Miền nước chảy ngược – Tự truyện Nguyễn Ngọc Anh – Kỳ 4

Chương 4

NƯỚC NAM KHỔ CỰC

 

VHSG- Đó là tiếng kêu của một loài chim bí ẩn. Tiếng kêu có cái gì đó còn lay động hơn nỗi lâng lâng nhớ nước thương nhà của loài chim Cuốc, đậm buồn hơn cái da diết của tiếng Bìm Bịp gọi bầy. Chỉ đúng 4 âm, lặp đi lặp lại, gọn rõ, sắc ngọt như dao, tiếng kêu đã xé toang cái không gian yên tĩnh đen ngòm, như cứa lại nỗi buồn thuở ấu thơ của nó tưởng đã chìm qua năm tháng.

Mấy đêm nay nó ở nhà một mình. Đêm quê thanh vắng. Đâu đó quanh vườn, thỉnh thoảng vang lên những tiếng chim của ngày xưa. Tiếng chim kêu gợi nhớ cảnh hoang tàn đổ nát của quê hương mà lần đầu tiên nó chứng kiến lúc tuổi mới lên mười. Đó là những ngày cuối xuân năm 1975. Nó theo cha mẹ về quê sau 10 năm chạy giặc. Căn nhà bằng đá ong hiếm hoi của xóm cha nó xây dang dở năm 1965 đã bị đánh sập, nhưng những phiến đá to xếp chồng lên ngang ngực vẫn còn vững chãi. Nhiều phiến đá bị vỡ vụn, Những mảnh đạn vẫn còn rải rác quanh vườn phủ đầy cỏ dại.

Đất làng sau 10 năm không người canh tác đã trở thành một vùng rừng hoang vu, cây cối rậm rạp. Nương rẫy cỏ tranh mọc đầy. Hố bom đủ kích cỡ rải rác từ trên núi xuống ruộng. Thỉnh thoảng có những hố bom đôi to hình số 8. Mùa mưa, nước ngập đầy. Đây là nơi lý tưởng mà lũ trẻ chăn bò thường lặn ngụp sau trò chơi đánh trận giả vã mồ hôi. Đây cũng là nơi trưa trưa lũ bò xuống uống nước sau một hồi mải mê gặm cỏ, hay hục hặc với những con đực khác bầy. Ăn no, uống mát, hai bên hông căng tròn như cái trống, chúng lững thững tìm bóng râm nằm nghỉ. Trên núi, những giao thông hào ngang dọc cùng với nhiều ba lô súng đạn nằm chỏng chơ.

Tác giả Nguyễn Ngọc Anh

Đồng Trà Lung trước nhà thì cỏ dại phủ quá gối mênh mông kéo dài tận bàu Bà Huyện. Chiều sẩm, không gian như lặng yên ngưng đọng, hoang vắng lạ thường. Đêm đen ngòm. Những ngọn đèn dầu le lói bị che khuất bởi những khu vườn lưa thưa um tùm cây cối, không đủ thắp lên một chút ánh sáng cho không gian mênh mông tăm tối của những đêm đậm đặc không trăng. Từ các vườn cây rẫy núi, chốc chốc lại vang lên tiếng: “đứt gan đứt ruột, nước nam khổ cực, đứt gan đứt ruột, nước nam khổ cực…”. Chỉ có 4 âm lặp đi lặp lại, hiểu sao cũng được. Giống như nhìn tranh lập thể, cũng một bức tranh đó, mỗi người có thể thấy trước mắt mình những hình ảnh khác nhau tuỳ tâm trạng. Hồi đó nó hỏi mẹ nó, chim gì mà kêu buồn quá vậy. Mẹ nó trả lời, đó là loài chim “đứt gan đứt ruột”. Mẹ nó còn giải thích thêm: “Nước Nam mình bị chiến tranh tàn phá liên miên, điêu tàn chết chóc nên mới sinh ra loài chim đó”. Tiếng kêu của loài chim như một lời tiên tri định mệnh, như số phận của nước Giao Chỉ trong truyền thuyết Cao Biền mượn tay nàng Thiệu Khôi mê muội để trảm long mạch của con mình, vua Nam Chiếu, trên bờ sông Trà Khúc ngày xưa vậy.

Giờ đây nghe tiếng chim kêu “nước nam khổ cực” nó nhớ lại cũng đúng mùa nầy, trên mảnh đất này, cách đây 43 năm nó đã từng nghe những âm thanh giống y như vậy. Và nó bỗng hiểu rằng tiếng kêu ấy đã cứa vào tâm hồn non trẻ của nó một nỗi u hoài không bao giờ xoá sạch. Nỗi u hoài đã lắng sâu vào mênh mông tâm thức. Nó tìm hỏi những người dân xung quanh, nó hỏi lại mẹ nó về một loài chim kỳ lạ. Nhưng không ai biết loài chim đó tên gì. Cũng ít ai thấy nó. Ít ai biết nó có hình dáng thế nào, nó từ đâu đến. Chỉ biết cứ cuối xuân, đầu hạ, đâu đó quanh vườn trên rẫy, tiếng kêu “đứt gan đứt ruột” cứ vang lên. Quá khứ lại hiện về…

Lúc đó nó chỉ trông cho trời mau sáng. Chỉ cần vừa hừng sáng thôi là sự hoang vu tăm tối của bóng đêm biến mất. Tiếng chim buồn bã kia cũng biến mất. Nó sẽ bị lấn át bởi bản đồng ca rôm rả của đám ve hè nhất loạt tấu lên mở đầu ngày mới. Trời sáng. Những tia nắng long lanh xuyên qua kẽ lá, xuyên qua phên cửa sổ của túp lều tranh tạm bợ, chạm vào da thịt con người như tiếp thêm năng lượng, như xây thêm ước mơ về một tương lai tươi đẹp, để xua đi nỗi u hoài “đứt gan đứt ruột” cứ chốc chốc kêu lên trong những đêm dài dằng dặc. Trời sáng, người ta í ới gọi nhau đi làm. Thực ra là đi cuốc đất, phát vườn, phát ruộng, mà hồi đó gọi là khai hoang vỡ hoá. Trời sáng là bắt đầu một ngày mới, một ngày nai lưng dưới nắng trời chói chang, vã mồ hôi thấm đất. Nhưng dù sao cuộc sống cũng có vẻ rộn ràng, nhộn nhịp hơn.

Dân làng nó sau 10 năm chạy giặc tứ tán khắp nơi nay lục tục trở về. Họ về đa phần là dân từ các trại định cư ở vùng Quốc gia kiểm soát, một số ít là dân bám trụ tại chỗ hay dân đi tập kết. Dù có nguồn gốc từ đâu, dù có vui mừng hồ hởi hay e dè sợ sệt thì họ vẫn có một điểm chung. Đó là cái chất quê từ nhiều đời tổ tiên đã ngấm sâu vào máu thịt họ. Họ nuôi trâu, nuôi bò, họ cày cấy trên mảnh vườn thửa ruộng của cha ông họ để lại. Lúc đó, dù làng quê hoang tàn đổ nát, dù nhiều gia đình bị mất mát phân ly, nhưng người ta vẫn có một niềm hy vọng. Đó là đất nước đã hoà bình, chiến tranh đã kết thúc. Sẽ không còn cảnh đạn nổ bom rơi, sẽ không còn cảnh chạy giặc, cảnh sống vật vờ rày đây mai đó nữa. Người ta hy vọng sẽ được sống thanh bình yên vui, sẽ lại được cày, được cấy trên mảnh vườn của chính họ mà không bị ai quấy phá.

Cha nó là một nông dân “hạng bét” nhưng sau năm 1975 vẫn trở về quê làm ruộng. Lúc đó nhà nó có 4 người: ngoài cha, mẹ nó và nó còn có một ông bác, gọi là ông Ba (vì ông thứ ba). Ông ba là anh em con cô cậu với cha nó nhưng do không có vợ con nên chung sống với cha nó từ nhỏ. Cả nhà ở trong một túp lều tạm do cha nó dựng trên nền nhà bằng đá ong cũ. Từ sáng đến tối, cha mẹ và bác nó phải phát quang lại mảnh vườn nhà, rồi bắt đầu cuốc vườn, cuốc ruộng cho kịp vụ gieo trồng.

Mẹ nó gom góp được một ít tiền buôn bán trong 10 năm ở trại định cư An Châu vừa đủ mua được một con bò cái. Nó có nhiệm vụ chăn bò. Ngày đầu tiên cha nó dắt nó và con bò mới mua ra đồng Trà Lung mênh mông cỏ dại rồi giao cho nó chăn giữ. Nhiều người hàng xóm cũng thả bò ra đó. Mặc cho lũ bò cặm cụi gặm cỏ, họ tụ tập chuyện trò hay bày trận vui chơi. Nó, chỉ loanh quanh ngắm nhìn. Chiều chạng vạng, mọi người nghỉ chơi, vội vã lùa bò về nhà. Người và bò, từng nhóm, từng nhóm quẹo vào các con đường mòn rảo bước. Nó cảm thấy bơ vơ. Nó chạy tới chạy lui tìm con bò của mình nhưng không thấy. Chính xác hơn là nó không nhớ mặt con bò. Nó nhìn con bò nào cũng giống con bò của mình cả. Nó đã tan biến trong đàn bò đông đúc. Trời sẩm tối, đồng hoang bắt đầu vắng lạnh, bóng đêm chầm chậm phủ đầy. Một nỗi sợ hãi bỗng dâng tràn không thể nào kiềm chế. Nó chạy thẳng một mạch về nhà mặc cho con bò của nó đã lạc đâu không biết.

***

Đất rừng mênh mông, một người cuốc, hai người cuốc hết ngày này đến ngày khác chẳng thấm vào đâu cả. Bấy giờ làng quê nó có thành lập tổ vần đổi công. Mỗi tổ khoảng 10 đến 15 người khoẻ mạnh gọi là lao động chính. Mỗi nhà có thể có một hoặc vài người tham gia tổ. Hôm nay cả tổ làm cho nhà này, hôm sau làm cho nhà kia, cứ thế, cho đến nhà cuối cùng là một vòng, rồi lại bắt đầu vòng mới. Tổ vần đổi công làm cho người ta cảm thấy bớt nhỏ nhoi trước thiên nhiên to lớn, cho người ta cảm giác được sức mạnh của tập thể để vui vẻ hăng say và quên bớt đi cái nhọc nhằn trong công việc. Dần dà, tổ vần đổi công ngày càng phát triển. Những thành viên trong tổ tự động được mặc định là những người ngang sức.

Nhà nó chỉ có một người tham gia tổ vần đổi công, đó là bác nó. Cha, mẹ nó mới đầu còn được coi là quân dự bị, nhưng sau này gần như phải tự loại vì sức lực không thể nào theo nổi những thành viên khác. Người ta không thích đổi công với những người yếu sức hơn họ, dù không ai nói ra điều đó. Nó thì còn quá nhỏ để đi làm thay cho cha mẹ. Nhưng ngay từ lúc đó nó cũng sớm nhận biết rằng, dù có thêm vài tuổi nữa thì với thể lực và sở thích của mình nó cũng không thể nào bắt nhịp được với cái khí thế cơ bắp hừng hực “lao động là vinh quang” thời ấy. Nó có cảm giác như mình là kẻ dư thừa, kẻ bị hất ra rìa trong cái xã hội đang rầm rộ khai hoang vỡ hoá ngay từ thời ấy.

Một buổi chiều, đang học ở trường Nam An. Lớp 6, lớp 7 gì đó nó không nhớ rõ. Bỗng nghe một tiếng nổ lớn “đùng” vang lên phía sau trường. Thầy trò chúng nó chạy ra sân sau nhìn về phía đồng Trà Lung thì hay tin một học sinh của trường hôm đó bỏ học đi cuốc ruộng bị trúng mìn chết ngay tại chỗ. Sau năm 1975, đất làng nó có rất nhiều đầu đạn, bom mìn của hai bên gài nhau trong chiến tranh còn sót lại chưa nổ. Nhiều nhất là ở đồi Châu Rê, nơi quân Đại Hàn chiếm đóng. Lâu lâu, cứ nghe tiếng “đùng” một phát, là có một vài người khai hoang bỏ mạng. Bom mìn còn là mối nguy hiểm với lũ trẻ chăn bò tinh nghịch. Gần nhà nó có một anh tên Lộc thả bò trên núi, thấy đầu đạn M79 vui vui liền đá một cái. Một tiếng nổ “đùng” vang lên. May quá, anh ta không chết, chỉ bị lòi ruột gãy chân. Và cũng từ đó anh ấy có tên là Lộc 79 để phân biệt với những anh cùng tên Lộc khác. Nó cũng nhiều lần chọi đầu đạn M79 vào đá như vậy nhưng số trời thương, đạn chưa lần nào nổ!

Sau 2 năm khai hoang vỡ hoá, nhà nó đã có được 1 mảnh vườn và 1 đám rẫy để trồng khoai sắn. Những nhà xung quanh vỡ hoang nhiều hơn một ít. Lúa, hoa màu thu hoạch được chỉ vừa đủ cơm độn khoai ngày 2 bữa. Cuộc sống cực khổ thiếu thốn trăm bề. Đối với nhiều người, lúc đó cực mà vui, vui vì được tự do cày cấy trên mảnh đất của cha ông mình để lại. Nhưng niềm vui đó chỉ kéo dài chưa được 2 năm.

Cuối năm 1977, cán bộ huyện, xã về họp dân làng lại để giải thích về chính sách mới của Đảng. Cán bộ giảng cho dân rằng, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đánh 2 đế quốc tư bản sừng sỏ là Pháp, Mỹ và đã chiến thắng oanh liệt. Giờ đây Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là một chế độ ưu việt nhất, không còn cảnh người bóc lột người, là một xã hội sẽ đem lại công bằng, hạnh phúc nhất cho nhân loại. Đỉnh cao của Chủ nghĩa xã hội là Chủ nghĩa cộng sản, lúc đó thì mọi người sẽ hoàn toàn tự do, mọi người có thể “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”.

Muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội trước hết phải tiến hành cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất, phải xây dựng nền sản xuất lớn Xã hội chủ nghĩa. Làm như làng quê bao đời nay là sản xuất nhỏ, manh mún, tư hữu, không có hiệu quả. Nông dân phải vào hợp tác xã. Tất cả các công cụ sản xuất giờ phải thuộc về của chung. Nghĩa là từ nay ruộng vườn, trâu bò, cuốc xẻng… của người dân nay là của hợp tác xã. Đó gọi là xoá bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Ai không chấp hành chủ trương hợp tác xã của Đảng là chống lại Đảng, chống lại chính quyền, chống lại nhân dân vì chính quyền là của nhân dân. Ông chủ tịch xã nó còn nói: nếu ai không tự nguyện vào hợp tác xã thì không được đi qua đất của hợp tác xã. Ví dụ đám ruộng của anh nằm giữa các đám ruộng của những người đã vào hợp tác xã, anh muốn cày cấy trên ruộng của anh thì phải cõng trâu bò “bay” thẳng vào chứ không được đi ngang qua đất của hợp tác xã. Có thể ông chủ tịch xã nói vui, cũng có thể ổng coi đây là “sáng kiến” của mình thật.

Cuối cùng, mọi người ai cũng ký đơn xin gia nhập hợp tác xã nông nghiệp. Họ đem ruộng vườn, trâu bò, công cụ giao cho hợp tác xã. Bao nhiêu mồ hôi, nước mắt trong hai năm khai khẩn đất hoang của gia đình nó cùng với ít tiền bạc ky cóp trong 10 năm lặn lội bán buôn mới vừa đủ mua được hai con bò của mẹ nó từ nay trở thành tài sản của hợp tác xã. Nhiều gia đình khác cũng vậy. Ai cũng ngậm ngùi tiếc nuối khi mất quyền sở hữu, nhất là sở hữu ruộng vườn, bò trâu, những thứ đã trở thành thân thương máu thịt.

Chỉ có những người vô sản, không có ruộng vườn bò trâu là vui hơn cả. Họ vui vì bây giờ tất cả đều của chung, không ai giàu có hơn ai cả, tất cả quân bình. Người dân trong làng bây giờ trở thành con người Xã hội chủ nghĩa. Ai ai cũng là chủ của những tài sản chung vừa gom được. Làm chủ nhưng không có quyền quyết định sử dụng hay mua bán tặng cho gì đối với tài sản đó cả mà phải xin ý kiến của ban Chủ nhiệm hợp tác xã. Chủ nhiệm mới là người có quyền quyết định. Họ gọi đó gọi là làm chủ tập thể.

Cho đến bây giờ, sau mấy chục năm tìm hiểu và đọc cũng nhiều sách về chủ nghĩa Mác – Lê nó cũng không thể hình dung được quyền làm chủ tập thể có hình hài ra sao và làm thế nào để phát huy quyền đó. Nó chỉ thấy rằng đó là một kiểu chơi chữ, một kiểu “sáng tạo” ra những khái niệm có vẻ cao siêu, trí tuệ, nhưng thực ra lờ mờ tối nghĩa, như bản ngã tự ti về tri thức của người khai sinh ra nó. Lúc đó, cán bộ còn giảng cho dân rằng, để công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội mau chóng thành công, mọi người cần phải “phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng văn hoá tư tưởng.

Từ ngày vào hợp tác xã và tiến lên nền sản xuất lớn Xã hội chủ nghĩa, cuộc sống của dân làng nó và các làng trong huyện bị đảo lộn. Địa giới bị nhập lại và số hoá. Xã nó trước năm 1975 tên là Bình Kỳ nay đổi thành Bình Hoà. Xã Bình Hoà có 8 thôn: Long Bình, Tri Hoà, An Khương, Lộc Tự, Ngọc Hương, Xóm Cầu, Lạc Sơn, An Phước, nay nhập lại thành 4 thôn đánh số theo thứ tự 1, 2, 3, 4. Trong mỗi thôn chia làm 2 hay 3 đội sản xuất. Xóm An Khương có 2 đội: đội 5 và đội 6. Nhà nó thuộc đội 5. Ranh giới bờ ruộng nhỏ trước đây bị xoá bỏ để tạo thành những đám ruộng lớn cho mai sau máy cày, máy gặt dễ dàng hoạt động. Chợ làng được dời lên vùng đồi núi cao vắng người cho rộng rãi. Sự thay đổi này không chỉ diễn ra ở quê nó mà trên qui mô toàn quốc. Cả nước trước đây có hơn 60 tỉnh thành giờ nhập lại còn 29 tỉnh. Tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định nhập lại với tên gọi mới là tỉnh Nghĩa Bình. Huyện được coi là những đơn vị kinh tế cơ sở, những pháo đài kinh tế, là trung tâm tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng ở nông thôn.

Ngày xưa, khi làm việc cho riêng mình, mỗi người là chủ thực sự với mảnh ruộng, với công cụ sản xuất của họ. Ai có ruộng vườn nhiều, tổ chức công việc hợp lý, làm giỏi thì năng suất cao. Nếu lười biếng, không đầu tư thì năng suất kém. Giờ là đi làm cho hợp tác xã. Mọi công việc đồng áng có các ban bệ của hợp tác xã lo. Dân làng chỉ việc đi làm và nhận công bằng điểm. Công lao động bình thường của người làm nông trong một ngày được quy ra từ 5 điểm đến 10 điểm. Công lao động có tay nghề được quy ra từ 12 đến 15 điểm. Ví dụ một người đàn ông đi cày một ngày thì được 10 điểm (đội trưởng sẽ ghi nhận sổ điểm này của mỗi người), một phụ nữ đi cấy một ngày cũng được 10 điểm, một người thợ cả như thợ hồ, thợ mộc… mỗi ngày được 15 điểm, một trẻ con chăn bò cho hợp tác xã (thực chất là bò của mình) mỗi ngày được cho 5 điểm.

Mỗi buổi sáng một hồi kẻng vang lên thúc giục mọi người ra đồng làm việc. Tiếng cười nói, tiếng gọi nhau í ới thật là nhộn nhịp. Tối về, các tổ, các đội sản xuất họp lại bàn bạc về công việc phải làm vào ngày hôm sau, cãi nhau về cách phân công, cách chia điểm trong từng công việc, cãi nhau về thái độ làm việc chây lười của từng người vv… Không khí trong làng lúc này không còn êm ả như trước kia nữa.

Làm việc dối và kèn cựa nhau cũng xảy ra thường xuyên trong môi trường hợp tác xã. Nó còn nhớ, lần đó nó tham gia đi làm cỏ lúa cùng với đội sản xuất. Đội sản xuất khoáng cho tổ nhổ cỏ. Ví dụ 10 sào là 100 điểm. Để làm cho nhanh, mọi người bảo nhau, lấy chân dẫm, nhận cỏ xuống bùn, thay vì nhỗ gốc lên cho cỏ chết! Có hàng trăm, hàng ngàn cách để người nông dân qua mặt hợp tác xã. Họ quan niệm rằng, mình có làm tốt thì cũng không hưởng thêm được gì nên tội gì phải bán mạng làm việc cho hợp tác xã.

Công cụ làm nông đối với người nông dân rất quan trọng. Họ giữ gìn và mài giũa cẩn thận, hầu như không muốn cho người khác sử dụng đồ của mình. Giống như người thợ mộc, không bao giờ muốn cho người khác mượn cái cưa, cái đục của mình. Nhưng trong hợp tác xã, công cụ lao động là của chung, mọi người có thể sử dụng chung nên các công cụ này vừa mau hư, mau cùn lại không vừa tay đối với từng người. Với công cụ sản xuất như vậy, năng suất lao động ngày càng giảm sút.

Khi còn làm cho mình thì hằng đêm người nông dân phải ra ruộng canh nước cho ruộng lúa, dẫn nước vào ruộng khi ruộng lúa thiếu nước và đào mương cho nước chảy ra khi thấy ruộng lúa ngập nước. Khi vào hợp tác xã, việc này có đội thuỷ lợi lo nhưng thường lơ đễnh, không làm việc đến nơi đến chốn. Vả lại xã viên làm việc ban ngày, ban đêm lại hội họp cãi nhau, không còn sức lực đâu mà lo những chuyện khác.

Việc làm nông trong hợp tác xã không còn là máu thịt của người nông dân nữa. Họ làm ruộng theo sự phân công của ban Chủ nhiệm hợp tác xã. Kết quả mùa đầu tiên sản lượng thu hoạch chỉ bằng khoảng một nửa năm trước. Những năm sau tình hình ngày càng tệ hơn, hầu như gia đình nào cũng thiếu gạo. Lúa sản xuất ra không đủ ăn ngày hai bữa. Nhiều gia đình tới bữa gọi là ăn cơm, nhưng trong nồi không có một hạt cơm nào, toàn khoai lang, khoai mì, khoai sắn. Khẩu hiệu: “Muốn no phải lo trồng mì” được treo nhan nhản dọc quốc lộ 1A đoạn quanh Uỷ ban nhân dân huyện để bày cách cho người dân chống đói. Mười lăm năm sau, khi nó kể lại chuyện này cho mấy người bạn ở miền Nam nghe, họ không nghĩ đó là sự thật.

Vì thiếu gạo, nên nồi cơm ở vùng quê hồi đó không phải là cơm duy nhất mà là cơm ghế các loại khoai mì, khoai lang, bắp,…Nhiều nồi gọi là cơm nhưng mật độ khoai sắn quá nhiều chẳng thấy hạt cơm đâu. Cả làng cũng khổ. Cùng khổ thì cùng vui. Nhưng, có những gia đình khá hơn một chút, lại chịu thêm một cái khổ khác, phải e dè khép kín vì ngại bị xung quanh kì thị.

Nó có anh bạn nhà ở biển, mấy đời trước cũng làm nghề chài lưới. Nhưng đến đời cha mẹ anh không đi biển nữa mà bán hàng xén ngoài chợ nên so với xung quanh nhà có vẻ sáng sủa hơn, có con ăn học trên thị trấn. Trong một lần xuống chơi nhà anh bạn, nó nghe những người hàng xóm gọi gia đình bạn nó là “bọn khổ”! Nó đem chuyện này kể lại, anh bạn cười và nói anh cũng nghe câu này thường xuyên.

Nhà nó có 4 người, chỉ một mình nó là trẻ em. Cha mẹ nó ngoài làm ruộng làm rẫy thỉnh thoảng còn mua bán lặt vặt ngoài chợ nên được gọi là “khá giả” ở quê. Bữa ăn dù có “ghế” độn khoai sắn nhưng cũng không đến nỗi nào. Thỉnh thoảng nó vẫn được ăn cơm không độn với ít protein từ cá thịt. Cứ mỗi lần có bữa ăn ngon, nó thấy mẹ nó phải ngó trước ngó sau, rồi đóng cửa cẩn thận để xung quanh không nhìn thấy. Nhưng tiếng “lành” vẫn đồn xa. Một thời gian sau, nhà nó được gắn biệt danh là chuyên “ghế nước lạnh”. Tức là chuyên ăn cơm không độn!

Ấn tượng nhất là cái vụ bánh xèo. Bánh xèo có lát thịt heo, có con tôm nướng nằm theo bánh xèo. Nhớ lại mấy lần được ăn bánh xèo khi theo cha nó lên quận ngủ hồi còn tản cư là nó thèm chảy nước miếng. Thèm, nhưng đợi đến rằm tháng Mười thì lâu quá. Mẹ nó thấy vậy bèn lấy ít gạo bỏ vào cối đá giao cho nó xay bột còn mẹ đi chợ mua đồ. Lúc mẹ bắt đầu đúc bánh, nó đóng cửa cẩn thận rồi ra ngoài sân xem tình hình. Dù không nghe tiếng xèo xèo, nhưng mùi của bánh, mùi của mỡ hành rán vẫn cứ xông ra từ các khe cửa thơm ngào ngạt cả sân nhà. Mấy cái bánh xèo “ăn vụng” dù không tôm không thịt nhưng ngon ngọt làm sao! Mẹ nó nói may là chợ hôm đó không có tôm, thịt. Tại sao?  Nó hỏi. Trên đường về mẹ gặp mấy anh cán bộ xã, và một anh vừa cười vừa lấy tay giở giỏ của mẹ nó ra “kiểm tra” xem nhà hay “ghế nước lạnh” hôm nay mua gì. Mẹ nó cười trả lời.

Hồi đó, có một câu đồng dao không biết ai là tác giả, mô tả không khí làm việc thời hợp tác xã vui vui, mà bọn trẻ con chúng nó thường nghêu ngao khắp ngõ trên xóm dưới:

Sớm mai đánh kẻng khen ông

Trưa về giáo chức, tối chi bộ mời!

Dịch nghĩa:

Sớm mai đánh kẻng không ăn (nhịn đói đi làm)

Trưa về dứt cháo (ăn cháo), tối chơi bộ mì (ăn củ mì).

Những sản phẩm của người nông dân làm ra như lúa gạo, khoai sắn … được cho vào kho của hợp tác xã. Sau đó nộp phần lớn cho cấp trên theo chỉ tiêu được giao. Số còn lại được chia cho xã viên theo công điểm. Cán bộ giảng cho người dân rằng, sản phẩm của người nông dân làm ra bán cho Nhà nước theo giá quy định thì Nhà nước bán lại cho người nông dân những sản phẩm công nghiệp như vải, xăng dầu, xi măng, đường, bột ngọt,… theo giá tương đương.

Nhưng sau mấy năm vào hợp tác xã, sản xuất bị đình đốn, năng suất thấp, ruộng bỏ hoang ngày càng tăng. Lúa gạo làm ra không đủ cho người dân ăn thì lấy đâu nộp lên trên, lấy đâu cung cấp cho thành thị. Lương thực ở thành thị ngày càng thiếu. Trung Ương giao chỉ tiêu cho các hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ bán lương thực cho nhà nước. Để sản phẩm nông nghiệp của địa phương mình không lọt ra ngoài đến địa phương khác, người ta tăng cường lực lượng giám sát và kiểm soát chặt chẽ. Mỗi địa phương, từ làng xã, đến huyện tỉnh, trên mọi nẻo đường từ những con đường mòn đất đỏ đến các trục quốc lộ nối liền giữa các tỉnh, các chốt kiểm soát hàng hóa mọc lên như nấm. Những cán bộ ở địa phương phân công nhau ngày đêm túc trực tại chốt để chặn bắt và tịch thu những sản phẩm của người dân khi họ mang đi ra khỏi địa phương.

Quê nó có một anh nổi tiếng vì sự bắt bớ này. Anh ta chốt ở trạm Nước Mặn trên quốc lộ 1A gần phi trường Chu Lai. Giới buôn hàng chuyến rất sợ trạm nầy. Bắt rất gắt. Tất cả hàng hoá đều bị tịch thu. Vì vậy, chỉ một thời gian, trạm này có biệt danh là trạm Nước Mắt.

Sự bắt bớ còn diễn ra giữa ranh giới làng này và làng khác. Có nơi sốt sắng đến nỗi họ lập ra cả một tổ đi lùng khắp cả làng để xem ai nuôi con heo, con bò nào mà không bán cho hợp tác xã. Ban đêm họ phục kích ở những nơi người dân thường lén đem sản phẩm của mình đi bán. Có ông nọ lúc đó là giám đốc nông trường, lại là người duy nhất của vùng quê nó làm đại biểu Quốc hội, nhưng vẫn có thời gian rảnh rỗi. Đêm đêm ông ta chuyên phục kích ở tuyến đường từ Bình Thạnh, Bình Hoà lên quốc lộ 1A và nghe nói ông cũng bắt được một số người.

Tình cảnh “ngăn sông cấm chợ” nầy diễn ra đến nhiều năm sau đó. Hè năm 1985, nó chở giúp cho một cô bạn học cùng lớp (nay nghỉ học đi buôn) 15 kg đường từ xã nó lên Châu Ổ. Vừa qua khỏi cầu Bi vài trăm thước, nó đã đã bị mấy anh quản lý thị trường trong nhà chạy ra bắt ngay. Cô bạn nó đi trước trót lọt. Họ thu giữ cả bao đường và chiếc xe đòn dông của nó lại. Chiều đó, nhờ bác của cô bạn, cũng là người có uy tín trong vùng, xuống xin xỏ mới lấy lại được bao đường và cái xe đạp về.

Lúc đó cán bộ giảng cho dân rằng, sức lao động của người dân không phải là hàng hoá, nên không được mua bán. Sản phẩm nông nghiệp của họ làm ra cũng không được mua bán mà sẽ được Nhà nước phân phối theo kế hoạch. Nhà nước sẽ trao đổi các sản phẩm nông nghiệp với các sản phẩm công nghiệp tiêu dùng khác theo hao phí lao động tương đương. Nhưng trong thực tế thì không có cái gì đo lường được “hao phí tương đương” này cả. Trong nền kinh tế tư bản thì chính thị trường và sự trao đổi tự do đã hình thành nên giá trị hàng hoá thông qua giá cả. Nhưng trong nền sản xuất xã hội chủ nghĩa thì hàng hoá sản xuất ra không được trao đổi và lưu thông tự do. Làm thế nào để tính được hao phí lao động trung bình để sản xuất ra một tấn thóc, một kg thịt, hay một tấn xi măng là một bài toán không có lời giải.

Đồng tiền lúc nầy cũng không hoàn toàn là tiền tệ theo nghĩa là đơn vị trao đổi ngang giá. Muốn mua một mặt hàng nào đó ngoài có tiền, còn phải có một thứ nữa gọi là tem phiếu. Tem phiếu có thể hiểu như là một thứ giấy chứng nhận có nhu cầu sử dụng hàng hoá. Tất cả hàng hóa của xã hội sản xuất ra được Nhà nước gom lại và phân phối cho từng người qua tem phiếu. Có nhiều loại tem phiếu như tem phiếu mua vải (tiêu chuẩn mỗi người được 2 mét vải một năm), tem phiếu mua chất đốt (mỗi hộ được mua 1 lít dầu một tháng), tem phiếu mua thuốc lá, mua đường, mua phụ tùng xe đạp v.v…

Người đông, nhu cầu thì nhiều mà hàng thì hiếm, nên mỗi khi hàng về lại thấy cảnh chen lấn xếp hàng rồng rắn trước cửa hàng mậu dịch quốc doanh trông thật là náo nhiệt. Cả làng nó, bọn thanh niên gần như mặc đồng phục, lâu lâu lại thay đồng phục mới. Bởi vì mỗi một đợt, cửa hàng hợp tác xã mua bán chỉ bán cho toàn bộ dân làng chỉ một loại vải!

Ngoài tem phiếu ra còn có một thứ quan trọng nữa là sổ lương thực. Lương thực ở đây bao gồm gạo và các loại thực phẩm quy đổi ra gao như bo bo, bột mì, bánh mì, bắp, khoai lang, khoai mì v. v… Mỗi gia đình gần như phải cử ra một người hàng ngày sắp hàng từ sáng sớm, có khi hai ba giờ sáng để mua lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm cho gia đình. Ai không có mặt lúc nhân viên bán hàng kêu tên là họ cho qua, chờ khi hết sổ họ mới kêu tên lại. Vì vậy, mọi người phải túc trực đông nghẹt ở trước cửa hàng, không dám đi xa. Một lý do khác phải túc trực bên sổ lương thực là sợ mất sổ. Mất sổ lương thực là một tai họa, vì làm lại sổ mới rất vất vả, phải trải qua nhiều thủ tục nhiêu khê để xác minh rằng mình mất sổ thật. Đời không có tai hoạ nào lớn hơn mất sổ gạo. Câu nói đùa, có chuyện gì mà nhìn mặt giống như “mất sổ gạo” có lẽ bắt nguồn từ đó.

Những khái niệm mua bán, trả tiền công thời đó như một một đều cấm kỵ. Năm 1982, nó học lớp 10 ở trường trung học Bình Sơn, thị trấn Châu Ổ. Cô giáo chủ nhiệm người xứ Nghệ Tĩnh nói với nó rằng, ở trong này (miền Nam) hỏi cha mẹ làm nghề gì, các em nói buôn bán một cách thản nhiên, nhưng ngoài cô là không được. Buôn bán bị coi là một nghề cấm kỵ ở ngoài Bắc. Thuê người làm một việc gì đó rồi trả tiền công cho họ lại càng cấm kỵ. Xã hội thời bấy giờ coi đó như là một cái gì vô đạo đức, là bóc lột sức lao động của người khác. Chỉ có lao động chân tay, một nắng hai sương của người nông dân hoặc người thợ hồ, thợ mộc… mới được coi là lao động chân chính. Các hình thức lao động khác gần như không được biết đến.

Một người bạn thân của nó có cha mẹ buôn bán nuôi con ăn học ở trường thị trấn. Lúc đó anh ấy đang học đại học ở Sài Gòn. Trong một dịp nghỉ ghé nhà nó thăm chơi, khi thấy trước sân nhà có 2 người thợ mộc đang đóng bàn ghế tủ, cha nó thì qua lại chỉ vẽ cho những người thợ làm. Anh bạn hỏi:

– Đóng những thứ nầy làm gì nhiều vậy.

– Đóng để bán. Nó giải thích thêm rằng, cha nó mua cây gỗ ở các xóm dưới, sau đó thuê thợ đóng thành bàn ghế, rồi bán cho những người có nhu cầu trong làng.

Bạn nó nói ngay: làm như vậy là bóc lộc sức lao động của những người thợ mộc.

– Tại sao gọi là bóc lột?

Anh ấy nói, rằng cha nó đã không trực tiếp làm ra cái bàn, cái tủ mà chỉ thuê người khác làm rồi bán kiếm tiền lời là bóc lột! Đó là thời điểm năm 1984.

Lúc đó nó cảm thấy anh bạn nói có cái gì chưa thuyết phục lắm nhưng nó cũng chưa đủ lý luận để trả lời lại nên đành im lặng. Nó chỉ thấy cha nó mặc dù không trực tiếp làm ra cái bàn, cái tủ, nhưng ông cũng tất bật chạy ngược chạy xuôi để mua gỗ về, rồi tìm hiểu nhu cầu của những người trong xã thích loại bàn ghế gì, rồi kiếm tiền vốn, rồi mướn thợ, rồi vẽ mẫu bàn kiểu này kiểu khác… Chưa kể có khi bàn ghế đóng ra cả năm trời chẳng ai mua, thiếu vốn, lỗ …Những chuyện này há chẳng phải công sức lao động thì là cái gì!

Nó tiếc sao hồi đó mình không trả lời anh bạn, rằng những người thợ mộc kia khi làm cho hợp tác xã chỉ được tính một ngày công là 15 điểm, hơn 5 điểm so với một ngày công của chính anh ta khi đi cày ruộng. Còn khi làm cho cha nó, một ngày anh ta được trả một số tiền có giá trị gấp đôi so với số tiền công khi làm cho hợp tác xã, thì đáng lẽ phải nói là cha nó đã tạo công ăn việc làm cho bà con hàng xóm chứ sao gọi là bóc lột!

Cha nó nhờ việc tổ chức đóng bàn ghế cũng kiếm được ít tiền, người thợ mộc nghiệp dư cũng có việc làm kiếm được ít tiền, những người dân trong làng cũng có chỗ để mua bàn tủ về dùng, vì hồi đó có tiền cũng không biết mua ở đâu, thì tất cả cùng có lợi, cùng vui vẻ chứ sao gọi là bóc lột!

Lúc đó nhà nước chỉ nội việc lo những nhu cầu ăn mặc cần thiết cho người dân đã còn không xuể, lấy đâu thời gian công sức để lo thêm hàng vạn những nhu cầu đa dạng khác. Hơn 30 năm sau, khi bạn bè ngồi lai rai, ôn lại chuyện xưa, nó kể lại chuyện nầy cho bạn nghe. Bạn ấy không nhớ chuyện cũ và nói rằng, không hiểu sao lúc đó mình lại “thấm nhuần” kinh tế chính trị Mác-Lê kiểu đến vậy.

Xoá bỏ sở hữu tư nhân, xoá bỏ tiền tệ và thị trường trao đổi, xây dựng nền kinh tế tập trung, sau này nó mới hiểu, là những lý thuyết cao siêu của chủ nghĩa Marx được áp dụng nhiệt tình vào miền nước chảy ngược quê nó, những xóm làng tiêu điều xác xơ sau mấy chục năm bị chiến tranh tàn phá.

Nó được dạy rằng, xoá bỏ sở hữu tư nhân và thiết lập nền sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất sẽ giải quyết được mâu thuẫn giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội. Vì không còn tư hữu nên người ta cũng không có động cơ tư lợi, không còn tìm mọi cách thu vén cho riêng mình nữa. Và rằng, khi sống trong một xã hội như vậy thì những bản tính được coi là thâm căn cố đế của con người như lòng tham lam, tính ích kỷ, đố kỵ cũng sẽ biến mất. Con người lúc này sẽ sống có nhiệt tâm, muốn làm điều tốt cho tất cả hơn là tốt cho riêng mình. Lợi ích của cá nhân sẽ hài hoà cùng lợi ích xã hội. Trong nền tư hữu, người ta không nhìn thấy thật sự giá trị sử dụng của bất cứ thứ gì ngoài việc muốn sở hữu chúng. Xoá bỏ nền tư hữu sẽ giải phóng năng lực suy nghĩ của con người, giúp người ta hiểu rõ giá trị của thế giới theo cách khác, giống như một đôi tai sành nhạc lĩnh hội được cái hay, cái đẹp của bản nhạc, khác với những người trình độ thẩm âm chỉ ở mức “đờn gảy tai trâu” nhưng chỉ luôn luôn muốn sỡ hữu những bản nhạc, những nhạc công tài hoa nhất.

Thật là một xã hội vô cùng lý tưởng mà nhân loại hằng mong ước. Nhưng ước mơ thì bao giờ cũng tốt đẹp, mà hiện thực lại rất phũ phàng. Trong môi trường sở hữu tập thể, giả sử người ta không còn động cơ gì để thu vén cho riêng mình, thì người ta cũng kèn cựa nhau không làm, không nhiệt tình lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Khi đi cuốc đất trong tổ sản xuất, những người lao động có sức mạnh không vui vẻ lắm khi được chia cùng công điểm với người yếu hơn. Hoặc giả họ sẽ làm ít lại cho công bằng, hoặc vài người yếu hơn sẽ bị loại. Nó và cha nó vì sức yếu đã bị loại ra khỏi tổ vần đổi công theo cách như vậy.

Lòng tham lam, tính đố kỵ của con người cũng không dễ gì cải biến. Không phải cứ tập thể hoá, quốc hữu hoá là triệt tiêu hết ý chí sở hữu của con người. Ý chí sở hữu, lòng ham muốn của con người là vô hạn. Thoả mãn nhu cầu này, nhu cầu khác lại nảy sinh. Khi chưa đủ ăn thì người ta muốn có ăn no. Khi no, người ta muốn ăn ngon. Ăn ngon xong người ta muốn mặc đẹp. Có mặc đẹp người ta muốn đẹp hơn những người khác. Có của cải hơn người khác chưa đủ, lúc đó người ta lại muốn có quyền lực hơn, có trí tuệ hơn…Và cứ thế, nhu cầu của con người làm sao thoả mãn hết! Chỉ có cách gì đó hạn chế bớt nhu cầu của con người thì con người mới dễ dàng tìm thấy hạnh phúc. Hơn 2000 năm trước, Đức Phật đã dạy rằng, chính những nhu cầu, những ham muốn vô hạn của con người là nguyên nhân của đau khổ trên thế gian này, và Ngài đã chỉ ra con đường diệt khổ. Đó là chính là diệt các sân si, ham muốn. Đây là con đường mà mỗi người phải tự trải nghiệm, tự đấu tranh với chính mình để tìm thấy hạnh phúc, tìm thấy sự bình an, thư thái. Có lẽ do vậy mà đạo Phật đã tồn tại trên 2000 năm nay và sẽ còn tồn tại lâu hơn nữa với ngày càng nhiều tín đồ không chỉ ở phương Đông mà cả phương Tây theo tu luyện.

NGUYỄN NGỌC ANH

TIN LIÊN QUAN:

>> “Miền nước chảy ngược” – xuôi thăm thẳm vào lòng người

>> Miền nước chảy ngược – Tự truyện Nguyễn Ngọc Anh – Kỳ 1

>> Miền nước chảy ngược – Tự truyện Nguyễn Ngọc Anh – Kỳ 2

>> Miền nước chảy ngược – Tự truyện Nguyễn Ngọc Anh – Kỳ 3

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *