý thày lang Thân muốn nói đi trong đêm đen cũng nhờ sao Bắc đẩu dẫn lối. Làng nghe thấy phải. Hướng lưng đình áp mạn sông là dựa thủy, khí mát lành. Bởi gò đất là chỗ tụ long nên sông Như lượn phía sau sẽ đắp bồi sự sống. Đất mà thiếu nước thì chẳng còn là đất. Ý của Thày Lang Thân ví như những thửa ruộng trồng hoa cúc kia. Ruộng đồng mà không có nước tưới tắm đến cỏ còn không mọc nổi nữa là nói chuyện trồng hoa. Làng nghe cũng phải. Hơn nữa vì là đình dựng ở giữa làng, mà làng Thanh Vàng chạy dài dọc cánh đồng. Hai bên đình làng là những ngôi nhà cùng bao con người sinh sống sẽ giống như hai cánh tay của ngôi đình. Hai cánh tay đó ôm lấy cánh đồng ví như người dân làng này lam làm chăm chỉ tôn nên sự sang cho làng. Và  nữa là đình ấy, hướng ấy chia làng thành hai nửa ngang nhau. Không có chuyện phân biệt nửa làng ở trước cửa đình quanh năm hứng lộc, nửa làng ở phía sau lưng đình ngày ngày chỉ nhận khói nhang. Làng nghe quá phải.

Chuyện làng quyết chí xây đình cùng việc đình làng sẽ thờ thứ gì cuối cùng cũng đã xong xuôi. Người khó tính nhất làng cũng đã chịu. Thày Lang Thân còn trẻ người nhưng đã có chí lớn.

Chẳng ai bằng cụ nhà mình đâu nhé.

Hơi chút tự hào ông Thìn đen ghé sát tai “cậu” để thầm thì. Ngoài cánh đồng tầm này vắng vẻ. Những người đi thu hái hoa cúc không bao giờ ngắt hoa vào giữa trưa nắng. Ngắt hoa vào giữa trưa nắng sẽ làm cuống hoa khô ngay lập tức. Cuống hoa khô cũng có nghĩa là nhựa hoa mau kiệt. Nhựa hoa mau kiệt sẽ làm bông hoa úa màu. Màu vàng nguyên sơ của hoa cúc ngay cả khi đã ngắt mới giữ cánh hoa cho dù đem phơi nắng thu cũng không tàn. Bí quyết của làng là vậy. Hoa cúc sau khi phơi se se trên những tấm cót dài dọc con đường đất mịn, đem về nhà rải đều lên nong trước khi xông sấy mà còn trông như hoa vừa ngắt.

Đồng vắng nên hiu hiu. Chỉ vẳng lại ngoài đường quốc lộ tiếng ô tô rầm rì chạy qua, phả làn khói khét sặc mùi dầu mazut cháy dở. Tầm trưa đường quốc lộ cũng vắng vẻ nên từng đoàn xe phong nhanh hơn. Phóng nhanh hơn có nghĩa là những âm thanh cùng những làn khói xe cũng rầm rào hơn và sặc sụa hơn. Nằm trong hốc cây đa lại càng cảm hơn sự vắng vẻ đến chợn rợn. Một chút đắn đo làm ông Thìn đen tỉnh giấc. Ông lo ngại khi nhớ rằng dưới gốc đa giữa đồng này đã có bao đồn đoán về những hồn ma ban trưa thả mình từ trên những tán lá đa xuống, hồn ma rơi xuống đất là chui vào từng hốc đa để trú nắng.

Có tiếng chim lách cách chuyền cành, tiếng chim rúc mỏ vào từng chùm quả đa chín. Lũ chim đang rỉa hạt đa. Ông Thìn đen hơi nghé mắt nhìn ra ngoài hốc cây. Những quả đa chín đỏ, những quả đa chín chỉ bằng đốt ngón tay bị lũ chim rỉa hạt làm rụng xuống lăn lông lốc. Quả đa chín rụng vãi đầy gốc đa lại bị chân người bước qua giẫm be giẫm bét. Mùi quả đa chín thơm ngòn ngọt đã kích thích lũ chuột đồng chui ra khỏi tổ. Hồi đầu trồng hoa cúc chính lũ chuột đồng này là thủ phạm khiến anh cả Thân phải rình mấy giờ giữa trưa nắng mới phát hiện ra. Lũ chuột đồng đánh hơi thấy cái mùi hoa cúc nở hoảng hoắc mà bò ra. Chúng cắn ngang cuống hoa, chúng nhấm nháp từng cánh hoa. Như vô tình hoa cúc trở thành món ăn cho lũ chuột quanh năm gặm đất chát bụng. Lại phải sua chó ra đuổi, làng Thanh Vàng nuôi lắm chó cũng từ đấy. Nửa đêm về sáng chó trong làng ganh tiếng sủa nhức tai, người nơi khác đến thấy ngại mà chối không dám ngủ. Chó làng Thanh vàng cũng nên tri kỷ với người. Thế mới biết việc trồng hoa đâu có giản đơn như mấy ông đố kỵ nhất làng Dục ngày nào nói xưng xưng.

Mọi vật đều phải dựa vào nhau để mà sống.

Nhìn cảnh lũ chuột đồng lũ lít kéo nhau ra tha quả đa chín đem vào tổ làm nguồn thức ăn dự trữ mà ông Thìn đen chợt thốt lên chí lý. Cũng như người dân làng Dục vậy. Người đần dựa vào sự lanh lợi của người khôn để sinh tồn. Người khôn dựa vào sự u mê của người đần để được việc. Chuyện anh cả Thân biết đem hạt hoa cúc về trồng ở đồng làng đã kéo theo cả sự danh giá cùng tiếng thơm cho cái làng chuyên nghề bốc mướn, vác thuê. Ông Thìn đen vẫn nằm nghiêng kiểu úp thìa, ông ôm ngang lưng “cậu” mà nghĩ ngợi. Thoắt đã hơn bảy mươi năm, chuyện đời chẳng mấy mà đã qua mau. Cụ Lang Thân làng Dục đã về với tiên tổ. Đời cụ Lang đầy biến cố, tiếng là giàu sang, vinh danh đấy mà khi nằm xuống cũng chỉ là một nấm mộ ở cuối đồng làng. Ông Thìn đen cảm thương mà sinh trách cứ người làng. Trong thâm tâm của ông Thìn đen thì cụ Lang Thân nếu giờ được làng rước linh vào thờ trong đình thì mới hả.

Giữa trưa thật buồn. Từ trong làng thoảng vọng ra tiếng gà mái vừa đẻ trứng, nó tục tác khan nghe nẫu cả ruột. Tiếng gà quang quác ban trưa nghe xa vời, nghe mộng mị như có gì ám ảnh. Ông Thìn đen lại he hé cặp mắt để trông chừng “cậu” ngủ. “Cậu” đã ngủ tròn một giờ đồng hồ theo cách tính thời gian dựa vào bóng cây đa của ông Thìn đen. Giữa trưa bóng cây đa tròn quanh gốc. Một tiếng sau bóng cây đa soi dưới đất như cái nồi nhôm vợ kho cá làm cháy bị chồng tức đá méo. Lũ chuột nháo nhác bò ra tha quả đa chín bị bầy chím làm rụng nhiều hơn. Chúng tỏ ra táo tợn đến mức trèo qua cả chân của ông Thìn đen lẫn chân của “cậu” mà tha quả. Quả tình nhờ có lũ chuột đồng cùng những quả đa do bầy chim làm rụng này mà hoa cúc bớt bị lũ chuột làm phiền nhiễu. Chuột ăn quả đa xem ra ngon hơn nhiều ăn hoa cúc xót ruột.

Cái thừa của người này thành cái có cho người khác.

“Cậu” chợt gồng người lên hắt xì hơi liên tục. Mỗi lần hắt xì hơi “cậu” như đang bị ai hành. Co rúm người, mặt tái dại nhăn nhó, nhịp thở nấc thành cục tắc nghẽn, nước mắt nước mũi vãi ra đầm đìa. Ông Thìn đen vô cùng ái ngại. Ông cố vòng tay giữ chặt người “cậu” giúp “cậu” khỏi co rúm chân tay. “Cậu” hắt xì hơi vật vã như vậy mà vẫn không hề thức? Ông Thìn đen nghi hoặc khéo léo đánh mắt nhìn xung quanh. Không có ai khác ngoài ông và “cậu” đang quàng tay nằm ôm nhau. Chưa hết nghi ngờ ông Thìn đen buông tay khỏi lưng “cậu” tính xem sự thể. “Cậu” nằm nghiêng, đè người lên cánh tay phải luôn co giật, mắt nhắm nhiền nhưng cánh tay trái còn thả lỏng của “cậu” chốc chốc lại ngoằng lên mũi. “Cậu” ngoằng tay ngoay ngoáy hai lỗ mũi. Cách ngoáy lỗ mũi ấy giống hệt cảnh chú bé Thìn đen ngày nhỏ. Ngày nhỏ, tức là cái ngày chú bé Thìn đen chưa theo hầu Thày Lang Thân ấy. Ngày đó chú bé Thìn đen bụng đói trơ ngồi đâu ngủ gật đấy. Ngủ gật người ngật ngưỡng y như “cậu” lúc đi trên những bờ ruộng. Chú bé Thìn đen ngủ gật say sưa chó sủa bên tai vẫn gà gật. Ngủ quên bụng đói, ruồi bu quanh mắt vẫn cứ tỉnh bơ chỉ đến khi mấy thằng bạn cùng lứa ngắt lá cỏ bên thềm ngoay ngoáy vào lỗ mũi thì chú bé Thìn đen mới hơi cọ cựa. Chú cọ cựa tay cũng đưa lên ngoay ngoáy lỗ mũi và mỗi khi ngoay ngoay lại hắt xì hơi tràng dài tưởng đứt thở.

Không có lẽ là ma trêu “cậu”.

Ông Thìn đen lại khéo léo từ từ ngửa cổ nhìn lên tán lá đa che rợp trên đầu. Tiếng chim lích chích chuyền cành làm rụng xuống những quả đa chín đỏ. Mùi quả đa chín đỏ thơm ngòn ngọt kích thích hai lỗ mũi của ông nhưng tuyệt nhiên ông không thấy gì sất. Ông Thìn đen lại he hé cụp đuôi mắt để trông chừng vạt nắng chiếu lay động bóng cây đa. Bóng cây đa nghiêng nghiêng đổ về phía đông thoáng lay động khi tán lá đa bị gió thổi. Những lỗ nắng soi qua kẽ lá rập rình như đang có ai chơi trò bập bênh.

Ma trêu người nhưng ma không hại người.

Lại khẽ liếc nhìn “cậu”. “Cậu” vẫn không thôi hắt xì hơi. Một chút liên tưởng xa xôi chợt hiện về. Thì ra ông đứng can Mậu. Người đứng can Mậu là những người can trường, họ không ngần ngại thứ gì kể cả gian khổ chứ đừng nói là họ sợ bóng sợ vía. Cụ Lang Thân là người như thế. Ma không hù dọa được người can Mậu nên có lẽ bọn ma chơi quay ra châm chọc những người bên cạnh? Chuyện ma như thế với cụ Lang Thân sẽ nói lại ở phần sau. Còn bây giờ là làm cách nào ngăn được ma chơi đang châm chọc “cậu”?

Hồi làng Thanh Vàng xây xong đình có một chuyện đâu đầu Thày Lang Thân. Số là đình đã xây xong, việc thờ cúng cũng phải lo liệu. Thường thì đình thờ thần, thờ thánh hay thờ thành hoàng làng. Nghĩa là trong điện thờ thường có tượng thần hay thánh hay thành hoàng làng. Đình làng Thanh Vàng chẳng thờ ai cả nên chuyện đâu đầu thủ tục khấn vái hô thần nhập tượng. Nhưng nào có tượng nào để hô để hoán. Các cụ cao niên thẫn thờ vì thấy thiêu thiếu. Cánh trẻ trung hơn thì ngơ ngác nhìn quanh. Nếu hô nếu hoán vào bông hoa giả vẽ rất đẹp thì khác chi coi bông hoa giấy vẽ là thần thánh. Hoa là cây cỏ. Cây cỏ không thay được thánh thần.

Hoa cúc  là biểu tượng của làng.

Đúng là chỉ có hai chữ Thanh Vàng viết như rồng múa phượng trầu trên giấy điệp xem ra là hợp lý. Khi Thày Lang Thân nêu ý kiến đó các cụ đều nhất trí. Thờ chữ cũng có nghĩa là cái làng Dục lõm bõm nôm na đâm ra thành cái làng Thanh Vàng có học. Xưa nay chuyện thờ chữ chưa làng nào có, vậy làng Thanh Vàng thờ chữ trong đình cũng là một chuyện khác người. Sang trọng lắm, khí thế lắm mà tự trọng lắm.

Kể thì làng thờ ngay chính tên của mình cũng gợn.

Mải nghĩ chuyện xưa mà ông Thìn đen quên phắt việc “cậu” liên tục đưa tay lên ngoay ngoáy hai lỗ mũi và hắt xì hơi liên tục. Hình ảnh tưởng tượng về những hồn ma thả mình từ trên các tán lá cây xuống đất rồi chui vào từng hốc đa làm ông Thìn đen rùng mình. Từ bé đến lớn chưa bao giờ ông thấy sợ nhưng lần này ông thấy run run. Trước mắt ông lũ lượt hiện lên những hình hài chập chờn ẩn hiện. Đầu tiên là hình hài cụ Lang Thân. Cụ Lang chấp chới xa xa. Vẫn bộ quần áo cánh ta lụng thụng được may bằng vải lụa Hà Đông màu mỡ gà. Cụ Lang Thân đứng xa xa nhìn chăm chăm vào chỗ hai người. Đôi mắt cụ vẫn như đang cố nén trong lòng nỗi thương cảm về “cậu”. Hình hài cụ Lang nhạt dần nhạt dần giữa màu nắng trắng lóa bên ngoài hốc cây. Tiếp nữa là hình hài ai đó nhìn quen quen nhưng cũng là lạ. Hình hài một thiếu nữ tóc trắng nhờ mờ như làn khói, dài chấm gót. Mớ tóc trắng nhờ dài lõa xõa quệt lê dưới đất theo mối bước đi. Ông Thìn đen căng mắt ra để đoán định. Cô Mây ư? không hẳn thế. Chuyện về cô Mây cho đến giờ nếu nhắc lại ông Thìn đen còn cắc cứ. Hay hồn ma trinh nữ? Không thể nào vì hồn ma ở đồng làng thì chỉ là những người làng về đất. Ông không thể nhận biết chắc chắn đó là ai nhưng cảm giác thân thuộc cứ ám ảnh.

Chỉ có những linh hồn người thân mới hiện hữu bên ta?

Một cơn gió nam thổi mạnh đưa từ phía sông Như lại. Gió bật lên tiếng kêu khác lạ, gió kêu rù rũ trên những tán lá đa hệt như đang có cả trăm ngàn bước chân người đạp trên lá. Tiếng chim chuyền cành như thoảng thốt. Bầy chim bay vút lên, chúng vãi xuống ngay gần chố ông Thìn đen và “cậu” những đám phân chim trắng nhớt. Đình làng Thanh Vàng từ khi có đến giờ chưa có ai được rước vong vào thờ hay gửi thác nên hầu như hồn ma của những người dân của làng đều phát tán ngoài đồng. Vậy nên mới có chuyện cứ trưa nắng là từ trên những tán lá đa các hồn ma thả mình rơi xuống đất. Hồn ma cụ Lang Thân chắc cũng vậy. Nghĩ vậy ông Thìn đen càng thêm đắng trong lòng. Giá như mà chuyện thờ cúng được chu toàn thì làng này đâu có hồn ma vất vưởng. Nghĩ như vậy mà ông Thìn đen chỉ chăm chăm vùng dậy chạy ào về làng làm cho xong việc sửa chữa ngôi nhà cũ để hồn ma cụ Lang Thân còn có nơi tá túc.

Ai cũng có một nơi chốn để an thân.

Tự dưng ông Thìn đen nhắc lại câu nói ấy. Mặt trời đang ngả sang tây. Cũng đã về buổi chiều của một ngày. Ông nhỏm hẳn người xốc “cậu” ngồi dậy. “Cậu” vẫn tít mít. Người “cậu” lúc bất động cứ nhẽo ra làm ông Thìn đen vất vả lắm mới xốc cho “cậu” ngồi dựa lưng được vào một rễ đa to. Cái rễ đa to ấy giờ đã thành một thân cây thực thụ. “Cậu” hết hắt xì hơi hẳn.

Ngồi dựa lưng vào thân cây thấy vững tin. Ông thìn đen lại lơ mơ như thấy ông và “cậu” đang ngồi dựa lưng vào tường nhà. Căn nhà số 98 phố Hàng Cân. Với ông căn nhà ấy thật nhiều kỷ niệm. Ông liêng liếc nhìn “cậu” như ông đang ghé mắt qua lỗ khóa rình xem “cậu”. Những lần ghé mắt nhìn như vậy ông chỉ quan sát được “cậu” từ xa. Lúc này đây ông và “cậu” rất gần nhau. Gần như dính với nhau ấy. Ông nghe hơi thở của “cậu” lúc nhọc nhằn khi phập phù. Hai người đã gần nhau từ sáng đến giờ còn gì.

Lũ chuột đã thôi chuyện bò ra tha quả đa chín rụng lôi vào tổ. Những hồn ma chắc đã nản mà thôi chơi trò ngoáy lá cỏ vào hai lỗ mũi của “cậu”. Tiếng chim chuyền cành cũng đã ngừng bặt. Tiếng gió lùa lá đa cũng bơn bớt mà thầm thì hơn. Trong hốc đa chỉ còn tiếng thở của hai người. Tiếng thở của ông Thìn đen nghe nặng chắc. Tiếng thở của “cậu” cứ nấc lên như người khó ở.

“Cậu” cứ ngủ ngồi mà nghe tôi kể cũng được.

Ánh mắt của ông Thìn đen nhìn ra xa hơn. Chỗ này có thể trông tới thửa ruộng thứ sáu. Thửa ruộng này đang bắt đầu có người trong làng ra thu hái hoa cúc. Bóng những tấm lưng đàn bà lúi cúi ngắt hoa. Những tấm lưng đàn bà thấp thoáng gợi lên trong tâm trí ông Thìn đen về những người đàn bà mà ông được biết, được gặp và được băn khoăn về họ. Ông cho đến giờ vẫn không có một người đàn bà của riêng mình, ông chỉ có những người đàn bà xuất hiện khi huyền ảo, lúc rành rẽ trong nhà cụ Lang Thân.

Đàn bà là người  đẻ ra luôn cả oan trái.

Một chút chạnh lòng ùa tới khiến ông Thìn đen ứa lệ. Ông cám cảnh cho cụ Lang Thân. Ngày làng làm đại lễ mừng đình làng mới xong cũng là ngày Thày Lang Thân đưa ra một quyết định táo bạo, rời làng gồng gánh cả gia đình lên Hà thành làm ăn. Nó cũng là ngày chú bé Thìn đen chân lích chích theo mọi người.

Người Tàu bán thuốc Bắc được thì mình cũng bán thuốc Nam được.

Còn nhớ như in câu nói đó của Thày Lang Thân. Thày Lang Thân đã nó vắn gọn như vậy về quyết định của mình chuyển lên Hà thành. Những bận làm thuê cho lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông, anh cả Thân dần dần cũng nhận thấy dân mình đang bị thua thiệt ngay chính ở nhà mình. Có dăm ba cây lá loanh quanh. Có dăm vị cỏ hoa đầy rẫy mà lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu hù dọa bán đắt như chém. Anh cả Thân nung nấu ý định từ ngày đó nhưng phải đợi thời cơ tới mới dám thực hiện.

Việc gì cũng phải đánh đổi “cậu” ạ.

“Cậu” đã tỉnh giấc. Một hình ảnh khác hẳn mọi khi. “Cậu” không giần giật chân tay, không ha há mồm nhỏ ra những sợi rớt rãi. Khuôn mặt “cậu” tươi như “cậu” không hề có chuyện gì xẩy ra. Im lặng dựa lưng vào thân cây. “Cậu” im lặng mở to đôi mắt không nhìn gì cả, không lang lảng tránh như lúc đầu “cậu” gặp ông Thìn đen.  “Cậu” im lặng ngồi nghe câu chuyện của ông Thìn đen. Có lẽ tận sâu trong góc tâm hồn yếu đuối của “cậu” đang lờ mờ nhận thức được giữa “cậu” và ông Thìn đen có mối liên hệ thân tình?

Không ai tính hết được sự đời đâu “cậu”.

Đoàn người trong nhà Thày Lang Thân dắt díu nhau đi. Có Thày Lang Thân, có cô Mây mái tóc dài chấm gót dắt tay hai đứa con. Thằng lớn lên tám, con em lên bảy. Hai đứa con Thày Lang Thân với cô Mây tay giơ ríu mắt che nắng, gọi ơi ả anh Thìn đen đi mau chân cho kịp chúng. Trời buông lửa xuống đồng. Thứ lửa trời hanh hao làm khát khô cổ họng chú bé Thìn đen. Mùa thu năm Canh Thìn, những bông hoa cúc đang khoe cái màu vàng vốn có của mình trên cánh đồng làng Thanh Vàng.

5

Phải là người gan to lắm mới dám mua ngôi nhà ấy.

Ông Thìn đen trầm ngâm nói sau khi đã đẩy hai chân “cậu” đang duỗi ra bất động như đôi chân của người bị  liệt cho gập lại và co sát vào người. Ông Thìn đen cảm thấy cái sự ngồi của “cậu” như vậy đã khá chắc bệ. Câu nói của ông vừa bộc lộ sự thán phục về ý chí, vừa tỏ vẻ kính nể vô vàn dành cho người mà ông vừa nhắc đến. Bên ngoài không gian đột ngột im ắng. Thường thì mỗi khi chuyển mốc thời gian trong ngày từ buổi này sang buổi khác, không gian bao giờ cũng đột ngột im lìm như vậy.

Ngày đầu đặt chân lên đất Hà thành, chú bé Thìn đen hãi xanh cả mắt, chú không dám đặt chân xuống đường để bước sang bên kia phố. Từ phố Hàng Cân, nơi ở mới của gia đình Thày Lang Thân, sang bên phố Hàng Đào chỉ vừa đi vừa chạy chừng mươi bước là chú bé Thìn đen đã có thể đứng bên hè phố. Chú mở tròn đôi mắt nhìn chuyến xe điện đang rít bánh ken két trên hai cái thanh sắt xếp song song với nhau, dài mút mát. Chuyến xe điện nhũng nhẵng mấy toa xe bu đặc người với người vừa chạy qua trước mắt chú. Người đâu mà đổ ra lắm vậy? Chú bé Thìn đen càng ngơ ngác hơn khi thấy kẻ chân bám lên cửa xe điện, người buông tay nhẩy từ trên xe xuống phố. Họ vội vã, họ ào ào như ổ kiến đỏ vừa bị chính tay chú chọc que vào nghịch ngoáy. Chuyến xe điện Bờ Hồ ngược lên chợ Đồng Xuân đang dừng lại đón trả khách, chú đứng nhìn trân trân, mắt đầy nghi hoặc Trên những toa xe toàn là mấy bà nhà quê chân đất, họ lếch mếch thúng mủng quanh gánh, gọi nhau léo nhéo. Chú để ý tới khuôn mặt nhầu nhầu của một ông xẩm mù. Ông xẩm mù đầu ngửa hếch, kính đen che kín mắt, chân đất quẹt lê, bước rò rẫm. Ông xẩm mù được một thằng bé con chừng độ tuổi chú bé Thìn đen dắt đi nhờ một chiếc ba toang làm bằng cây mây kẹp ngang nách. Ông xẩm mù đi như đếm từng bước chân dọc toa xe, vừa đi vừa ỉ a kéo nhị, vừa hát những câu não nề trong ruột. Bác tài xe điện giật dây chuông leng keng báo hiệu xe chuyển bánh. Lửa tóe xanh lè trên đầu cái cần giống cái cần câu cá ngoài sông Như. Cái cần nối nóc xe điện với hàng dây điện loẵng nhoẵng giăng dọc đường phố. Nó tóe lửa xanh lè giống tia sét đánh vào ngọn cây đa giữa đồng làng Thanh Vàng trong những đêm mưa to gió lớn Chú bé Thìn đen đứng ngây mặt ra mà không hiểu sao nó lại chạy được vì chú không thấy có trâu kéo hay có người xúm vào đẩy đít nó. Đấy là lúc chú được Thày Lang Thân nhắc chạy ra ngoài hóng xem xem vào giờ này sao vẫn chưa thấy mấy người đem hàng tới. Chú đứng ngây mặt ra, rồi chợt nhớ việc Thày Lang Thân đã dặn mà dớn dác nhìn quanh. Hà thành giống như một phiên chợ ở quê mà chú đôi lần được bám váy mẹ theo ra chợ ăn bánh đúc chấm tương, người qua kẻ lại chóng cả mặt, người đi như va cả vào nhau nhưng lại là một phiên chợ họp từ sáng tới chập tối, ngày nào cũng họp. Chú như lạc vào giữa một phiên chợ toàn những người không phải là người làng mình. Nhìn mãi mà chú chưa nhận ra đâu là người đem hàng đến giao bán cho Thày Lang Thân, đâu là người đem hàng đến giao bán cho lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông.

Chính lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông là người mách mối ngôi nhà 98 phố Hàng Cân cho Thày Lang Thân tới hỏi mua. Một ngôi nhà mới xây, kiểu tây, mái ngói đỏ au, tường quét vôi vàng, những chiếc cửa to dùng để ra vào hay cửa sổ dùng để đón gió đều sơn màu xanh. Ngôi nhà này nằm ngay góc giao nhau giữa phố Hàng Cân với phố Hàng Bồ. Rất tiện cho việc người nhà đi lại hay cho người đến buôn bán với Thày Lang Thân. Nhà rộng, cửa cũng rộng nhưng khoảnh sân vuông lát gạch vuông nằm giữa khuôn viên của ngôi nhà mới chính là điều chú bé Thìn đen thích nhất. Chú lúc rảnh việc nhà chạy vòng vòng quanh sân giống như chú đang chạy vòng vòng ngoài đồng làng mình vậy.

Lúc cả nhà mới tới, đứng trước ngôi nhà. Đứng trước cái cửa vào ra rộng nhất. Trên đầu khuôn cửa đã treo ngay ngắn một tấm bảng làm bằng tôn, dài bằng chiều ngang khuôn cửa, sơn màu xanh như màu lá cây hoa cúc nổi bật dòng chữ “Hãng thuốc Thanh Vàng”, nét chữ uốn vòng trông như những cánh hoa cúc, dòng chữ cũng màu vàng rực, cô Mây chợt dùng dằng níu tay hai đứa con lại. Thày Lang Thân phải giục mãi cô Mây mới e dè bước qua ô cửa. Vào hẳn trong nhà rồi cô Mây lại đứng dừng lại, mắt cô nhơn nhớn như thoáng bắt gặp bóng người nào đó  vừa lảng qua, cô vội trông theo, cô ngước lên trần nhà, cô ngóng tai lên tầng hai. Tự dưng cô Mây rùng mình, toát mồ hôi thành hạt, vã lã chã trên trán. Cô Mây lảo đảo khuỵa người, ngã lăn ra như người trúng gió. Cả nhà hú hồn chưa hiểu chuyện gì đã xẩy ra với cô Mây. Chắc là đi đường xa, tàu xe lại chen chúc? Người ẻo lả như cô Mây chưa hết choáng váng? Hai đứa con của cô Mây với Thày Lang Thân nhìn thấy mẹ mà sợ díu vào nhau khóc toáng lên. Thày Lang Thân phải gọi to chú bé Thìn đen mới sực tỉnh, chú cuống quýt móc tay nải nâu vẫn quàng bên vai lấy ra lọ dầu Nhị Thiên Đường. Lọ dầu chú được cha mẹ mình dúi thầm cho. Với họ, có con theo người đi xa chẳng có gì làm quà, giấu cho lọ dầu phòng khi gió máy.

Hơi nhà toát ra lành lạnh. Mùi ẩm mốc bốc lên từ nền nhà ướt dớp dáp làm cô Mây sau hồi ngã khuỵa được Thày Lang Thân soa dầu Nhị Thiên Đường lên hai bên thái dương. Thày Lang Thân vừa soa thứ nước màu nâu sẫm, vị nồng, cay âm ấm vừa từ từ day day xoay xoay theo chiều của kim đồng hồ. Cô Mây đã tinh tỉnh nhưng hắt hơi liên tục. Cũng tại lâu ngày nhà không có người ở nên vắng hơi người mà nó lạnh, mà nó mốc. Thày Lang Thân nói to an ủi mọi người. Nhưng từ đó chú bé Thìn đen thấy cô Mây trầm hẳn đi. Cô luôn len len đánh mắt lên trần nhà, ngóng tai lên tầng hai như để nhìn trộm ai hay trông chừng cái gì đó. Chỉ có chú bé Thìn đen với hai đứa con của cô Mây với Thày Lang Thân là không có biểu hiện gì khác. Sau hồi thấy mẹ ngã lăn ra nền nhà chúng vãi cả nước đái ướt rây quần, chúng lại chạy nhảy khắp xó xỉnh khám phá nơi ở mới còn xa lạ. Trẻ con bao giờ cũng vậy. Được đi xa và được đến nơi mới là chúng sẽ quên vội những phiền muội. Mà trẻ con biết gì mà có phiền muội?

Tử để sinh. Vong để tồn.

Ngồi dựa lưng sát thân cây đa, tựa vai mình đỡ vai “cậu”. Co ró trong hốc cây đa đầu óc ông Thìn đen luôn lởn vởn, luôn ám ảnh về những hồn ma ban trưa thả mình từ tán lá đa buông xuống đất. Ông đan hai bàn tay vào nhau ôm co gióng hai chân mình cho đầu gối chạm sát tận mặt. Ông Thìn đen đang hồi nhớ lại câu nói đó của Thày Lang Thân. Thì ra khi tính mua ngôi nhà số 98 phố Hàng Cân này Thày Lang Thân đã biết nguồn cơ của ngôi nhà. Nghe đâu đó vốn là cửa hiệu rất to chuyên bán vải vóc tơ lụa của ông chủ Khách họ Trần người tỉnh Phúc Kiến, tận đâu mãi ở nước Trung Hoa dân quốc. Ông chủ Khách sang nước ta cùng cha mẹ, họ buôn bán làm ăn đâu như mấy chục năm trước, thấy hời thấy lãi lờ mà ở lại. Ông chủ Khách họ Trần là người giàu có. Giàu hơn nhiều lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông. Giàu hơn nên nhà này cũng rộng hơn, cửa cũng to hơn. Nhà lại làm theo kiểu tây nên trông khác trội trên dãy phố toàn những ngôi nhà cũ kỹ, thấp lè tè, sâu hun hút, mái ngói thâm sì. Ngày đó những ông chủ cửa hàng tơ lụa vải vóc thường là những người khá giả hơn những ông chủ buôn bán khác. Từ mấy năm trước khắp Hà thành đã có rầm rộ phong trào phụ nữ đua nhau thướt tha mặc những chiếc áo dài kiểu “tân thời” rất yểu điệu. Đàn ông thì sang trọng trong những bộ veston mới du nhập. Sự giao thoa giữa lối ăn mặc cổ cách truyền thống của phụ nữ với tác phong trưởng giả theo lối tây phương của đàn ông đã nhanh chóng khiến các ông chủ cửa hàng tơ lụa vải vóc phất lên. Ông chủ Khách họ Trần đang giàu lên bỗng tự dưng rao bán nhà. Ông rao bán nhà tự dưng, lại muốn bán nhanh, bán rẻ vậy mà chỉ có mỗi Thày Lang Thân là người đánh tiếng hỏi mua. Thày Lang Thân nghe theo lời giới thiệu của lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông.

Khu nhà khá rộng, hình chữ tâm. Nhà lại mang số 98 mới đáng mua chứ, cứ chiếu theo luật phong thủy thì nhà mang số này rất tốt cho người đến ở, lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông đã thao thao nói như rót vào tai Thày Lang Thân. Theo đó con số 9 là con số của hạnh phúc, an lành và thuận lợi. Đó là con số tượng trưng cho sự vĩnh cửu và đẹp đẽ. Rất nhiều người thích con số 9 vì nó gần như là hình ảnh cho sự viên mãn tròn đầy. Còn con số 8 lại là con số có nhiều sự quan hệ tôn giáo, là 8 điều bất tử trong đạo Lão và Bát chánh trong Phật giáo. Một con số có thể ngăn chặn những ảnh hưởng xấu trước sự xâm nhập của ma quỷ. Thày Lang Thân nghe giảng giải vậy thì tỏ ra ưng ý vô cùng, trong thâm tâm của Thày thì dường như việc mua ngôi nhà số 98 này đã có sự ứng báo của trời đất cho gia đình Thày. Hiện tại và tương lai xem chừng sẽ thuận. Nhà lớn phía trước hai tầng lầu trông ra mặt phố. Dãy nhà ngang phía trong, thấp như những ngôi nhà ở quê, vòng như cái móng bò, ôm lấy khoảnh sân thông thoang nắng gió. Đúng là một ngôi nhà “thông tiền thoáng hậu”. Một ngôi nhà mà mặt tiền có những ban công nhìn xuống phố. Đứng trên ban công, chếch về bên tay phải, nếu cố nhoài người để ngoái đầu nhìn ra xa, thế nào cũng thấy phía đó là hồ Gươm. Chú bé Thìn đen chỉ biết phía đó có hồ Gươm theo như lời Thày Lang Thân nói nhưng cũng phải đợi mãi ba năm sau, khi chú theo chân Thày Lang Thân ra đó ngóng tìm thì chú mới thực sự biết hồ Gươm là thế nào. Ví như sông Như ở làng Thanh Vàng chẳng hạn. Mười hai tuổi chú bé Thìn đen ngụp tưởng đứt hơi, lặn hối hả cũng chỉ tới chừng được một phần ba chiều ngang của sông. Còn hồ Gươm thì chú lắc đầu. Phải tới vài trăm lần chú ngoi lên, ngụp xuống, lặn tưởng đến đứt hơi thì chắc mới tới bờ bên kia của hồ Gươm được.

Cụ Lang nhà mình đứng can Mậu nên cụ chẳng hãi.

Ông chủ Khách họ Trần của cửa hàng vải vóc tơ lụa đang làm ăn phất lên như diều gặp gió thì cô con gái duy nhất của ông vì u uất chuyện tình duyên lỡ dở mà treo cổ tự tử ngay trong căn  phòng dành cho cô. Ông chủ Khách họ Trần này rất đông con nhưng toàn là con trai, mãi ngoài năm mươi tuổi ông mới sinh thêm cô con gái này nên ông quý còn hơn của cải. Thực ra những người con trai của ông chủ Khách họ Trần đều phương trưởng, họ đi làm ăn riêng và ra ở riêng nên ngôi nhà này mặc nhiên để cho cô sau này. Cô con gái mà ông chủ Khách họ Trần có được là nhờ bà vợ thứ hai. Bà vợ thứ hai này trẻ, tuổi còn ít hơn con trai út của ông chủ Khách họ Trần. Bà là con gái Hà thành chính gốc, nên cô khi sinh ra được thừa hưởng mọi nét đẹp có từ người mẹ cùng những tâm tính cũng của người mẹ. Ngày trước con gái Hà thành vô cùng đoan trang, lãng mạn nhưng lại rất khuôn phép, gia giáo và hiếu lễ. Cô gái họ Trần vừa chạm tuổi trăng tròn lẻ. Xinh như đóa mộng đầu cành xuân, tràn trề như suối nguồn lai láng.

Đời hay ngang trái, thứ gì càng quý càng dễ mất.

Chuyện này mãi khi chú bé Thìn đen trở thành ông Thìn đen thì mới được biết. Hồi cả nhà Thày Lang Thân tới ở ngôi nhà này và mãi mấy chục năm sau chẳng có ai là người được nghe về chuyện đó. Cô gái họ Trần treo cổ chết sau khi chàng thi sĩ, người yêu của cô, bị ông chủ Khách họ Trần cấm cửa không cho qua lại. Hay chính xác hơn là chuyện tình yêu của hai người bị ông chủ Khách họ Trần ngăn cản quyết liệt. Ai đời đứa con gái xinh như mộng, con cưng của một ông chủ cửa hàng vải vóc tơ lụa giàu nhất nhì đất Hà thành ngày đó, lại đi phải lòng một chàng thi sĩ nghèo kiết xác, cầu bơ cầu bất, đầu óc luôn uẩn u với những câu thơ kiểu như “Anh ước hái chùm sao kia làm quà trần thế. Dâng cho em trong hôn lễ động phòng” hay “Mai anh chết xin em đừng nhỏ khóc. Nước mắt kia làm hoen ố má hồng”.

Người hồng nhan thì phận mỏng mà “cậu”.

Nghe nói cô gái họ Trần đẹp mê hồn. Dáng thiết tha tựa như cây liễu, mắt trong veo như vì sao lấp lánh trên trời, da trắng hồng như vỏ quả trứng gà vừa rơi xuống ổ, tóc mượt mềm như dải mây bay, môi đỏ thắm như quệt nước trầu, nụ cười hồn nhiên làm đê mê biết bao chàng si tình. Mà toàn là những trang công tử trên phố Hàng Ngang, Hàng Đào cùng là con của cánh buôn bán vải vóc tơ lụa với nhau, rõ thật môn đăng hậu đối. Hay những trang công tử con nhà quan, học trường tây, nói với nhau toàn bằng tiếng tây, nhà đằng những phố tây như phố Rue Paul Bert mạn kia hồ Gươm, lên xe xuống ngựa, rõ thật hài lòng. Cô gái họ Trần đều ngoảnh mặt dửng dưng. Lòng cô đã hướng về chàng thi sĩ, mê mẩn suốt đêm với những câu thơ mới chỉ nghe đọc thôi đã làm bao con tim nức lên thổn thức. “Nguyện gom hết những tia nắng hạ. Với mùa thu rực nở hoa vàng. Nguyện thắp lên giữa đêm băng giá. Soi nồng nàn những hơi thở yêu đương”. Đêm nằm đọc thơ và ngóng trăng một mình trong căn phòng dành cho cô trên tầng hai, cô gái họ Trần mơ mơ tới cái ngày cô được vùi mặt mình vào mái tóc rối bời của chàng thi sĩ. Cô mơ mơ mà cồn cào nỗi nhớ mặt người cả đêm không ngủ. Chập chờn trong mắt cô là gương mặt chàng thi sĩ đang ngửa lên như để tìm sao trên trời, mắt nhắm suy tư, đọc thơ như thả hồn vào từng câu thấm tận cõi lòng người nghe thơ của chàng. Càng nghĩ càng nhớ, càng nghĩ càng luẩn quẩn, càng nghĩ càng thôi thúc, càng nghĩ càng nung nấu, càng nghĩ càng thấy tuyệt vọng.

Nó cũng như tại cái số ấy bị trời đầy.

Cô Mây những ngày sau đó bề ngoài chừng ổn thỏa nhưng tâm tình lại sinh sầu muộn. Cô hay ngồi tư lự, thỉnh như thèn thẹn. Hằng sáng cô mần tay vịn theo lối cầu thang gỗ xoáy tròn từ tầng hai xuống ngồi lọt thỏm người giữa bộ tràng kỷ được đóng bằng gỗ mun, nước gỗ đen nhoáng bóng. Bộ tràng kỷ kê ngoài phòng khách ngay chính giữa tầng một. Đôi mắt của cô luôn bộc lộ vẻ ưu tư, nụ cười vô cảm ẩn bên hàm răng đều như hạt na trắng lóa. Thái độ của cô cũng trở nên khác lạ ngày cô còn ở làng Thanh Vàng, cô hay nhìn trộm, thoảng chút giật mình mỗi khi có tiếng kẹt cửa trên tầng hai vọng xuống. Có bao nhiêu sự tươi trẻ dường như đến ngôi nhà 98 phố Hàng Cân này đều bay đi hết. Mái tóc mềm và mượt như dải mây xõa bay cẩu thả. Gương mặt trái xoan trắng hồng chuyển sang mai mái như kiểu người có bệnh lạ trong bụng. Cô ít ăn hẳn đi, mỗi bữa chỉ khều khều đôi đũa, rồi gắm từng hạt cơm bỏ vào miệng một rất nhẫn nại.

Thày Lang Thân từ ngày khai trương Hãng thuốc Thanh Vàng lại quá bận bịu với công việc mới. Thày ăn cũng ít nhưng là cái ít của người mắc việc, mải lo toan chứ không phải kiểu ăn ít kiểu sầu muộn khó tìm nguyên cớ của cô Mây. Đôi ba bận Thày Lang Thân tự tay ngồi bón cơm cho cô Mây, những đũa cơm mà toàn là những hạt cơm gạo tám xoan thơm lừng. Với thứ gạo ấy chú bé Thìn đen cùng hai đứa con của cô Mây chỉ cần cơm không cũng và ngoáy đã xong ba bát.

Đấy là những ngày tháng đầu tiên sống trong ngôi nhà mới. Cũng có thể cô Mây vốn sinh ra và lớn lên ở vùng quê yên ắng nên chưa bắt nhịp được với cách sống ầm ào nơi Hà thành đô hội. Ban đêm đường phố Hà thành thật náo nhiệt chứ không tĩnh lặng như những con đường ở làng. Ở làng vào ban đêm tiếng gió hú qua mái nhà gợi lên bao chuyện làm trẻ con giấu mặt vào tay khóc thút thít. Hay cùng lắm là lúc gần sáng, lũ chó đông đúc, chúng vì ganh nhau tiếng sủa mà tru lên ông ổng như làng có cướp. Còn bầy gà trống tơ nữa. Tiếng gáy chưa vỡ giọng nghe te te, ong tai nhức óc khiến mấy đứa trẻ con mải ngủ nướng mà lười dậy đến mấy cũng phải bò ra khỏi chiếc giường tre mỗi khi cựa mình lại phát ra tiếng kêu kẽo kẹt như tiếng ma đưa võng. Ở Hà thành ngày cũng như đêm, ánh đèn điện ngoài phố hắt qua song cửa sổ, đổ những bóng đen giống như những chiếc que tre dài thượt, câm nín trên nền nhà làm cô Mây thêm trằn trọc. Cô ngước mắt nhìn lên trần nhà, ánh mắt chợt thảng thốt, cô chụp tay lên ôm đầu như trong tai cô đang vang lên những tiếng nói xa vời nào đó vọng đến.

Cô Mây, chỉ có cô Mây là vào lúc chập tối, lúc ấy cây đèn tọa đăng mới thắp, ánh sáng vàng vàng còn yếu ớt, chiếu cái bóng của cô in trên tường, bóng cô  đang ngồi tư lự trong căn phòng dành của mình. Cô Mây lại thoảng giật mình, miệng lẩm nhẩm nghe hơi chút ngân nga những câu gì đó. Cô Mây đứng dậy, cô bước lại gần bức tường phía đông của căn phòng, chút sáng nhờ nhờ do ráng hồng của mặt trời đã lặn đang soi tới. Trên bức tường ấy cô nhìn thấy bóng một người con gái đang xõa tóc đi đi lại lại. Mái tóc xõa dài được chút gió từ cửa sổ thổi tới bay lả lơi. Cô thấy sao hình bóng của cô gái xa lạ trên tường sao giống hình bóng của mình đến vậy. Cô Mây vòng tay vén tóc. Cái bóng cũng vòng tay vén tóc. Cô Mây vuốt vuốt má mình. Cái bóng cũng giơ tay lên vuôn vuốt má mình. Cô tiến lại gần hơn. Cái bóng cô gái xa lạ thoắt nhỏ đi nhưng cũng chẳng ngại ngần bước sát tới người cô. Hai người. Một bóng và một hình chập vào nhau. Cô Mây hét to sợ hãi.

Thể tình của cô Mây không trầm trọng như người đổ bệnh nhưng nó làm Thày Lang Thân cũng chút phiền lòng. Cứ vào chập tối khi bóng nắng ngả hẳn về tây, khi đường phố hiu hắt ánh đèn, soi bóng người chập chờn là Thày Lang Thân lại lên căn phòng của cô Mây. Có Thày Lang Thân ngồi cạnh cô Mây không những yên dạ mà cô lại hốt hoảng nhiều hơn. Cô bấu lấy người Thày Lang Thân mà khóc lóc. Khóc nhỏ thôi nhưng tiếng khóc não nề và thổn thức như chính cô đang mắc gì oan ức. Rồi cô tìm cách đẩy Thày Lang Thân ra xa khỏi người mình. Tự dưng cô Mây thấy ghét vô cùng người đàn ông đang tìm cách vỗ về cô. Cô chạy ra mở toang cánh cửa sổ, cánh cửa trông xuống phố. Cô ngóng mắt nhìn tít con phố nhỏ dài hun hút. Cô Mây như đang tìm ai đó, cô đang trông ngóng ai đó.

Những hồn ma thường chọn người cùng căn kiếp với mình để nhập thân.

Đấy là những bữa cô Mây bị hồn ma cô gái trinh họ Trần về nhập vào. Lúc ấy cô không còn là cô Mây nữa. Cô Mây đã biến thành cô gái trinh họ Trần, cô lẩm nhẩm đọc những câu thơ mà trước đó cả đời cô cô chưa từng biết. Ngày chưa ra Hà thành cô Mây chỉ là một cô gái quê, lấy chồng, đẻ con và chăm sóc chồng con. Một vài đôi chữ cô mới học lỏm nhờ hồi còn ở làng Thày Lang Thân thuê anh giáo học làng bên sang dạy chữ cho hai đứa con. Học lỏm nên cô ham chữ, vớ bất cứ thứ giấy gì có chữ là cô đều mải miết đọc, chuyện đọc thơ và nhớ thơ âu cũng là lẽ thường tình. Những câu thơ chất chứa tâm hồn cứ từ miệng cô tuôn ra như suối chảy. Những nỗi buồn trong thơ cứ réo rắt trong lòng cô. “Đợi đến luân hồi sẽ gặp nhau. Cùng em nhắc lại chuyện xưa sau. Chờ anh dưới gốc sim già nhé. Ta hái trao nhau đóa mộng đầu”. Cô Mây đọc thơ thế nhưng đời cô đã có mối tình nào đâu để gọi là mối tình đầu. Cô thuận lời lấy anh cả Thân, tức Thày Lang Thân cũng vì lẽ anh cả Thân là cả niềm ao ước của những cô gái làng Dục ngày đó. Tự dưng trong lòng cô Mây lóe lên những khát vọng yêu đương. Những khát vọng do con tim cô thôi thúc. Cô thấy sợ hãi ngôi nhà cô đang sống. Những hình bóng cứ lởn vởn trên bức tường phía đông mỗi khi chiều xuống.

Cụ nhà mình tinh ý lắm.

Ông Thìn đen duỗi chân, vặn ngón tay kêu khùng khục cho đỡ mỏi. Ông nhìn sang bên “cậu”. “Cậu” đang ngồi im lặng, đôi môi trề ra trông rất buồn cười. Những sợi rớt rãi thầm thì chảy xuống ướt đầm vạt áo của “cậu”. Gió hơi chờn rợn. Lưng ông Thìn đen ngọ nguậy va phải một mấu cây thấy đau nhói. Cái thúc đau nhói  làm ông nhớ tới hiện tại.

Ngồi thêm một tí nữa ta sẽ đi “cậu” ạ.

Hơi ngả người đánh mắt nhìn nhanh lên tán lá đa, ông Thìn đen se sẽ nói như sợ ai nghe thấy. Những ngày cô Mây đổ bệnh Thày Lang Thân giấu tiệt mọi người. Trong nhà không có ai được biết tình hình tâm thần của cô Mây. Đích thân Thày Lang Thân tự tay mỗi ngày ba lần lên phòng cô Mây. Thày tự tay bón từng thìa cơm cho cô, an ủi cô. Nhưng đều vô vọng. Cô Mây lại hoảng sợ hơn mỗi khi Thày Lang Thân bước vào. Hình như trong mắt cô bây giờ không phải là anh cả Thân tài giỏi nhất làng bữa nào mà là một gã đàn ông thấp tè với những ngón tay ngắn ngủn. Cô Mây bật cười mỗi khi cái đầu tròn tròn cùng cái dáng thâm thấp của Thày Lang Thân đẩy cửa ngó mặt vào. Cô thấy đó là một người hoàn toàn xa lạ và dửng dưng.

Bây giờ chồng thấp vợ cao. Như đôi đũa lếch so sao cho vừa.

Tự nhiên ông Thìn đen lại ngẫm ngợi câu ca dao nghe đến héo lòng. Quả tình là cô Mây cho dù bệnh tình khó đoán định nhưng dáng hình của cô lại mỗi ngày mỗi đẹp thêm lên. Ngồi trong nhà lâu ngày nên nước da cô Mây không trắng hồng nữa, nó mai mái xanh xanh nhưng nước da mái xanh của cô nhìn mà lại thấy như muốn ôm trọn trong tay hơn. Đàn ông hình như thích những người đàn bà yếu đuối để họ có cơ hội được chăm sóc hay nhường nhịn. Thày Lang Thân cũng thuộc tuýt người đàn ông như vậy. Thày càng thương cô Mây hơn nhưng Thày càng thương cô Mây càng xa lánh Thày.

Cô Mây chập tối nào cũng ngồi tư lự đọc thơ. Những câu thơ như nhập vào tâm hồn cô từ khi nào chẳng rõ. Như những câu thơ ấy từ chính cõi lòng của cô mà hình thành. “Nắng nhạt, chiều rồi. Em ơi, xin đừng chậm chễ. Bởi nắng kia đâu biết đợi chờ. Anh xin hóa tình anh thành giường mộng. Dâng tân nương sởi ấm hồn buồn”.

Bữa cô gái trinh họ Trần treo cổ tự vẫn là bữa cô đã trắng một đêm không ngủ. Cô gái họ Trần viết lên giấy la liệt những câu thơ tình do chàng thi sĩ nọ đọc tặng. Hồi đó phong trào thơ tình nở rộ. Đâu đâu cũng một hình ảnh những chàng thi sĩ đầu tóc rối bù. Ngửa mặt nhìn trời sao đọc thơ trầm ngâm. Biết bao trái tim thiếu nữ Hà thành coi đó là nguồn mạch yêu thương dành cho riêng họ. Những năm đó thật có nhiều biến động cùng nhiều chân lý sống được phô bầy. Giữa biết bao hỗn độn đó, thơ tình vụt lên như vì sao băng đốt cháy biết bao tâm hồn còn chưa biết ngày mai ra sao. Việc cô gái họ Trần yêu thơ, thích thơ rồi mê người làm thơ không là chuyện riêng lẻ. Gái Hà thành ngày đó yểu điệu trong những chiếc áo dài tân thời, tay cầm hoa hồng nhung đỏ thắm, mắt si mê ngưỡng vọng những chàng thi sĩ.

Họ cũng có ấp ủ  riêng của họ chứ “cậu”.

Dường như những câu thơ cô gái họ Trần viết ra trong đêm cuối cùng của cuộc đời mình đã thấm sang cô Mây. Thày Lang Thân dù bận bịu với việc bán buôn buôn bán nhưng Thày là người sáng dạ nên Thày đã đoán biết. Không tin vào ma quỷ nhưng Thày tin sự ám ảnh từ chính ngôi nhà mà mình đã mua và đưa cả gia đình đến ở. Lão chủ người Tàu chủ hiệu thuốc bắc bên phố Lãn Ông nhay nháy đôi mắt lươn của mình nhìn Thày Lang Thân ý thăm dò. Lão ranh ma phải biết. Chỉ nội việc lão giới thiệu cho Thày Lang Thân đến mua được căn nhà này lão đã bỏ vào chiếc hộp gỗ sơn đỏ khóa kỹ càng chuyên dùng để cất tiền của lão cũng kha khá. Ông chủ Khách họ Trần cảm ơn lão một khoản tiền hậu hĩnh bởi nhờ lão căn nhà mới bán suôn sẻ. Nên việc lão nhay nháy mắt thăm dò ý tứ Thày Lang Thân cũng có lý do. Lão đang sợ Thày Lang Thân tìm gặp lão bắt đền chuyện mua nhà đó, hay đòi lão tìm ông chủ Khách họ Trần về để cự nự. Lão chủ người Tàu biết thừa ông chủ Khách đã rời đi đâu nhưng lão luôn hắng tiếng ý rằng lão không rành lắm. Những người bên Tàu đã sang bên ta hay cụ thể hơn là những người Phúc Kiến một khi đã bỏ quê đi làm ăn tha hương họ không bao giờ đoài hoài về cố quốc. Người Phúc Kiến đã một đi là không bao giờ trở lại. Thày Lang Thân thừa biết ông chủ Khách bỏ đất Hà thành chạy lấy người đâu như vào tận trong Sài Goàng thì phải.

Hay là cho cô nhà đi đâu cho khuây khỏa.

Lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông không cần đợi Thày Lang Thân nói câu gì đã gợi ý luôn. Thâm tâm lão, lão thừa biết chuyện cô Mây thế nào. Người Tàu họ rất giỏi biết chuyện nhà nào có ma ám hay chuyện người nào bị hồn nhập. Đơn giản vì nếu sao biết ngôi nhà 98 Hàng Cân rao bán rất rẻ mà lão không mua. Lão không mách mối cho những người Tàu đang sống vạ vật dưới gầm cầu Đume, hay kéo xe ba gác chạy rã cẳng khắp phố hoặc hì hục khuân vác oằn lưng ngoài bến Phà đen đến hỏi mua. Lão chỉ nhăm nhăm giới thiệu cho Thày Lang Thân, tức là lão muốn đổ thừa cho những người mà lão chẳng hề có chút bà con.

Không hiểu sao cụ nhà mình lại hay nghe lão chủ người Tàu đến thế?

Căn phòng cô Mây ở cũng chính là căn phòng ngày trước cô gái trinh họ Trần đã ở. Một căn phòng đẹp nhất ngôi nhà với kiểu bầy biện trang nhã hợp với những người thục nữ. Chính giữa phòng kê một chiếc bàn độc hình tròn, mặt bàn ốp đá hao cương trắng, vân hoa màu nâu non uốn lượn thành hình sông núi, nhìn kỹ thấy giống một bức tranh thủy mặc. Trên mặt bàn cứ ba ngày một lần Thày Lang Thân cho chú bé Thìn đen lên cắm một bình hoa cúc vàng tươi rói, đó là những bông hoa do người làng Thanh Vàng mang lên Hà thành mối khi họ đến giao hàng. Ý của Thày là muốn mọi người trong nhà luôn hướng về quê hương, hướng về cái làng Dục xưa nghèo dớt mà tấn tới. Bàn chỉ có một đôi ghế kê kèm, chiếc ghế có tay ngai, lưng ghế cũng ốp đá vân hoa, mặt ghế đen bóng ngồi mát lịm. Cũng như cô gái trinh họ Trần ngày còn sống trong căn phòng này, chiều tối cô Mây cũng hay ngồi đó tư lự. Một cây bạch hạp thân tròn đỏ đặt trên bàn được thắp sớm, tỏa ra khắp căn phòng một thứ mùi hương thoảng như mùi trầm nhưng lại ngan ngát như mùi hoa dạ lan. Không hiểu tay kiến trúc sư nào thiết kế mà căn phòng này cửa ra vào và cửa trông ra ban công lại thông nhau. Mỗi khi mở cửa ra đứng trên ban công nhìn xuống phố, như có cảm giác đang có bàn tay nào đó khẽ đẩy vào lưng. Đứng ở đó người thần kinh yếu, hay người đa sầu đa cảm rất dễ vô tình gieo mình xuống đường. Thày Lang Thân lần đầu đứng như thế đã nhận thấy điểm xung này, Thày đã cho đặt chắn lối cửa ra ban công một chiếc tủ đứng một buồng, cao tầm tay người lớn với. Toàn bộ cánh cửa tủ là một tấm gương lớn soi rõ toàn thân. Cô Mây ngồi tư lự bên chiếc bàn tròn, mắt hướng ra ngoài phố nhưng cô không tài nào đẩy chiếc tủ sịch sang bên, để mở cửa bước chân ra ngoài ban công. Ánh mắt cô gặp ánh mắt người con gái trong gương. Cô thì thầm với chính nhân ảnh của mình mỗi khi chiều xuống. Lòng cô dạt dào những bức bối, cô như cảm thấy mình bị tù túng mà muốn phá tung nó, vứt bỏ nó.

Nghe lời lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông, Thày Lang Thân đã cho chuyển cô Mây sang căn phòng khác gần với phòng của Thày hơn. Tiếp theo là Thày nhờ người dẫn mối cô Mây làm quen với những quý bà những quý cô cùng dân buôn bán với nhau. Hồi đó Hà thành đang rầm rộ trào lưu các quý cô, quý bà theo đòi quý phái kiểu tây đua nhau đi học nhảy đầm. Cô Mây được ra ngoài nhiều hơn, cô đi học nhảy đầm. Phải nói là người Tây họ khá văn minh. Môn học nhảy đầm đem đến cho các quý bà quý cô nhiều hưng phấn. Họ chăm chút mình hơn, họ để ý nhiều hơn đến áo quần và son phấn. Những tháng sau đó cô Mây như lột xác, cô hoàn toàn biến thành một người khác. Với dáng liễu trời cho, với nước da trắng hồng như trứng gà mới đẻ. Chỉ qua vài buổi học nhảy đầm với mấy chị bạn mà cô Mây tiến bộ trông thấy. Thực ra sự tiến bộ ấy cũng một phần là những khao khát của cô Mây được giải tỏa.

Ban đầu cô Mây chỉ dám đi cùng với mấy chị bạn quen. Dần dà cô Mây năng đi hơn, cô đã có nhiều bạn mới hơn. Những người bạn mới này không đơn thuần là mấy cô mấy chị cùng dân buôn bán nữa, cô có bạn mới là những người đàn ông, người ta có người tây có. Những viên sĩ quan Pháp đẹp trai, cao ráo, lịch lãm có thừa và cách lấy lòng phụ nữ cũng có thừa. Cô Mây mỗi lần đi nhảy đầm về đôi mắt như rực lên lóng lánh. Cô thấy yêu đời hơn và ngại về nhà. Mỗi bận cô trở về nhà là cô lại thảng thốt khi đi qua căn phòng cũ. Cô thảng thốt thấy người con gái đẹp nồng nàn ở trong gương đang nhìn cô như vời gọi. Những lần như thế cô Mây lại trở nên rầu rĩ, cô lẩm nhẩm đọc thơ, giọng buồn như suối cạn.

Thày Lang Thân mừng lắm tuy vẫn còn đôi chút phân vân. Cuối cùng thì cô Mây nhà quê lại ủ dột ngày mới ra Hà thành đã mau chóng trở thành một mệnh phụ đất Hà thành thực thụ. Cô nhiều hôm đi nhẩy đầm tới tận khuya. Cô trở về trên người phang phảng hơi men. Có bác tài vòng vội xuống cuối xe để mở cửa, bác tài khom khom người khẽ chìa bàn tay đỡ cô Mây bước ra ngoài sau cái đỗ sịch của chiếc xe hơi lang bóng. Cô Mây còn dùng dằng bên cửa xe, cô hơi cúi người, điệu đà đặt những ngón tay thon dài lên che miệng, cô hôn đánh “chụt” rồi khẽ ngửa lòng bàn tay chìa cũng rất điệu đà vào trong xe, cô nói “ô voa” với ai đó đang ngồi trong xe.

Chuyện cũng chẳng sao. Sau ba năm ổn định trên đất Hà thành, công việc buôn bán thuốc nam của Thày Lang Thân cũng đi vào nền nếp. Hãng thuốc Thanh Vàng mau chóng khẳng định danh tiếng của mình nhờ lối làm ăn thật thà chứ không như lão chủ hiệu thuốc bắc người Tàu bên phố Lãn Ông. Lão chủ người Tàu này chỉ được cái lẻm mép, ăn nói tia lia nhưng bán đắt như chém cổ. Thày Lang Thân nổi danh lại thêm danh nổi nhờ có bà vợ đẹp như tiên. Sáng sáng cô Mây quàng chiếc khăn voan màu hoàng yến. Chiếc khăn mỏng, khổ to được gấp chéo, cô quàng khăn hờ hững ngang vai. Mái tóc dầy đen của cô Mây được bới cao càng làm lộ rõ cổ kiêu ba ngấn cùng cái ót trắng hồng hồng hút bao ánh mắt đàn ông, trên búi tóc cô Mây còn giắt cành trâm bạc nạm viên ngọc bích. Cô bước đi thanh thoát trên đôi bàn chân nhỏ xinh. Đôi chân xỏ gọn chặt trong đôi dép da cao gót, quai dép mảnh mai màu trắng kết hình hoa bướm càng tôn thêm vẻ đài các. Cô bước ra đường phố níu bao cái nhìn theo ngưỡng mộ.

Cô Mây đẹp lắm “cậu” ạ. Đẹp chẳng ai bì được đâu.

Trong thâm tâm và trong ký ức của ông Thìn đen thì cô Mây của mấy chục năm sau mãi vẫn là cô Mây ngày bỏ Thày Lang Thân ra đi mới hai mươi chín tuổi, đẹp như tiên giáng trần. Ông mãi trung thành với cách gọi chỉ vỏn vẻn có hai từ “Cô Mây”, chứ không thay đổi bất cứ một từ nào khác. Kể cũng chẳng sai tí nào.

Người đứng can Mậu là người có bản lĩnh nhưng lại vô tình với nỗi lòng của người bên cạnh mình.

Ông Thìn đen đang nhớ lại mùa đông năm Quý Mùi. Năm đó mùa đông đến sớm hơn thường lệ. Cái lạnh đầu đông khiến chú bé Thìn đen đã sang tuổi mười lăm vẫn còn muốn vùi đầu vào chăn ngủ thêm chút nữa. Chú cố vùi đầu vô tình không nghe thấy tiếng gọi dậy giục giã của Thày Lang Thân. Cho đến khi Thày Lang Thân phải lật chăn chú mới ngơ ngác kêu trời còn tối. Cả đêm qua cô Mây đi nhảy đầm không thấy về nhà. Thày Lang Thân chờ mãi, chờ mãi cho tới tang tảng sáng. Khi Thày vừa ngả người đặt lưng định nằm đôi phút cho lại sức thì bàn tay Thày chạm phải những tờ giấy giắt hờ dưới gối. Những tờ giấy pơ luya mầu hồng, gấp tư ngay ngắn, thơm ngào ngạt mùi nước hoa Chanel quen thuộc bởi cô Mây hay sức loại nước hoa này. Thày Lang Thân vội mở ra xem. Đó là bức thư của cô Mây gửi lại cho Thày. Không biết cô Mây viết những dòng chữ gì nhưng  Thày Lang Thân đọc trang giấy nào là thấy bàn tay Thày run run, giật giật. Thày Lang Thân hơi rủn người đi vài phút mới hồi tâm, đấy là lúc Thày chạy xuống nhà ngang có căn phòng chú bé Thìn đen đang ngủ. Thày chỉ kịp nói chú đi cùng Thày ra hồ Gươm tìm người. Đi tìm cô Mây.

Cô Mây đi đâu? Cô Mây đi với ai? Chú bé Thìn đen vừa dụi mắt vừa tấp tểnh chân theo Thày Lang Thân ra hồ Gươm. Chao ơi cái hồ rộng quá. Mặt hồ sớm mùa đông sương giăng mịt mù. Lác đác những bóng người nhưng toàn là những người đi bán hàng rong. Họ vừa đi vừa cất tiếng rao hàng nghe khê khàn như bắt người khác phải dừng lại mua cho họ thứ gì đó. Thày Lang Thân đi trước vội vã. Chú bé Thìn đen theo sau. Hai người dáng cùng thấp như nhau, lúi cúi vừa đi vừa ngó nghiêng. Bất cứ chỗ nào có người hay thấy bóng người là họ nhào tới. Không thấy cô Mây ở đó. Thày Lang Thân nhìn ra mặt hồ sương giăng mờ tỏ. Không thấy xác cô Mây nổi lên như Thày nghĩ cô vì buồn phiền theo cô gái trinh họ Trần mà nghĩ quẩn gieo mình xuống hồ.

Với chú bé Thìn đen thì đây là cơ hội cho chú được biết đến hồ Gươm rộng đến thế nào. Thày Lang Thân liên tục gọi chú thì chú mới dớn chân đuổi theo. Hai người đã đi hết một vòng hồ. Thất vọng và mỏi chân Thày Lang Thân kéo chú bé Thìn đen ngồi xuống chiếc ghế đá. Ghế ươn ướt và lạnh cóng cả mông. Người can trường và bản lĩnh như Thày Lang Thân đến lúc này cũng bật những cái sụt sịt. Chắc là do lạnh? Cũng có khi là do quá lo lắng. Hai Thày con ngồi bên nhau, mỗi người đuổi theo một suy nghĩ. Chú bé Thìn đen muốn một lần được bơi ở hồ này như chú đã bơi ngoài sông Như làng Dục. Thày Lang Thân như tuyệt vọng. Trong thư gửi lại cô Mây cho hay cô đã đi rất xa. Xa lắm, cô cầu xin Thày Lang Thân đừng đi tìm cô làm gì cho thêm thất vọng.

Chú bé Thìn đen chỉ biết có thế. Chú chỉ biết đi theo Thày Lang Thân ra hồ Gươm chứ không biết ra đây để Thày tìm hình bóng cô Mây. Thày Lang Thân khá kín tiếng. Thày không muốn lôi trẻ con vào chuyện người lớn. Lạnh giá quá. Chú bé Thìn đen dựa hẳn vào người Thày Lang Thân để ngủ tiếp. Chợt chú thấy người nóng rực lên. Mặt thấy ngưa ngứa giống như chú bị thằng bạn nghịch trêu sáp lá cỏ vào mặt. Chú dụi mắt nhìn ra. Thày Lang Thân vừa chợp mắt cũng chợt mở mắt nhìn ngạc nhiên như chú vậy. Chùm trên vai hai Thày con chú bé Thìn đen là một tấm áo ca pốt lính hơi rung rúc, áo may bằng dạ, màu cứt ngựa.

Mãi sau này ông Thìn đen mới được biết có một viên sĩ quan Nhật tình cờ đi ngang qua chỗ họ đang ngồi co ró trên chiếc ghế đá ướt buốt tận ruột giữa buổi sớm mùa đông lạnh giá. Viên sĩ quan Nhật dường như cho rằng đây là hai mảnh đời khốn khó mà cởi áo chùm cho hai người. Hay hình như viên sĩ quan Nhật thấy bộ dạng hai người rất đáng thương, họ cũng thấp bé giống như người Nhật mà động lòng. Hình như những người cùng máu đỏ da vàng, cùng nhỏ bé như nhau lại biết thương nhau hơn những người cao lớn?

Phàm là những người con gái tuổi Dần thì trước sau gì họ cũng phải thế “cậu” ạ.

NGUYỄN TRỌNG VĂN

(Còn tiếp)

>> Gia tộc Thanh Vàng – Tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Văn – Kỳ 1

>> Gia tộc Thanh Vàng – Tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Văn – Kỳ 2

>> Gia tộc Thanh Vàng – Tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Văn – Kỳ 3

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *