Kỳ 10: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

Đâu là cái hay của thể thơ 1-2-3 thuần Việt mới mẻ và hiện đại? Qua góc nhìn của nhà thơ, nhà phê bình Khang Quốc Ngọc, cái hay ấy tiếp tục thể hiện trong những bài thơ của Lê Lệ Thủy ở Kon Tum, Trần Thị Bảo Thư – Đồng Nai, Hồ Trung Chính – Sóc Trăng, Trần Thanh Mai – Nghệ An, Trần Thanh Dũng – Sóc TrăngMai Xuân Thắng – Sài Gòn.

Một cuộc hội ngộ bạn thơ 1-2-3: Phan Hoàng, Hoàng Hải Phương, Văn Lê Tám, Khang Quốc Ngọc, Bình Địa Mộc, Mai Xuân Thắng, Huỳnh Khang 11.2022 (từ phải sang)

>> Kỳ 1: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 2: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 3: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 4: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 5: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 6: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 7: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 8: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 9: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

 

Chỉ như là một “vết xước chưa lành trong văn hóa giao thông” thôi mà nghe sao ray rứt. Sự vội vàng dẫn bàn chân người tuổi trẻ thành ẩu tả hay chuyện lấn sân bởi chưa quen tâm tính nhường nhịn mà phải ra nông nỗi “người trẻ tuổi tạt đầu xe (tay?) ga vào shop”? Một hành vi làm cho người già “trên chiếc xe đạp” đi liền phía sau phải “giật mình”. Chữ “chặn người già” là sát sạt ngay bên, có thể nguy hiểm. Lời thơ toát lên sự cảnh báo.

Nhà thơ Lê Lệ Thủy

Thế thì sự “giật mình” của “người già” kia đâu chỉ là cái “giật mình” hốt hoảng trước hiểm nguy mà có thể còn ẩn tàng sự “hốt hoảng” trước cái đà trượt dốc cẩu thả của “người trẻ tuổi” bởi vô vàn những thứ cẩu thả na ná có thể xảy ra. Hình ảnh “gương mặt già nhăn nheo thất thần” có chi đó ẩn tàng sự vô vọng và cả sự âu lo. Nếu “người tạt đầu xe” không “vô cảm” thì đâu đến nỗi “người già” phải “thất thần”? Một bức tranh đối ngược rõ rệt thông qua hành vi và sắc thái tâm trạng giữa hai thế hệ “người trẻ tuổi” và “người già” như là một bức tranh “tối sáng” rõ nét hiện hình đã mang đến cho chúng ta những suy tư nhất định.

Văn hóa giao thông có vấn đề là từ đâu nếu không đi tìm vào căn cốt sự việc? “Người trẻ tuổi” “vô cảm” đã đành, nhưng sau khi có hành vi làm cho “người già” phải hoảng hốt thì không thấy có hành vi nào liền phía sau nhận lỗi cho dù là muộn màng. Sự ray rứt ẩn phía sau của bài thơ là ở chỗ này. Ai sẽ là người làm chuyện ấy trong tất cả chúng ta? “Vết xước chưa lành trong văn hóa giao thông” và cũng là trong sự thao thức lo lắng của nhân vật trữ tình. Sự âu lo phập phồng ấy làm nên vẻ đẹp nhân văn cho bài thơ thì nỗi niềm kia đâu chỉ dừng lại ở “vết xước… trong văn hóa giao thông”?

 

Người trẻ tuổi tạt đầu xe ga vào shop

 

Chặn người già trên chiếc xe đạp giật mình

Thương ông bất ngờ loạng choạng chống chân

 

Gương mặt già nhăn nheo thất thần, người tạt đầu xe vô cảm

Bức tranh giữa ngày tối sáng

Vết xước chưa lành trong văn hoá giao thông.

 

(Lê Lệ Thủy – Kon Tum)

 

Bảng lảng khói sương mà thương mà nhớ. Bởi thế, mở đầu bài thơ, một cảm giác nặng nề mệt mỏi bao trùm “mùa mưa như chuyến tàu chợ vừa đi vừa ngủ” là phải chăng sự mong chờ đã thành khắc khoải? Điểm nhìn tưởng mới đó, hiện tại thấm đẫm cảnh vật “thảm xuyến chi mướt mát sân ga” nhưng vẫn thấy bóng dáng kí ức vồng lên chen ngang “bóng người tiễn nhau ngày cũ mờ xa”. Tâm trạng có chi đó xáo trộn nhưng lời thơ thì vẫn dằng dặc, miên man.

Thế rồi, điểm nhìn được mở rộng hơn, loang xa “viết tên anh lên mặt hồ sương thở”. Bỗng thấy tâm trạng rung rinh, tâm hồn cựa quậy. Là vì nhìn đâu cũng thấy anh. “Anh” là hiện hữu hay “anh” là hư vô? Chỉ biết “anh” đã chiếm lĩnh hết không gian xung quanh nhân vật trữ tình thật rồi.

Nhà thơ Trần Thị Bảo Thư

Song, ý thơ lại đột nhiên vui lên hẳn “gió heo may xếp chữ làm thơ”. Rõ ràng, ở đó tâm trạng nhân vật trữ tình đã nôn nao lên một tí. Gió gợi tâm tình hay tâm tình nhớ thương mà tạo nên làn gió mát? Và theo đà ấy, dĩ nhiên là ngọn lửa ấm tạo bởi tình thương mong nhớ kia lại đã thấy bập bùng rồi “dã quỳ chiều nay nhóm lửa ven bờ”.

Chỉ vài nét phác họa nhưng tình yêu thì đã rõ, là nhớ thương, là hình hài kí ức, là đậm đặc không gian, là ấm nồng tin yêu. Các cung bậc cứ thế vừa đan cài vừa như hé lộ mà nâng dần trạng thái cảm xúc lên. Lời thơ tự nhiên để diễn tả một tình yêu chân thực, kín kẽ mà nồng nàn. Không quá lộ liễu nhưng không kém phần đắm đuối. Một tí kín đáo lại kèm một tí bung tỏa, vẻ đẹp vừa đủ để tình yêu hiện ra, e ấp mà nồng nàn.

 

Mùa mưa như chuyến tàu chợ vừa đi vừa ngủ.

 

Thảm xuyến chi mướt mát sân ga

Bóng người tiễn nhau ngày cũ mờ xa.

 

Viết tên anh lên mặt hồ sương thở

Gió heo may xếp chữ làm thơ

Dã quỳ chiều nay nhóm lửa ven bờ.

 

(Trần Thị Bảo Thư – Đồng Nai)

 

Bằng sự nhân cách hóa nỗi đợi, tác giả Hồ Trung Chính đã đem đến cho chúng ta như đang được nghe âm hưởng của một bản nhạc ngậm ngùi “có những cuộc hẹn chờ đi lần vào tối”. “Đi lần vào tối” ấy là mất hút, một không gian đen đặc, thì đương nhiên tất cả chỉ còn là phấp phỏng và thắc thỏm mà thôi. Cho nên, ngay phía sau là một “không gian im nghe cơn gió chuyển mùa” là vẫn còn phảng phất nỗi chờ, sự ngóng nhưng lại được đặt trong một niềm tin nhỏ nhoi. Vì thế mà phía xa kia vẫn chỉ là sự lạnh giá bởi “mưa lụn bên trời mông lung mây xám”. Gam màu xám lạnh bao quanh, ý thơ đã khắc khoải càng khắc khoải hơn.

Nhà thơ Hồ Trung Chính

Hình ảnh “con đò chở khẳm mùa thu về lạc bến sông chiều” đầy những ám gợi. “Con đò chở khẳm mùa thu về” là có chủ ý, là đầy đặn nhưng sao lại “lạc bến sông chiều”? Có chi đó mâu thuẫn ở đây chăng? Tả cảnh để diễn cái tình. Chủ ý đó nhưng sao dư âm để lại phía sau thì dằng dặc buồn, chữ “lạc” nhằm nhấn mạnh cái ý mâu thuẫn bật ra kia chăng? Thế rồi, hình ảnh tiếp nối vẫn là nỗi buồn miên man, không khác. Hình ảnh “trăm con sóng vỗ vào đêm phong sát” gợi ra một dư âm mù mịt, phảng phất nỗi đớn đau? Âm thanh phía trước rùng rùng bao nhiêu thì ở phía sau lại gợi ra sự cô tịch bấy nhiêu, “đêm phong sát” buồn miên viễn trôi! Nhân vật trữ tình còn như đang lững lờ với bao nhiêu tâm trạng thì cũng may có “tiếng con thạch sùng bỏ nhỏ giữa cơn đau” như là dấu hiệu đánh thức nhân tâm hãy quay trở về thực tại. Thực tại dẫu có buồn nhưng không thể trốn chạy được. Ý thơ càng như khắc khoải và mông lung hơn.

Bài thơ muốn diễn giải những sự chằng níu, rắc rối đầy ám tượng của thế sự đan cài bằng những thủ pháp động tĩnh, đối lập đan xen. Nhân vật trữ tình đóng vai người quan sát, thảng hoặc đâu đó là những kí ức và thực tại đan cài, lập lòe giãn nở, song tựu trung âm hưởng da diết là miên man buồn.

 

Có những cuộc hẹn chờ đi lần vào tối

 

Không gian im nghe cơn gió chuyển mùa

Mưa lụn bên trời mông lung mây xám

 

Con đò chở khẳm mùa thu về lạc bến sông chiều

Trăm con sóng vỗ vào đêm phong sát

Tiếng con thạch sùng bỏ nhỏ giữa cơn đau

 

(Hồ Trung Chính – Sóc Trăng)

 

Trần Thanh Mai vẽ một vòng ngôn ngữ mang đậm chất triết lí nhân sinh. Dụ ngôn ấy được ẩn trong vòng quay sự sống của chiếc lá. Có sinh ra “sắc lá xanh diệu kì” và có mất đi “lá lìa cành lặng lẽ giữa thinh không”. Vòng quay kia mang những sắc độ khác nhau, khi sinh ra thì mang “sắc lá xanh” gắn với sự “diệu kì”, khi mất đi lại gắn với sự lặng lẽ và mênh mông “lá lìa cành lặng lẽ giữa thinh không”. Điều ấy gói ghém một ẩn ý rằng sự sống bật mầm là đã như “mang hơi thở nhân sinh” rồi.

Ba dòng thơ đầu, dòng nào cũng mang những từ ngữ liên quan đến màu sắc. Khi thì tả sắc màu “sắc lá xanh”, “hạt diệp lục”, khi thì gắn với cảm quan đánh giá “sắc màu bình dị” là phải chăng ngầm đem đến cho bài thơ một ý nghĩa sự phát khởi nào trong cuộc sống cũng luôn chứa đựng niềm tin gầy dựng và sự diệu kì. Có được điều đó là bởi trong mỗi “hạt diệp lục bé nhỏ li ti” kia đều “mang hơi thở nhân sinh” cả. Lời thơ khẳng định sức sống là vô cùng, sức sống ấy có trong từng tế bào. Bởi thế, có thể nói bài thơ là tiếng nói thấm đẫm chất vô thường của đạo Phật.

Nhà thơ Trần Thanh Mai

Đón nhận và cho đi là hai khái niệm gần như ngược nhau nhưng lại có ngay trong một dòng thơ “đón nắng gió để cho đi sự sống” là một câu thơ mang tầm khái quát cao. Nhìn thấy hai chiều của cuộc sống ngay trong một điểm nhìn, tâm thế ấy là tâm thế của sự tỉnh thức. Bên cạnh đó, câu thơ còn có ý nói lên lợi ích đem lại cho con người của lá cây, nào ô xy, nào bóng mát.

Giọng thơ nhẹ nhàng nhưng mang sức nặng của kinh kệ. Một vòng quay sự sống của lá cây cũng là một vòng quay của con người “mang hơi thở nhân sinh trong sắc màu bình dị”. Sự “thuần khiết” của dáng vẻ “mầm nhú lên” là tiếng nói bản ngã nhân chi sơ tính bản thiện. Nếu sống không có thể “đón nắng gió để cho đi sự sống” thì sao có thể thanh thản đến vô cùng khi cuộc đời khép lại “lá lìa cành lặng lẽ giữa thinh không”? Giọng thơ nhẹ nhàng, nhịp chậm, giàu triết lí nhân sinh.

 

Sắc lá xanh diệu kì

 

Hạt diệp lục bé nhỏ li ti

Mang hơi thở nhân sinh trong sắc màu bình dị

 

Đón nắng gió để cho đi sự sống

Mầm nhú lên đã thuần khiết vô cùng

Lá lìa cành lặng lẽ giữa thinh không.

 

(Trần Thanh Mai – Nghệ An)

 

Bài thơ xoay quanh cái tứ nhân vật trữ tình “em” bỏ nhân vật trữ tình “anh” ra đi trong thời gian dài vô tận, để lại bao nhiêu những dằng dặc tê tái. Nguyên nhân ấy đã tạo ra một chuỗi những tâm cảm thảng thốt nhói buốt trải dài phía sau bài thơ. “Em” đi rồi là cũng như kéo theo cả “một nửa cửa Định An biệt ngày biệt tháng”, dĩ nhiên cái nhìn tâm trạng ấy thì sẽ phải “một nửa cửa Định An” còn lại chỉ đứng nhìn theo “nửa” kia trong một tâm cảm héo hắt. Quả đúng như người xưa đã viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du). Tình cảnh ấy được ví von với hình ảnh “sáo lẻ bầy đêm không ai bầu bạn”. Một sự cô đơn đẫm đặc, có thể hình dung tình trạng ấy ban ngày thì như “sáo lẻ bầy” còn ban đêm thì “không ai bầu bạn”. Cô đơn, vâng cô đơn tận cùng. Hơi thơ nghe có chi đó phảng phất nỗi buồn trong thơ Mới: “Người đi một nửa hồn tôi mất/ một nửa hồn tôi đứng dại khờ” (Hàn Mặc Tử).

Nhà thơ Trần Thanh Dũng

Buồn quá biết làm gì khi “em” không một hồi âm, nhìn lên chỉ thấy “trăng Mùng Mười mắc chạc đước buồn ên”. Con trăng mùng mười buồn ên hay “anh” đang trong tâm trạng buồn hiu hắt nên nhìn con trăng sáng mùng mười mà cũng như đang kẹt trên chạc cây đước im lặng mênh mang dẫu có vằng vặc kia? Không gian ấy lại được đổ cho thêm chi tiết “giọng ông Năm Trầu xuống xề như khóc” thì than ôi, có không gian nào não nùng hơn? Sự gợi tả được tăng lên gấp nhiều lần khi ý thơ cố tình để cho âm thanh “xuống xề” ai oán như khóc như than chêm ngang bởi biện pháp so sánh. Cả không gian mênh mang nổi lên tiếng “ông Năm Trầu xuống xề như khóc” là cái nhìn thấm đẫm tâm trạng cô đơn nên gam màu chủ đạo của tâm trạng nhân vật trữ tình dĩ nhiên là buồn, buồn thấm thía.

Từ ngữ địa phương được nhà thơ đưa vô bài thật ngọt “đi mút chỉ cà tha”, “mắc chạc đước buồn ên” (là buồn một mình), “xuống xề”, “đêm miệt đồng” càng làm cho bài thơ đặc tả nỗi cô đơn xa vắng đậm đặc hơn. Hàng loạt từ ngữ diễn tả sự hụt hẫng chơi vơi “bỏ anh đi”, “biệt ngày, biệt tháng”, “lẻ bầy”, “không ai bầu bạn”, “mắc chạc đước”, “buồn ên”, “xuống xề như khóc”. Thêm nhịp thơ chậm càng làm cho giọng thơ như nghẹn như nấc. Nghẹn nấc lên từng chặp. Cô đơn đến tái tê.

 

Sao em nỡ bỏ anh đi mút chỉ cà tha?

 

một nửa cửa Định An biệt ngày biệt tháng

sáo lẻ bầy đêm không ai bầu bạn

 

trăng Mùng Mười mắc chạc đước buồn ên

giọng ông Năm Trầu xuống xề như khóc

đêm miệt đồng năm tháng biết cùng tên?

 

(Trần Thanh Dũng – Sóc Trăng)

 

Cảm thức lịch sử văn hóa lộng ngát trong thơ Mai Xuân Thắng. Ở đó là tư thế kì vĩ “giữa Ba Dội dõi một trăm lẻ sáu ngọn kì sơn”. Ở đó là lời tán tụng mê say “non xanh cẩm tú. Miền quê gió lộng tứ bề”. Ở đó là niềm kiêu hãnh tự hào bởi trước mặt “hoa cỏ lay” mà đã tưởng tượng ra như còn nguyên đấy cảnh “hùng binh Tây Sơn rèn quân Bắc phạt”.

Một cái nhìn đủ thoáng để thấy ngồ ngộ bởi hai hình ảnh thơ sau rất khó đi liền với nhau trong thực tế: “hùng binh Tây Sơn” và “vua Thiệu Trị từng ngự”. Bởi vậy, ý thơ như đang thủ thỉ với chúng ta rằng: Lịch sử phải được trả về đúng vị trí, công tội đều phải được lịch sử dân tộc ghi nhận và chỉ rõ, hà cớ gì hậu thế cứ mãi hậm hực phân chia?

Nhà thơ Mai Xuân Thắng

Thoắt cái, phía dưới lời thơ xoay qua địa hạt văn hóa cũng rất ngọt. Ý thơ điểm nhắc liệt kê mà như tràn ra niềm tự hào khi ý thơ miêu tả nữ sĩ lừng danh Hồ Xuân Hương đã từng lưu dấu chân nơi này “vạt đất nào gót phong trần Bà chúa thơ Nôm đã lần qua” rồi sau cùng là bùng lên mênh mang đức tin và lòng từ bi đức độ hải hà dẫu chỉ là trong mơ hồ huyền thoại “phảng phất đức Liễu Hạnh nương bóng chiều cứu nhân độ thế”.

Ban đầu, bài thơ là sự tả cảnh hùng vĩ của thiên nhiên “Ba Dội dõi một trăm lẻ sáu ngọn kì sơn”, sau đóng lại là sự trùm phủ của tấm lòng nhân ái “cứu nhân độ thế”. Ở giữa là trùng điệp hình ảnh nhân dân anh hùng, vua tài đức, và chêm xen không thể thiếu đó là sự tài hoa con chữ của con người. Thốt nhiên, chúng tôi lại nghĩ đến hai câu thơ lừng vang của thi sĩ Huy Cận “Sống vững chải bốn ngàn năm sừng sững/ lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa”.

Có thể nói cảm thức lịch sử và văn hóa là thế mạnh của Mai Xuân Thắng. Điều đó đã giúp anh tạo tác dáng hình thơ 1-2-3 khó quên về một vùng đất nói riêng và đất nước nói chung. Giọng thơ vừa rền vang hùng khí dân tộc vừa mềm mại thiện lương dịu lành. Chinh chiến quyết tử song hành cùng với tình người độ thế càng làm cho bài thơ có lực hút và dấu ấn hơn. Một tác giả mới mon men bước chân vào sân chơi thơ 1-2-3 mà đã có được bài thơ giàu năng lượng trầm tích văn hóa và thế sự như vậy âu cũng là điều đáng quý. Mừng thay!

 

Giữa Ba Dội dõi một trăm lẻ sáu ngọn kì sơn

 

Non xanh cẩm tú. Miền quê gió lộng tứ bề

Hoa cỏ lay ngỡ hùng binh Tây Sơn rèn quân Bắc phạt

 

Lối nhỏ nào vua Thiệu Trị từng ngự

Vạt đất nào gót phong trần Bà chúa thơ Nôm đã lần qua

Phảng phất đức Liễu Hạnh nương bóng chiều cứu nhân độ thế.

 

(Mai Xuân Thắng – Sài Gòn)

Sài Gòn 08.12.2022

KHANG QUỐC NGỌC

(còn nữa…)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *