Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 7

Chương bảy

Xuất binh đánh Kiều Hãn

1.

Như đã nói, Đinh Bộ Lĩnh kéo đại quân về Trường Châu, đóng trại, lập đồn, phủ dụ dân chúng. Một hôm, Bộ Lĩnh họp các tướng tâm phúc lại bàn:

– Từ năm Tân Hợi (951) ấy, đến năm Đinh Mão (967) này, cả thảy mười sáu năm, ta đứng đầu chòm… – Bộ Lĩnh cười tinh nghịch. – Nhưng vừa rồi, Trần Minh Công giao quyền hết lại cho ta, Phạm Bạch Hổ góp quân giao hảo, Ngô Nhật Khánh thì cùng ta kết hiếu…

– Vậy, vị chi chỉ còn chín sứ quân. – Điền hăng lên, chen ngang, vung tay nói, – không thể để một rừng chín hổ được!

Bặc liền nói:

– Tôi xem, trong đám này chỉ có tay Thạc ở thành Quèn, rồi tay Siêu ở Tây Phù Liệt là mạnh cánh hơn cả. Ta nên để đó, tính sau. Còn như bọn Đường, Khuê, Khoan, Tiệp, Thuận, Hãn… thì chỉ một trận là xong.

Điền giơ tay, nói:

– Còn…

Bộ Lĩnh hiểu ý, Điền định nói: “Còn Xí nữa”, nhưng vội nói át đi:

– Các tướng tính sao?

Điền bị chặn họng, tức mình giậm chân đánh “huỵch” một nhát, làm vỡ viên gạch lát nền. Các tướng thấy vậy, ai nấy đều kinh hãi. Lưu Cơ ngần ngừ hồi lâu, mới đứng lên tâu bày:

– Trong đám ấy, bọn Lý Khuê ở Siêu Loại, Lã Đường ở Tế Giang, ta chỉ cần lấy uy mà răn, chúng sẽ tự vỡ, không cần phải đánh. Thế là bớt đi hai, còn lại bảy. Trong bảy sứ quân này, thì Kiều Công Hãn phải tính sớm. Bởi Hãn rất hung hăng, từng kéo quân về Cổ Loa tranh ngôi, lại cất quân đánh Tam Đái mà không thắng, rồi mở rộng cát cứ ra quanh vùng Phù Lập. Nếu ta tiến đánh ngay, sẽ răn được đám kia, không cho manh động. Thế rồi, thừa thắng mà tiến, ắt sớm thu phục giang san.

Điền nghe cậy, cười khảy:

– Nghe ông Cơ nói, thì đánh trận khác nào như tắm trâu vậy. Thử hỏi, ta đánh nó, chả nhẽ nó không đánh lại ta à? Ta đi Tam Giang xa xôi cách trở, thì bọn Động Giang, Phù Liệt chẳng nhanh chân chạy đến chiếm Trường Châu hay sao?

Liễn nãy giờ rụt rè nhìn bố, xem ý ra sao, mãi đến khi được gật đầu, mới dám nói:

– Bác Điền nói thế cũng có lý, nhưng là cái lý để đề phòng mà thôi. Khi kéo quân đi chinh phạt, bao giờ chả cử tướng, cắt quân canh giữ bản phủ. Chuyến này, ta không đánh nhanh, các sứ quân liên kết lại với nhau thì khó. Vừa rồi, tôi đi châu Ái, tuyển mộ được mấy ngàn quân. Lê Hoàn là một tướng tài, liền đem hai nghìn quân về theo. Vậy còn lo gì?

Điền bật dậy:

– Thế, ai ném mũ, vứt áo chạy tháo thân? Chớ có cái kiểu mới nghe danh mà đã vội bờn tở, dễ hỏng việc quân.

– Thôi mà, đánh trận có thắng có thua là lẽ thường. Ăn nhau ở như cái trận cuối cùng, – Bộ Lĩnh vội dàn hòa, có ý bệnh che Lê Hoàn.

Bộ Lĩnh quyết định đánh Kiều Công Hãn, liền cử quân mã đường bộ do Liễn làm tiên phong, bản thân mình thống lĩnh trung quân, Lê Hoàn hậu binh. Bặc chỉ huy cánh thủy binh. Còn bọn Điền, Tú, Hổ ở lại giữ Trường Châu, Đại Hoàng, Đằng Châu.

Tú huơ tay kêu to:

– Tôi chẳng mấy khi được lâm trận, cứ quanh quẩn trong thành, y như đàn bà thế vầy mãi sao?

Cả bọn cùng cười. Bộ Lĩnh bảo:

– Thì phải trông cả vào thành này. Chứ, chả nhẽ, đánh xong lại ở đấy à?

Các đội tượng binh, kỵ binh, ngưu binh, chiến thuyền đóng ở các căn cứ Trường Châu, Bố Hải Khẩu, Đằng Châu, Cổ Loa, Đại La, Cam Lâm… được lệnh cùng cắt đặt người ở giữ thành, kẻ đi chinh chiến và phối hợp với nhau như đã luyện tập bấy lâu. Tất cả hẹn nhau hội quân ở Tam Giang.

2.

Kiều Công Hãn, còn có tên gọi Tri Hựu, là một sứ quân hùng mạnh, cát cứ Phong Châu(1), mưu bá đồ vương. Hãn lập căn cứ Tam Giang, trên ngã ba sông Lô và sông Hồng ở Bạch Hạc(2), xây thành Phù Lập, chiếm cả vùng Phong Châu, Hòa Châu, Thái Châu. Khi thế mạnh, lực cường, Hãn tự xưng là Kiều Tam Chế.

Về dòng dõi, Hãn là cháu nội Kiều Công Tiễn và là con Kiều Công Chuẩn. Năm Đinh Dậu (937), Tiễn nổi dậy giết Dương Đình Nghệ, rồi tự xưng tiết độ sứ. Nhưng Hãn lại vào châu Ái, theo Ngô Quyền, tham gia đánh lại Tiễn và góp công phá tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, nên được Ngô Tiên Vương ban chức Thứ sử Phong Châu. Khi Hậu Ngô sụp đổ, thì Hãn mang quân tiến xuống Cổ Loa, tranh ngôi với bọn Lã Xử Bình, Dương Huy, Đỗ Cảnh Thạc. Việc không thành, Hãn lại mang quân đi đánh Tam Đái cũng chẳng xong.

Hãn vừa thua Nguyễn Khoan, trở về Tam Giang, chợt quân do thám khẩn báo rằng, Bộ Lĩnh đang đốc xuất hàng vạn quân thủy, bộ tiến đánh, chỗ nào cũng nầm nập những người, ngựa, voi, trâu đông như kiến, thuyền bè nhiều như lá tre. Hãn bèn hội các tướng lại, bàn cách đối phó:

– Bộ Lĩnh cất quân ô hợp khắp nơi, lại có cả trâu bò nữa, thì làm gì mạnh được. Đường xa, quân mỏi, ngựa mệt, thuyền bè ngược nước, cố lê bước đến được đây cũng là may. Nay ta lấy quân nghỉ ngơi, lại trấn giữ vùng sông nước hiểm yếu, thì chúng làm gì được. Ta sẽ mời các sứ quân trong vùng cùng hợp sức, chắc hẳn chúng sẽ thua to.

Viên phó tướng nói:

– Ta vừa đi đánh Tam Đái không thành, thế mà nó lại tấn công luôn, thì quan quân Tam Giang làm sao xoay sở cho đặng? Còn bọn Kiều Thuận ở Hồi Hồ, Lý Khuê ở Siêu Loại, Thủ Tiệp ở Tiên Du, Nguyễn Siêu ở Phù Liệt, Cảnh Thạc ở Động Giang… liệu có hợp quân kịp không?

Viên Tham tá vội xua tay bảo:

– Nói thế không được đâu. Ta vừa đánh Nguyễn Khoan, thì nó với các em Tiệp, Siêu làm sao đến giúp ta nào? Thế là mất ba sứ quân. Năm trước, chúa công lại tranh vương với Thạc, thì làm gì nó đoái hoài. Thế là mất bốn sứ quân. Còn bọn Hồi Hồ, Siêu Loại thì giữ thân còn chẳng xong nữa là…

Viên phó tướng tức giận nói:

– Ông nói thế, tức là bảo ta tự cô lập à? Nước ngập đến chôn mà còn bàn rùn. Vả lại, Hồi Hồ có Kiều Công Thuận là em giai của chúa công; tình huynh đệ sao bỏ nhau lúc lâm nguy, thế mà ngươi ăn nói hồ đồ.

– Thì tôi đã gàn chủ tướng, đừng xuống Cổ Loa, chớ sang Tam Đái, nhưng chẳng được, nay mới ra nông nỗi, – viên Tham tá ca cẩm.

Vùng này, giáp ranh hai tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Thủ đô Hà Nội.

Không ngờ lòng trung, lời thẳng của viên Tham tá, lại chọc tức Hãn. Hãn đang bí kế, tức giận quát to:

– Mày dám chơi trò kỳ đà cản mũi à? Giặc đến nơi, không bàn cách đánh, lại nói lời xằng bậy, làm cho quân tâm dao động. Mày phạm tội chết!

Nói đoạn, Hãn quát lính lôi viên Tham tá ra chém. Quan quân ai nấy sợ hãi xanh cả mặt. Từ đấy, Hãn nói gì, chúng cũng cúi đầu nghe theo.

Hãn cho tăng quân bố phòng Tam Giang, cả thủy lẫn bộ, thuyền chiến đậu kín bến sông, quân lính đóng đầy khắp chốn; ngày đêm canh gác tuần phòng, chỉ chờ có bọn Cờ Lau bén mảng là đánh phủ đầu luôn, khi chúng chưa kịp hạ trại, neo thuyền.

3.

Hãn điều quân chặn mặt phía nam, không cho thủy, bộ của quân Cờ Lau ngược sông, vượt đường tiến lên. Nhưng bỗng nhiên, phía thượng nguồn sông Hồng và sông Lô, hai đội thủy quân lao xuống ngã ba Bạch Hạc. Hãn cả kinh, tưởng quân nhà trời. Chốc lát, quan quân Tam Giang náo loạn. Nguyễn Bặc hô quân đánh sấn vào, tiếng trống rầm rĩ, tiếng gươm khua xoang xoảng, tiếng giáo chạm khiên mây, giáp sắt chan chát, tiếng quân reo ầm ầm, tiếng thuyền bè va chạm cồm cộp… Tất cả, gây nên sự hỗn loạn cả ngã ba sông.

Cùng lúc đó, Bộ Lĩnh hạ lệnh cho quân bộ của Đinh Liễn, Lê Hoàn vượt sông đánh sang. Thành Tam Giang khói lửa ngút trời. Bọn lính của Hãn dùng tên bắn sang, thì hầu hết rơi lả tả xuống nước. Quân Cờ Lau bắn lại, thì tên cắm phầm phập vào mạn thuyền, lá chắn, áo giáp, khiến quân Tam Giang trận thế hỗn loạn. Bọn lính đưa cho chủ tướng mũi tên vừa nhặt được. Hãn xem, cả sợ kêu lên:

– Nó lấy được kho mũi tên đồng ở Cổ Loa rồi!

Bọn Cờ Lau lại vác rìu đồng, nhảy bừa vào mà chém, máu chảy đầu rơi đỏ sông, ngập bãi. Trận tàn, trong thành ngoài bến ngã ba sông lấp đầy xác thuyền và thây lính.

Hãn thất trận, lén xuống một chiếc thuyền nhỏ, cùng bọn tâm phúc trốn sang tả ngạn sông Lô, chạy xuôi phương nam, toan đến Bình Kiều cậy nhờ Ngô Xương Xí. Nhưng khi đến đất An Lá(3), thì bị thổ hào tên là Nguyễn Tấn chặn đánh, chém trúng cổ.

Hãn lấy vải lụa quấn lại, chạy đến đất Hiệp Luật(4), gặp quán nước cạnh đền Gia, bèn vào xin ăn. Bà chủ quán đãi món gỏi cá trắm. Ăn xong, Hãn hỏi:

– Bị thương đứt cổ thế này, có sống được không?

Bà hàng nước chỉ vào đống đất cao bên cạnh đền, ái ngại bảo:

– Đây là nơi an nghỉ tốt nhất cho Tướng công!

Hãn nghe lời, cởi giáp ra nằm trên đống đất đó, rồi thăng. Dân làng Bái Dương cám cảnh, lấy manh chiếu đắp cho. Hôm sau, mối đùn che kín thân xác mà thành mộ. Các làng Bái Dương, Tang Trử, Hiệp Luật, Cổ Lũng thấy cái sự chết thiêng, bèn thắp hương khấn vái, rồi rước chân nhang vào thờ trong đền. Từ đó, làng Gia dâng cá, An Lá gói bánh, cúng tế, hằng năm.

Trong trận Tam Giang, Bộ Lĩnh cho quân thủy, bộ cứ theo sông, men bờ mà tiến lên Bạc Hạc, vừa đi vừa khua chiêng, gióng trống khoa trương thanh thế, thu hút sự chú ý của Hãn.

Nhưng mặt khác, lại cho mấy toán quân bí mật vượt lên vùng Sơn Đông, Tình Cương để chuẩn bị thuyền bè, đánh mũi vu hồi, từ thượng nguồn sông Lô và sông Hồng đổ xuống, rồi giấu thuyền bè, phục sẵn ở Phú Hậu, Bến Giót. Bởi thế, quân Hãn bị bất ngờ mạn bắc, không kịp trở tay, dẫn đến Tam Giang thất thủ, Hãn tháo chạy, rồi chết thảm.

Thắng trận, Bộ Lĩnh cùng các tướng vào thành Tam Giang, phủ dụ dân chúng, cứu chữa cho đám bị thương, chôn cất bọn tử trận. Đoạn, cho tập hợp bọn hàng tướng, tù binh và dân chúng trong thành lại, hiểu dụ:

– Ta bất đắc dĩ phải tiến quân thế này. Bởi lẽ, Tri Hựu chống lại cả ông nội Kiều Công Tiễn, thế là thất đức. Hựu lại mang quân vô cớ đi đánh Nguyễn Thái Bình, toan cướp Tam Đái, thế là bất nghĩa. Trước đấy, còn kéo quân về tranh ngôi Hậu Ngô ở Cổ Loa, thế là Hựu bất trung. Ta gọi mà Hựu không chịu hàng, còn chống lại, nên mới ra nông nỗi. Thật là giời có mắt, quả báo.

Nghe vậy, quan, quân, dân chúng rì rầm bàn tán, kín đáo đưa mắt nhìn nhau.

– Nay Hựu chết, ta giữ yên thành, khoan thư sức dân. Lính, ai theo thì xung quân, ai không theo thì cho về nhà làm ăn, không được quấy nhiễu, cướp bóc, làm loạn. Các quan được phục chức như cũ.

Bộ Lĩnh dứt lời, quan, quân dân chúng tung hô reo mừng, ầm cả thành.

Hôm sau, Bộ Lĩnh cùng lão Bộc và Liễn đi viếng đền Tam Giang, chỗ đất Bạch Hạc, bên tả ngạn sông Lô. Đền quay ra sông, thờ Thổ Lệnh Đại Vương là thần của làng Bạch Hạc và cũng là thần của khúc sông Bạch Hạc. Lão Bộc bảo:

– Chủ tướng đi viếng đền thế này là an lòng dân chúng.

– Chỗ nào, dân còn thờ phụng thần thánh, thì còn dễ giáo hóa. Dân mà không có cái gì bấu víu là dễ làm loạn, – Bộ Lĩnh tâm đắc nói.

Dấu vết chiến trận còn tan hoang, tơi bời hai bên bờ sông, nhưng chỗ đền, tịnh không thấy tên lính nào dám phạm tới. Liễn đi sát cha, khẽ nói:

– Hôm qua, bố kể tội thằng Hãn ghê quá!

– Thế thì mới có cớ để đánh, chứ chả nhẽ, tự dưng lại đi cướp đất của nó à? – Bộ Lĩnh chợt thấy bọn lính đang xúm xít ở bến sông gần đó, nên cũng khẽ nói với con, như truyền một cái mẹo dụng binh, trị nước.

– Xưa nay, muốn diệt trừ kẻ nào thì phải bôi bẩn làm cho tanh hôi, khiến người đời xa lánh mới được. Muốn thờ phụng ai đó, thì phải thêu dệt muôn hồng nghìn tía cho đẹp mã, để người đời trông vào thấy kính nể mới thiêng… – lão Bộc dốc bầu tâm sự gan ruột, vẻ trải đời.

Cả ba nhìn nhau khúc khích cười, đầy vẻ đắc chí.

*

Được dân chúng thờ đền Gia, bỗng dưng Hãn như đã hóa thần, quả là trời cho. Hãn nghĩ, dân làng Gia thờ đã đành, bởi ta chết thiêng, nên thổ địa mới cho mối đùn. Nhưng dân làng Lá, có cái thằng thổ hào chém ta, mà cũng thờ, thì quả là lạ kỳ. Dân đời nào cũng lành, chỉ có bọn quan lại đê tiện mà thôi. Ta nhớ, lúc chạy trốn phải theo đường tắt, người mệt, ngựa đói, muốn đến Bình Kiều cho nhanh, không ngờ bị lưỡi gươm oan nghiệt chắn lối. Ta mà hợp lực được với Ngô Thái tử, quyết sẽ khôi phục lại nhà Ngô. Khi xưa, ta bỏ cả gia tộc để theo Ngô Tiên Vương, được phong thứ sử. Quả là gái có công thì chồng chẳng phụ, thế mà…

Hồn ma Kiều Công Hãn bay về Tam Giang mênh mang sông nước. Này là dòng Lô xanh trong, sông Hồng nước đỏ. Kia là Tam Đảo mù sương, Ba Vì xanh thẳm. Khắp vùng sông nước, núi non cẩm tú này, từng in dấu chân ta. Ta định xây đền trên đất đóng quân Thông Thánh, cho dân lễ bái, mà chưa kịp. Ta định xây lầu ở Bến Giót, nơi lạc Long Quân đặt bàn chân phân chia trăm con với Âu Cơ, mà chưa thành. Cha con ta không đồng tình chuyện ông nội xử tệ với Dương Đình Nghệ, nên mới chạy về đất Phong Châu này, an cư lạc nghiệp. Ta là người trung quân, thương dân, thế mà thằng mục đồng lại dám bêu xấu, vu oan ta trước bàn dân thiên hạ. Thì ra, kẻ thắng nói sao cũng được, ngay thẳng biến thành cong queo, cong queo lại hóa ngay thẳng vậy sao? Nó đi chiếm đất giành dân của ta, mà chính danh sao?

Từ trên cao xanh, hồn ma Hãn nhìn xuống sông Hồng, sông Lô, sông Đà hợp lại gần kề nhau, rồi núi non quần tụ như bức địa đồ đặt trong lòng bàn tay, khiến lòng càng thêm nhớ trần gian. Nhớ sao những ngày xuân ấm áp, ta cho dân bơi chải trên sông, rồi chọn lấy đám trai tráng xung vào thủy quân. Nhớ sao những mùa đông tháng giá, ta cùng dân sơn cước đi săn, xấy thịt thú rừng tích trữ cho lính dùng khi đi trận. Ta đi rồi, em ta liệu có giữ được Hồi Hồ? Hồi Hồ là xứ man di, Thuận được lòng dân ngu trung là một; địa thế hiểm trở, rừng thiêng nước độc là hai. Vậy chỉ cần có một quan võ giỏi, một quan văn tài nữa giúp giập là Thuận có thể kê cao gối mà ngủ. Thuận ơi! Hồn ma Kiều Công Hãn thương khóc em giai mà không có nước mắt, nhưng chốn cao xanh hẳn thấu tỏ sự tình.

 

Chương tám

Tấn Hồi Hồ, triệt Thành Mè    

 1.

Sau khi đã diệt được Kiều Công Hãn, bình ổn Phong Châu, quân Cờ Lau bàn chuyện đánh Kiều Công Thuận. Bộ Lĩnh bảo:

– Thằng này là em Hãn- Tri Hựu. Năm Đinh Dậu (937), nó hùa với ông nội Kiều Công Tiễn, giết Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, chiếm Đại La. Khi phụ thân ta cùng bằng hữu Ngô Thứ sử tiến đánh, thì nó bỏ chạy lên vùng Hồi Hồ(5), dụ dân ki mi làm phản.

– Thế thì phải đánh, – Liễn tán đồng.

– Thằng này, không được như bố nó, với tay Hãn. Hai bố con nhà này bỏ ông nội, mà theo Ngô Tiên Vương. Còn nó với ông nội, lại quyết chống triều đình. Nay nó chiếm vùng rừng núi hiểm trở, không đánh không xong, – Bặc tỏ ra am tường về Kiều Công Hãn. – Nhưng vùng này nước độc, phải dùng Bỏng Chủ làm lương khô, dặn lính không được ăn hoa quả, uống nước suối, phòng ruồi muỗi độc, kẻo mắc bệnh “ngã nước”…

– Nó đóng thành Hồi Hồ, bên hữu ngạn sông Hồng, nhưng lại kết thân với Ma Xuân Trường ở Thành Mè(6), bên này sông. Khi ta đánh Hồi Hồ, tất bọn thành Mè sẽ ứng cứu, – Bộ Lĩnh nói. – Vậy phải cẩn trọng mới được, kẻo trong đánh ra, ngoài đánh vào, thì nguy khốn.

– Hai thành cách nhau một con sông to, mực nước thất thường, hung dữ, nhưng khi đánh Tam Giang, ta đã bắt mạch được rồi, – Lê Hoàn tham gia bàn kế, – cái đích của chủ tướng là đánh thằng Thuận, hạ thành Hồi Hồ. Vậy thì ta dồn binh lực đánh cái đã. Còn chia ra một mũi chặn sông ở chỗ Tình Cương. Khi hạ được thành của nó rồi, thì ta tiến sang thành Mè, dễ như giở bàn tay.

Bộ Lĩnh theo kế ấy, lại cắt đặt Liễn làm tiên phong, có Lê Hoàn đi cùng. Bặc đánh mũi vu hồi.

*

Dân chúng vùng ki mi truyền tụng, Thuận là cháu nội Tiết độ sứ Kiều Công Tiễn, là giống con vua cháu chúa. Khi sinh Thuận, ánh hào quang tỏa ra khắp nhà. Tuổi thơ thông tuệ, lớn lên thì uy dũng, văn võ song toàn, đáng bậc anh hào. Thuận tự xưng là Kiều Lệnh Công. Từ khi bỏ Đại La, về dựng Hồi Hồ cũng đã được hai chục năm, chăm lo xây thành, luyện quân, chăm dân, đức độ tưới khắp, dân lành tin theo, tôn vinh Thuận là Cương Nghị Quân. Thuận có vài chục châu ki mi(7) lệ thuộc. Binh lính ước tới mấy vạn, nhưng không quấy nhiễu dân chúng bao giờ, nên được tin yêu lắm. Thuận còn dựng căn cứ Tam Thành, xây thành Hưng Hóa, tạo thế ỷ dốc, thật là vững chãi. Núi rừng hiểm trở là chốn thiên la địa võng đối với quân thù. Thuận cảm thấy vững tâm. Thuận còn kết thân với Ma Xuân Trường, con cháu tù trưởng Ma Khê. Tù trưởng họ Ma dựng Ma Thành, về sau gọi là Thành Mè.

Bởi vậy, khi nghe tin Tam Giang thất thủ, anh trai chết thảm, tuy tay phải không đỡ được tay trái, nhưng Thuận chẳng sợ gì quân Cờ Lau. Quân do thám báo, bọn Bộ Lĩnh đang tiến quân lên, Thuận bèn chia quân phòng thủ, từ hữu ngạn sông Hồng, vào tới núi Đèn. Lại cho người vượt sông báo cho Trường, lo giữ Thành Mè. Các nơi Hưng Hóa, Tam Thành đều ra sức phòng bị. Thuận cười bảo:

– Cứ để chúng vào, rồi khóa chặt đường rút, khác nào bịt lồng bắt gà. A hà hà…

*

Đạo quân Đinh Liễn, Lê Hoàn xuống bến Tam Giang, ngược sông Hồng, rẽ vào sông Bứa, nhằm Hồi Hồ thẳng tiến. Đạo quân Nguyễn Bặc hành quân ngược tả ngạn sông Hồng, đến Tình Cương thì vượt sông, đánh thốc vào Hồi Hồ.

Hai đạo quân Cờ Lau hùng hổ tiến, ngựa hí, voi gầm, quân reo, khác nào cây nước từ trời cao, sầm sập đổ xuống thành Hồi Hồ. Nhưng dọc đường vào, bọn Thuận đã cho đặt bẫy đá, cây chông, hầm chông, giàn tên, bẫy giật ngọn cây, giăng dây cản ngựa, thả kiến xua voi, giả hổ dọa trâu và khiển ong bò lỗ… làm cho quân Cờ Lau chết vô khối. Tiếng kêu la váng động cả núi rừng.

Tuy bọn Thuận phòng bị kỹ càng, quân Cờ Lau chết và bị thương chồng chất. Nhưng thế mạnh, quân đông, Bộ Lĩnh cứ thúc đánh ào vào, khiến Thuận không chống đỡ nổi, thành Hồi Hồ chẳng mấy chốc mà thất thủ. Quân Cờ Lau tràn vào thành, chém giết thẳng cánh, voi giẫm, ngựa đạp, trâu húc làm cho quân lính và dân chúng trong thành chết la liệt như ngả rạ. Kiều Thuận cùng bọn tâm phúc liều chết mở đường máu, chạy sang Thành Mè, cầu cứu.

2.

Ngay từ lúc lên Hồi Hồ, Thuận đã tính kế lâu dài, kết thân với bọn ki mi. Riêng đối với Ma Xuân Trường, thì khác nào anh em một nhà, miếng sống cho tới miếng chín đều có nhau. Mỗi khi Thuận sang Thành Mè, thường chờ ở Bến Khuôn, để Trường đưa thuyền ra đón. Lâu dần, Thuận quen bà hàng nước, người họ Mai, gọi là Mai bà lão, rồi nhận làm mẹ nuôi.

Thành Mè được đắp trên quả gò, mọc trên đầm nước. Quân lính và dân phu phải chở đất về đắp. Đắp mãi mà nước vẫn thấm vào chân thành. Trường thấy vậy, bảo:

– Đêm nay, ta đào một trăm cái giếng, để hút nước ra. Nếu đến sáng mà xong, thì thành này vững chắc muôn đời, không kẻ nào phá nổi.

Đêm ấy, cả bọn chia nhau ra đào, khi đã được chín mươi chín cái, thì có một gã dân phu tính hay đùa tếu, vêu mồm lên giả tiếng gà gáy. Thế là, ba bề bốn bên làng mạc xung quanh, lũ gà trống tưởng trời sáng, lập tức cùng gáy vang. Cả bọn đang đào đào xúc xúc sững sờ buông tay. Trường cho là điềm gở, nhưng chỉ biết thở dài sườn sượt.

Khi Hồi Hồ thất thủ, Thuận và đám tâm phúc bơi vào Thành Mè xin tá túc, Trường vẫn cương cường:

– Anh em ta đã cắt máu ăn thề, hoạn nạn có nhau. Nay giặc tuy đông, nhưng ta cố thủ, trong thành sẵn có lương thảo, không lo. Quanh vùng, thuyền bè đập hết, thì chúng làm sao bơi vào đây được. Lo quái gì?

Nghe vậy, Thuận yên lòng. Cả hai lại uống rượu, đánh cờ, chờ địch.

Quân Cờ Lau do các tướng Nguyễn Bặc, Đinh Liễn, Lê Hoàn chỉ huy, vây chặt thành Mè. Bộ Lĩnh biết Mai bà lão là mẹ nuôi của Thuận, liền gặp, bảo:

– Tướng Kiều Công Thuận là là cháu nội của Tiết độ sứ Kiều Công Tiễn. Tiễn phạm tội giết vua, mà Thuận cũng hùa theo, thế là nghịch tặc. Khi quân Ngô vương đánh Đại La, Tiễn thua chạy về Hồi Hồ, phao tin lừa dối dân lành. Nay ta vâng mệnh giời, khôi phục Hậu Ngô, nhưng nó cự lại, rồi chạy sang ẩn náu chốn này. Bà là mẹ nuôi, khuyên nó nên hàng, kẻo ta đánh rốc một trận, hối không kịp.

– Bẩm Tướng quân, – Mai bà lão nói, – tôi là đàn bà, không dám can dự vào việc quân.

Bộ Lĩnh thấy Mai bà lão cương cường, có nói nữa cũng như nước đổ lá khoai. Chợt thấy một cô gái trắng trẻo, mặc áo dài đen, thắt khăn lưng xanh, đội khăn vuông đen, thì thào điều gì đó. Bộ Lĩnh hỏi giật giọng:

– Người này là sao?

– Bẩm Tướng quân! – Mai bà lão sợ hãi nói, – đây là con gái tiện dân.

– À, có phải em gái nuôi Kiều Thuận?

Cô gái và Mai bà lão cùng gật đầu thưa: “Phải”. Bộ Lĩnh lại quay sang, dùng lời ngon ngọt dỗ dành cô gái. Cô ta sợ hãi thưa:

– Bẩm Tướng quân, con cũng đang khuyên mẹ như vậy.

Bộ Lĩnh cả mừng, nói:

– Ta nói đây, không phải việc quân, mà là việc nhà bà. Nếu bà khuyên được chúng ra hàng, thì thoát cảnh đầu rơi máu chảy, chẳng là phúc lớn đó sao? Chúng đừng tưởng thành ở giữa đầm mà ta kiềng. Quân ta thạo nghề sông nước, thuyền đang kéo về kia.

Bộ Lĩnh chỉ tay, hai mẹ con Mai bà lão nhìn theo, thấy cơ man nào là lính, kẻ khiêng tre, người vác nứa, đang thả ven hồ đóng bè kết mảng. Quanh bờ dựng đầy binh khí. Hai mẹ con kinh sợ, vội chấp thuận việc viết thư khuyên bọn Thuận, Trường hãy biết thương lấy dân, yêu lấy lính mà quay giáo, bỏ kiếm. Đoạn, Bộ Lĩnh sai Đỗ Thích thảo một bức thư chiêu hàng, cho Mai bà lão điểm chỉ vào, rồi sai sứ giả chèo thuyền mang thư vào thành.

Thuận xem thư xong, cười to:

– Thằng trẻ trâu ấy, ép mẹ nuôi ta đây mà. Hẳn là nó sợ Thành Mè không phá nổi thì bẽ mặt, nên bày gian kế.

Trường bảo:

– Tôi biết hai mẹ con Mai bà lão thương quý ông lắm, nhưng phải chịu làm việc này, để nó khỏi quấy nhiễu mà thôi. Chứ bà cụ thừa biết, chúng chẳng cách gì công phá được thành của tôi đâu.

– Thế thì, để tôi viết thư, chửi cho nó một trận. Nó tức khí xua quân là dẫn thân vào chỗ chết. Ta dụng kế “Đóng cửa đánh chó”, nó chạy đằng giời. Chúng ta được dịp báo thù cho huynh trưởng, rửa hận Tam Đái, Hồi Hồ, – Thuận hùng hổ nói.

– Cần gì phải phí nhời. Cứ chém ngay sứ giả, bêu đầu lên thành, vừa thị uy cho chúng sợ, lại vừa tăng nhuệ khí quân ta.

Nghe Trường nói, Thuận cho là phải, bèn chém sứ giả, bêu đầu lên cổng thành, lại còn châm lửa đốt thuyền của sứ giả để giương oai.

Bộ Lĩnh thấy thế tức khí, lệnh cho các tướng công thành. Các đạo quân nhất tề xông lên, chèo mảng, bắn nỏ vào thành. Quân Trường, Thuận chỉ kháng cự lấy lệ, rồi rút xuống thành. Bặc thấy khả nghi, liền cho quân dừng lại, nhưng không kịp nữa rồi. Bè mảng đã đâm vào cọc có ngạnh, cắm dưới mặt nước, quay tại chỗ, không thể tiến, thoái được nữa. Bọn lính nhảy xuống nước, liền bị xóc chông ngầm, kêu la thất thanh, vang động cả mặt đầm. Lúc bấy giờ, quân Thành Mè mới đồng loạt nhảy lên mặt thành, bắn tên xuống, khiến quân Cờ Lau phải ôm đầu máu, chạy re.

Cùng lúc ấy, từ phía chợ Mè, bọn Đinh Liễn, Lê Hoàn thúc quân vượt tường đánh vào, nhưng không phá nổi những cái cánh cổng bằng gỗ lim, dày bằng cả cánh tay. Bọn Cờ Lau lại lập cách, bắc thang người, trèo lên tường, bắn tên lửa vào thành, khiến quân thành Mè chạy ráo, khói lửa bốc lên ngùn ngụt từ các mái nhà, tiếng kêu la ầm ĩ. Quân Cờ Lau thừa thắng nhảy vào thành, nhưng nhất loạt rơi xuống những cái giếng sâu, kêu la oai oái. Bọn ngoài thành thấy vậy, vội lui.

Bọn Trường, Thuận nhìn thấy cảnh ấy, khoái trá cười ngất.

Thì ra, Trường đã cho ngụy trang hàng trăm miệng giếng dưới chân thành, phủ phên nứa, cỏ rác lên trên, đánh lừa được quân Cờ Lau. Trận đầu, quân Cờ Lau thua to, bắc thì xóc chông, đâm cọc; nam thì sa giếng, ngã thành, thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể.

*

Đêm ấy, gió mùa đông bắc tràn về, lạnh thấu xương. Bộ Lĩnh hội các tướng lại, bàn cách đánh.

– Quân ta vừa thắng to ở Tam Giang, Hồi Hồ, đâm ra chủ quan, khinh địch, nhìn Thành Mè bằng cái đấu thế kia, tưởng mỗi đứa nhổ một bãi nước bọt cũng ngập. Ai ngờ, bọn man di này hiểm độc đến độ.

– Đêm nay, ta phá thành, chỉ một trận là xong, – Bặc nói.

– Bác nói thế là sao? Rét mướt thế vầy, sưởi còn chả xong, – Liễn có vẻ nghi ngờ.

– Tôi lại cho là phải, – Lê Hoàn hăm hở nói. – Nó cũng như ta bữa trước, vừa thắng xong, lại thấy gió rét thế này, tất sinh chủ quan. Tôi xem rồi, thành này rộng chừng ba trăm trượng, quanh thành giồng nhiều cây gạo, không biết để làm gì, không lẽ trừ tà ma? – Lê Hoàn nhìn Bộ Lình, dò ý, nói. – Tôi có kế này, chỉ nội đêm nay, đánh một trận là xong, đúng như lời tướng Bặc.

Bộ Lĩnh hỏi kế gì? Lê Hoàn nói khẽ như thế, như thế… Bộ Lĩnh thấy phải, làm theo kế ấy, bèn cho hậu quân kìn kìn chở nước mắm lên, chuyển cho bọn Bặc.

Quân Thành Mè dùng diệu kế, lừa được quân Cờ Lau, khiến bọn Trường, Thuận hả hê lắm, bày rượu thịt khao quân tưng bừng.

Thuận rỉ tai Trường nói nhỏ:

– Tôi sợ đêm nay, bọn Cờ Lau đánh úp.

– Rét như kim châm thế này, bố bảo, – Trường nói. – Mình ngồi hỏa lò mà còn run như cầy sấy. Chúng làm sao lội qua đầm. – Trường bặm môi suy tính, – mà bè mảng của chúng bị cặm một lượt ở ngoài thành rồi, không kéo ra được đâu. Mai ngày khô nỏ, tôi cho đốt lửa hoa đăng.

– Tôi lo mặt chợ Mè.

– Tôi đã tính cả rồi. – Trường phấn chấn, – quân do thám báo về, bọn thằng Liễn với Lê Hoàn điểm quân từ lúc gà lên chuồng. Cứ cho nó dẫn nhau vào chỗ chết, ta dụng kế “Đóng cửa bắt trộm”, một trận là yên.

– Giếng chân thành đã lộ cả rồi, – Thuận bồn chồn lo lắng.

– Chín mươi chín cái, đào kiểu nanh sấu cơ mà. Sập cái này, còn cái kia, lo gì?

Canh ba đêm ấy, thấy bên ngoài thành, từ phía chợ Mè, quân Cờ Lau rậm rịch tiến vào. Trường lệnh cho quân, vẫn để nguyên các giếng sập, không ngụy trang lại, lừa quân Cờ Lau trận nữa, với số giếng còn lại đã được ngụy trang từ đêm trước. Trường bảo, thế nào chúng mò vào rừng, không gặp hổ cũng gặp báo cho mà xem.

Đột nhiên mặt thành phía đầm sáng rực. Các ngọn cây gạo cháy đùng đùng như hàng dãy đuốc khổng lồ, soi tỏ cả thành. Quân Cờ Lau do Bặc chỉ huy, từ trên mặt thành lao xuống như kiến cỏ, gặp người thì chém, gặp ngựa thì đâm, khiến cho quan, quân, dân chúng Thành Mè loạn cả lên.

Ngay lúc đó, từ phía chợ Mè, quân Cờ Lau lao thẳng các cỗ xe chở những cây gỗ nhọn đầu vào phá cửa thành, chứ không trèo qua thành nữa. Cứ hết xe này kéo ra, lại xe khác đẩy vào, nhằm giữa cửa mà nện, chẳng mấy chốc, các cánh cửa bung ra, cả bọn ồ ạt xông vào như thác đổ. Thế là, cả hai mặt quân Cờ Lau đánh ập vào, quân Mè tan tác như ong vỡ tổ.

Trong cơn nguy cấp, quân Mè tung toàn lực ra chống cự. Dân chúng trong thành cũng đồng lòng quyết tử. Nhưng thế quân Cờ Lau quá mạnh, chẳng bao lâu, thành tan nhà nát, như gặp bão tố, sập núi lụt rừng vậy. Tuyệt vọng, Trường vội đưa Thuận chui cửa sau, lẻn xuống một chiếc thuyền nhỏ, đậu sẵn trong chỗ kín, chèo qua đầm.

– Nó mà phục Bến Khuôn thì hết đường! – Thuận sợ hãi khẽ nói.

– Phải hư hư thực thực nhằm vào chỗ không ngờ mới được. – Trường trấn tĩnh, – “Cùng tắc biến, biến tắc thông”.

Quân Bặc đang đánh vào thành, chợt thấy con thuyền lùi lũi bơi ra, hỏi không nói, nghi là quân Mè tháo chạy, Bặc phóng mạnh một ngọn giáo, bay hú họa về phía ấy. Chợt có tiếng kêu: “Ối!” bật ra trên thuyền, rồi không gian lại lặng như tờ.

Thì ra, theo kế Lê Hoàn, quân Cờ Lau bên chợ Mè đánh động nghi binh, tạo điều kiện cho quân của Bặc bên đầm đột nhập. Mỗi tên lính, trước khi lội xuống đầm, đều uống một bát nước mắm, cho ấm người. Khi ngoi lên mặt thành, thì bắn tên lửa lên đống bùi nhùi đã bí mật buộc sẵn đồ dẫn lửa trên ngọn cây gạo. Thế là, ánh sáng chói lòa, bất ngờ cháy rực trên thành, khiến quân Mè ngỏng cổ lên nhìn, ngỡ ông trời đốt đuốc chơi đêm. Quân Đinh Điền, Lê Hoàn thừa cơ xông vào cổng thành. Thế là quân Mè không kịp trở tay.

*

Thuận bị mũi giáo của Bặc xuyên qua áo giáp, thấu phổi, bọt bong bóng cứ sủi ra như cua đùn. Từ lúc Trường rút mũi giáo thả nhẹ xuống đầm và lấy khăn nhét vào vết thương, thì Thuận kiệt sức, nằm vật xuống lòng thuyền. Bọn Trường khiêng Thuận lên gò đất ven đầm. Thuận bảo:

– Ta làm anh em khó nhọc…

– Ông là bậc con vua cháu chúa, thì bổn phận chúng tôi phải phụng thờ, – Trường nói, giọng buồn rầu.

– Vậy thì, anh em nghe ta nói đây!

Thuận dừng lại lấy hơi. Gió đầm hun hút. Những vì sao cũng như đang hấp hối không trung. Trời chuyển dần về sáng.

– Lời người sắp chết là nói thẳng ngay…

– Cương Nghị Quân, chớ nói gở!

Bọn chúng vội can, nhưng giọng đầy vẻ lo sợ.

– Ta đã xem thiên văn, thấy Bộ Lĩnh có mệnh đế vương. Anh em ai theo thì theo, không theo thì bỏ khí giới mà về nhà làm ăn…

– Sứ quân!

– Ta có lời từ biệt Mai bà lão, với giả muội(8)… Giời sắp sáng rồi, đi mau! Còn kịp…

Trường và bọn tâm phúc không ai muốn rời, nhưng ngựa không có con nào, Thuận thì như ngọn đèn trước gió, đi cũng dở mà ở không xong. Cả bọn, nước mắt ròng ròng, băng bó lại cho Thuận, rồi bái biệt mà ruột xót gan bào. Đoạn, chúng chạy qua nhà Mai bà Lão để báo hung tin, rồi men hữu ngạn sông Hồng, bán sống bán chết ngược lên tây bắc.

Kiều Công Thuận nằm lại giữa rừng, nghe tiếng chim hót biết là trời sắp sáng. Lại có tiếng người, ngựa lao xao mỗi lúc mỗi gần, đoán là quân Cờ Lau đang lùng sục. Thuận nghĩ, không thể chết trong tay quân địch, bèn gắng sức tàn, cầm thanh kiếm mà bọn Trường dâng hộ thân, đặt mũi kiếm lên yết hầu, chuôi kiếm nằm trên bàn chân, hai tay cầm lưỡi kiếm cho khỏi rơi, rồi hít một hơi thở sâu, nghe vết thương đau buốt. Thuận nghiêm sắc mặt, gẩy mạnh bàn chân, mũi kiếm cắm phập vào cổ họng, máu đỏ tươi phun như cầu vồng.

Đằng đông, bầu trời đang ửng hồng. Khi Mai bà lão và em gái nuôi của Thuận lập cập tìm đến bên gò đất, thì vừa hay bọn lính Cờ Lau cũng sục đến nơi. Hai bên cùng nhìn thấy tia máu đỏ vọt lên trời. Thuận lả đầu sang phải, thanh kiếm vẫn nằm trên thân. Hai mẹ con Mai bà lão sợ hãi  ngã vật ra bên cạnh. Bọn lính Cờ Lau cũng lục tục xuống ngựa, Nhưng tất cả đã muộn…

Chỉ trong chốc lát, hàng đàn mối kéo đến, tựa hồ như chúng đã phục chờ sẵn từ lâu. Khi bọn lính cấp báo về, Bộ Lĩnh cùng các tướng đến nơi, thì đống mối đã đùn cao, lấp kín thân thể sứ quân Hồi Hồ, chỉ còn thanh kiếm vẫn sáng lên dưới ánh mặt trời. Bộ Lĩnh và các tướng, ai cũng cảm phục. Về sau, nhà Đinh cho lập đền thờ Mai bà lão. Dân trong vùng cũng được thờ cúng Kiều Công Thuận và Ma Xuân Trường.

Nhà văn Vũ Xuân Tửu

Chương chín

Huyết chiến Tây Phù Liệt

 1.

Năm Ất Sửu (905), nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ nhân cơ hội, tự xưng tiết độ sứ, đóng thành Đại La.

Nguyễn Hãng sinh ra Nguyễn Nê. Nguyễn Nê được lệnh vua Đường, mang bảy nghìn quân sang Tĩnh Hải Quân, đòi Khúc Thừa Dụ triều cống. Nê đóng bản doanh ở Thành Quả, lấy vợ người Việt, sinh ra ba anh em Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Siêu. Lớn lên, chúng thành ba sứ quân, mỗi kẻ hùng cứ một phương.

Trong số mười ba sứ quân, thì có tới năm sứ quân người Hán đều có lực lượng hùng hậu, cát cứ địa bàn trọng yếu chiến lược: Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu, Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động Giang, Nguyễn Khoan ở Tam Đái, Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du, Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt.

Nguyễn Siêu còn có tên gọi là Nguyễn Hữu Công, cát cứ Tây Phù Liệt, thuộc vùng châu thổ bên hữu ngạn sông Hồng. Nơi đây có nhiều hồ ao, đồng ruộng, nên xung quanh các thôn ấp, Siêu cho đóng cọc móng tre tươi, đắp thành, rồi lại trồng nhiều lớp tre làm lũy, khá là kiên cố. Môn đệ có hàng vạn người, binh mã ước chừng chục vạn.

Giữa năm Đinh Mão (967), Bộ Lĩnh sai tướng Nguyễn Bồ chỉ huy, cùng bọn Nguyễn Phục, Đinh Thiết, Cao Sơn đem quân tiến đánh Tây Phù Liệt. Siêu liền cử Lê Trí Khả làm Tiên phong, Trần Côn làm Tả dực, Nguyễn Hiền làm Tổng quản, đem một vạn quân nghênh chiến. Kết cục, quân Cờ Lau thua to, cả bốn tướng đều tử trận, còn quân lính chết không biết bao nhiêu mà kể.

Nhưng kỳ thực, từ cuối năm Bính Dần (966), thấy Bộ Lĩnh tập hợp ba nghìn quân mã, ở Đọi Sơn, Siêu đã đoán chừng bọn Cờ Lau sẽ khiêu chiến, nên ráo riết đốc các tướng luyện tập võ nghệ, củng cố thành lũy, phòng bị chu toàn, sẵn sàng chiến đấu. Nhân đấy, đắp thêm lũy từ sông Cả, qua Phúc Am, đến Việt Yên, mà chỉ nội nhật một đêm là xong.

Ban ngày, Siêu lệnh cho quân lính vũ khí tề chỉnh. Ban đêm, canh phòng cẩn mật, đánh trống, khua chiêng làm hiệu thật nghiêm cẩn. Hằng ngày, các cửa thành phải đóng chặt để phòng thủ, không để xảy ra sơ xuất.

Tháng bảy năm Đinh Mão (967), Bộ Lĩnh hội các tướng lại bàn:

– Thằng này, căn cứ rộng, lại có sông Hồng bao bọc. Hai anh nó là Nguyễn Khoan và Nguyễn Thủ Tiệp cũng đều là anh hùng đời nay. Ta không tấn công tổng lực là không xong.

– Tháng trước, thử đánh thăm dò một trận, mà nó điều ngay một vạn quân giao chiến. Ta mất bốn tướng, thật là đau xót. Như thế, đủ thấy nó không phải hạng tầm thường, – Nguyễn Bặc chậm rãi nói.

– Ta phải đánh cả thủy, bộ, – Phạm Bạch Hổ bàn. – Quân thủy Đằng Châu cũng ngay bến hạ lưu, dưới Đông Phù(9) mà thôi.

– Phải! – Lưu cơ bàn thêm, – như chủ tướng đã nói, thì ta phải đề phòng sự liên kết, tiếp tế của bọn sứ quân Khoan, Tiệp. Nhưng cũng phải tính tới bọn Đường ở Tế Giang, Khuê ở Siêu

Loại, cũng quanh quẩn trong vùng này cả. Nhất quyết không cho hợp sức với nhau, chúng tạo thành bó đũa là khó bẻ lắm.

Nghe các tướng bàn mưu tính kế xong, Bộ Lĩnh lại nói:

– Tây Phù Liệt có mười vạn quân, Siêu có tài thao lược, nhưng ta cũng chỉ cất chừng vài ba vạn quân là đánh được thôi. – Nhìn Hổ và Điền, Bộ Lĩnh nói, – quân thủy đánh đường sông Hồng, từ hữu ngạn ập vào. Vậy ta phái tướng Đinh Điền kéo từ Tam Giang xuống. Tướng Phạm Bạch Hổ lấy quân Bố Hải Khẩu và Đằng Châu ngược lên. Cả hai bàn bạc, cùng hợp lại mà đánh. – Bộ Lĩnh lại nhìn Nguyễn Bặc, Lê Hoàn nói, – tướng Nguyễn Bặc làm tiên phong cầm mười ngàn quân. Tướng Lê Hoàn đem tám ngàn tiếp ứng. Còn ta, thân dẫn bảy ngàn cùng voi chiến, cắt đường Cẩn Cơ hậu thuẫn. – Đoạn, Bộ Lĩnh quay sang Lưu Cơ hỏi, – ta định xuất quân ngày rằm tháng bảy, được chăng?

– Năm nay Đinh Mão (967), này ấy là Kim dương. – Cơ nói, – theo sách Xuất hành của Gia Cát Khổng Minh, thì ngày tốt, có quý nhân phù trợ, tài lộc thông suốt, thưa kiện có nhiều lẽ phải. Trận này, chủ tướng cất quân ít hơn chúng, nhưng bù vào có vũ khí hạng nặng

– Âm phù dương bật, còn chờ gì nữa? – Bộ Lĩnh cười sảng khoái. – Chuyến này, Đỗ Thích đi cùng ta. Còn lão Bộc, tuổi hạc tóc sương, chinh chiến bôn tẩu đã nhiều, nay ở lại Yên Thành dưỡng lão.

– Ngựa già cũng xin kéo xe, được chăng? – lão Bộc bùi ngùi hỏi.

– Thế thì, lão trượng cùng tướng Trịnh Tú lo giữ thành, – Bộ Lĩnh cười nói.

Nghe vậy, cả bọn cường cười hồ hởi.      Các tướng nhận lệnh, binh nào đạo ấy hăm hở lên đường, nhằm Tây Phù Liệt thẳng tiến.

 2.

Siêu hay tin quân Cờ Lau, ba bề bốn bên đang ùn ùn kéo đến, thì trong lòng như có lửa đốt. Lê Trí Khả trấn an:

– Chủ tướng có mười vạn quân, mà nó chỉ có vài ba vạn thì lo gì? Nhẽ ra, trong phép dụng binh, thì phải là “công ba thủ một”. Đúng ra, chúng phải cất ba mươi vạn quân chứ nhỉ?

– Quân ta tinh, tướng ta giỏi, đất ta rộng, thành ta chắc, lại có anh em bằng hữu là sứ quân quanh vùng bao bọc, yểm trợ. – Siêu tự hào nói, – nhưng quân Cờ Lau có thế mạnh hơn người, vũ khí hạng nặng, đánh đâu thắng đó. Ta quyết không lơ là, chủ quan khinh địch mới được.

– Chúng vừa thua tháng trước. – Tổng quản Nguyễn Hiền nói, – nhuệ khí tự khắc giảm. nay lại dẫn xác đến, chỉ chơi trò nộp mạng mà thôi. Mệnh chủ tướng lớn gấp bội.

– Ta với Bộ Lĩnh cùng tuổi Giáp Thân (924), – Siêu nói. – Nay cũng sang tuổi “nghi bất hoặc” cả rồi. Nhưng nó được Ngọc khuê, Rồng cõng qua sông. Đó là mệnh Thiên tử. Bởi vậy, dù chúng có yếu kém hơn, nhưng cũng không thể xem thường.

– Ở cái xứ Tĩnh Hải Quân này, sứ quân hàng chục, nhưng có nhà nào mà ba anh em cùng cát cứ như sứ quân đâu, – Trần Côn nói câu lấy lòng chủ tướng. – Khi chúng phạm vào Tây Phù Liệt, không chỉ phải đối mặt với mười vạn quân trong thành, mà còn phải chống đỡ các sứ quân khắp vùng Tam Đái, Tiên Du, Siêu Loại, Tế Giang nữa. – Xem Siêu có vẻ êm tai, Côn lại xúi thêm, – ta nên cho sứ giả đến gấp các xứ ấy, lo phối hợp trong ngoài thì hơn.

– Việc ấy, ta định liệu cả rồi, – Siêu nói. – Bọn Cờ Lau chắc cũng biết điều ấy, hẳn đã trù hoạch cả rồi. Bây giờ, chỉ còn chờ xem ai hơn ai thua mà thôi.

*

Nguyễn Bặc, đại tướng tiên phong, dẫn mười ngàn quân đánh thẳng vào Tây Phù Liệt. Siêu chỉ huy quân phản kích, đánh bật ra. Bặc nghĩ bụng, tiếng đồn về thằng này, quả không ngoa. Nó đã đánh bại Nguyễn Bồ, nay lại vỗ mặt ta thế này, không dụng kế, khó bắt được tướng tài, ra trận mà bắt được tướng tài mới xứng anh hùng. Nghĩ vậy, Bặc liền dâng kế sách lên Bộ Lĩnh. Theo kế ấy, bọn Bạch Hổ, Đinh Điền, Lê Hoàn cho quân bao vây tứ phía, cả thủy lẫn bộ. Mặt khác, ngăn chặn các sứ quân quanh vùng không cho tiếp ứng. Bặc lại cử tướng Nguyễn Đoàn, dẫn một đội quân bí mật đột nhập vào trong thành Tây Phù Liệt, khi có pháo hiệu nổi lên thì tức thời đốt doanh trại, khiến quân địch rối loạn. Ta thừa cơ, trong đánh ra, ngoài đánh vào, tất bắt được Siêu. Bộ Lĩnh y kế, bảo các tướng cứ thế mà làm.

Đại bản doanh của Siêu đóng ở Đông Phù, xung quanh quân lính dày đặc. Suốt cả dãy thành Đông Phù Liệt, Tây Phù Liệt, cho tới Ma Cả, Ma Treo, Đường Chộ, Tam Thai, Việt Yên, Đông Thạch, Văn Uyên… chỗ nào cũng bày binh dàn trận. Trên sông nhỏ chảy quanh thành đã sắp đặt thuyền bè, sẵn sàng tấn ra sông Hồng, phối hợp chiến thuyền đóng bên hữu ngạn. Quân tướng giữ thành canh phòng cẩn mật, nên địch quân tiến vào liền bị đánh bật ra rồi. Ngoài thì đã cầu viện mấy nơi, nhưng chưa thấy tới. Quân Cờ Lau trùng trùng khắp chốn, nhưng không thể vây hãm mãi. Mùa mưa, lũ đã về trên sông Hồng rồi, lương thảo của chúng cũng không bao lâu nữa mà cạn. Khi đó, ta đánh ra, các sứ quân đánh vào, lo gì không đuổi được chúng. Thừa thắng, có khi còn đuổi thằng mục đồng này, về tận sào huyệt Thung Lau ấy chứ?

Đang miên man nghĩ ngợi, bỗng nghe có tiếng pháo hiệu nổ long trời, Siêu giật mình chạy ra xem sao, thì thấy các doanh trại đều bốc lửa. Từ trận địa quân Cờ Lau, các giàn phóng giáo vun vút. Mỗi mũi giáo xiên táo dăm ba tên lĩnh. Đạn đá bay vào tựa hồ mưa đá đổ xuống từ trời. Những quả cầu lửa tới tấp ném vào lũy tre, nhựa thông bám vào đâu, cháy tới đó… Quân Tây Phù Liệt lần đầu nếm vũ khí hạng nặng của quân Cờ Lau, khiến đội hình tan vỡ ngay tức khắc. Bên ngoài, tiếng quân reo, ngựa hí, voi gầm, trống thúc ầm ĩ. Tự nhiên, xuất hiện một đàn trâu, con nào con ấy buộc giáo, chằng mác tua tủa quanh mình, lao vào như điên. Quan quân Tây Phù Liệt bị bất ngờ, náo loạn hàng ngũ. Thừa cơ, quân Cờ Lau thúc voi, ngựa xông vào như thác lũ, không thể nào cản nổi. Lớp trước ngã xuống, lớp sau xông lên, cứ như sóng cồn, Siêu hô quân dập lửa, lại khiển tướng chặn địch. Chợt thấy Bặc cầm cây huyết đương thương thúc ngựa phi tới, Siêu cũng xách tố anh thương ra nghênh chiến. Hai tướng cùng dùng thương giáp trận. Ngù đỏ huyết đương thương và ngù đen tố anh thương vấn vít bên nhau, kẻ đâm dọc, người chém ngang, với những miếng thọc, gạt, giã, đè, lắc, chặn, quấn, đỡ… đều ngang tài cân sức, khiến quân sĩ hai bên hoa cả mắt. Bọn Lê Hoàn thấy hai tướng đánh nhau ba mươi hiệp, mà không phân thắng bại, bèn thúc quân đánh phứa vào. Siêu núng thế, liều mạng mở đường máu, nhảy xuống chiếc thuyền nhỏ, lao ra sông Hồng.

Quân Cờ Lau tướn vào thành, thỏa sức chém giết, đập phá, hãm hiếp. Bọn Tây Phù Liệt vỡ trận, thành đổ, nhà cháy, tướng chạy, khác nào rắn không đầu. Hàng vạn xác lính chồng chất lên nhau, mặc cho voi giày, ngựa giẫm, trâu đạp, máu me, xương thịt bầy nhầy như đống bùn lầy. Sức cùng lực kiệt, mấy vạn quân lính của Siêu còn sống sót, kẻ quy hàng, người tháo chạy hỗn loạn cả thành, không biết đâu mà lần. Các tướng Tây Phù Liệt chết trận ráo cả, quân lính thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể.

Thuyền của Siêu vừa bơi ra sông Hồng, thì bỗng nhiên bão tố nổi lên đùng đùng, sấm rung chớp giật như trời giáng. Quân thủy của bọn Hổ, Điền vây bọc, áp sáp mạn thuyền. Trong lúc hỗn quân hỗn quan, Siêu bị trúng tên, ngã lăn xuống sông, mưa gió mịt mù, thủy chiến hỗn loạn, không ai kịp vớt.

Ba tháng sau, người dân mới vớt được xác Nguyễn Siêu, mà trông như còn đang sống vậy. Thế là mọi người bèn húm vào, lo chuyện mai táng chu tất.

Một hôm, dân làng Đông Phù thấy có cây gỗ rất to, trôi trên sông Hồng, nhưng đến khúc sông này thì luẩn quẩn ở bến. Người ta đồ rằng, hẳn trời đất ban lộc chi đây, liền hò nhau kéo lên, nhưng không nổi, phải gọi trai tráng ba làng lân cận đến cùng kéo mới xong. Mấy người có chữ trong làng bảo, hẳn là oan hồn quan quân Tây Phù Liệt bỏ mình đã hóa thành, nên gọi là “Diệu Cây Trôi” và tạc tượng quan tướng, thờ chung cả.

Nguyễn Siêu là người có công lập làng Đông Phù, cát cứ cả vùng Tây Phù Liệt, được dân kính trọng, chết rồi còn được suy tôn là nhân thần, thờ làm thành hoàng.

VŨ XUÂN TỬU

(Còn tiếp)

_________________

(1) nay thuộc tỉnh Phú Thọ

(2) nay thuộc phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

(3) nay là xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

(4) nay là xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

(5) nay là xã Văn Khúc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

(6) nay là xã Văn Lung, thành phố Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

(7) vùng dân tộc thiểu số miền núi.

(8) em gái nuôi.

(9) nay thuộc xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thủ đô Hà Nội.

 

XEM THÊM:

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 1

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 2

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 3

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 4

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 5

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 6

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *