Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 8

Chương mười

Ba lần công phá Thành Quèn

1.

VHSG- Nghe tin Đinh Bộ Lĩnh cất quân tiến đánh Thành Quèn(1), Điền bảo:

– Thằng cụt tai này, không phải vừa đâu nhá. Năm Bính Dần (966), thằng Khoan đánh nó, bị vây khốn, quân lính chết đói trong núi.

– Sợ gì! – Liễn bàn, – bọn này chưa thể sánh với Tây Phù Liệt, diệt được Siêu, ắt phá   được Thạc.

– Phải, – Bặc thừa nhận. – Liễn nói phải, chứ huynh trưởng có vẻ chờn, – Bặc lại khích Điền.

– Tôi mà sợ nó à? – Điền tức điên. – Chú cứ để tôi làm tiên phong, – Điền quay sang cầu khẩn Bộ Lĩnh. – Tôi đánh ào một trận, bắt nó về tế cờ, rửa nhục.

– Thằng cáo già này, không nôn nóng với nó được đâu, – Cơ lên tiếng. – “Dục tốc bất đạt”. Bởi, nó từng giúp Ngô Tiên Vương đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, rồi lại tranh Cổ Loa với bọn Lã Xử Bình. Bây giờ, nó dám xưng Đỗ Lệnh Công, thống suất cả vùng sông Tích, coi như của họ Đỗ nhà nó, nên mới gọi Đỗ Động Giang là cái sự vậy.

– Ai mà chả biết, mấy anh có chữ cứ hay ăn nói rề rà, – Điền lẩm bẩm.

Bộ Lĩnh nhíu mày, gọi Đỗ Thích:

– Mang địa đồ ra mau!

Bộ Lĩnh nóng lòng muốn bàn vào việc chính là đánh thành, chứ không phải cà khịa nhau. Nhưng hiềm nỗi, Điền là bậc trên, nên không ai dám ho he.

– Ta hai lần ra quân, nhưng chưa thắng, bởi không am hiểu thành lũy, hang ổ của nó. Nay ta cho quân do thám, vẽ địa đồ như thế vầy, các tướng cùng xem mà bàn cách bài binh bố trận.

– Đây là Thành Quèn, – Thích giơ tay, chỉ phác một lượt. – Từ núi Ba Vì, cách mấy chục dặm còn nhìn thấy. Thành vuông như đồng bánh chưng, mỗi chiều dài năm chục trượng. Chân thành rộng chừng hơn hai chục thước. Dưới chân lại có gờ thành, ước độ hai lăm thước. Cái thằng đắp thành lạ thế?

Thích cũng bắt chước thói mục đồng, gọi các sứ quân là thằng hết, khiến Cơ cười mũi.

– Hẳn nó làm chân thành? – Điền láu táu.

– Vậy ta càng dễ trèo vào, – Liễn cười khoái chí.

– Phải đề phòng quỷ kế chi đây? – Bặc nói, – chứ nó có ngu đâu mà dọn cỗ sẵn mời mình xơi.

Thấy Đỗ Thích chưa chi đã định làm thầy, sợ mếch lòng các tướng, nên Bộ Lĩnh bèn đứng áp vào, cầm thanh kiếm trực tiếp chỉ từng vị trí, nói thay, như đã thuộc trong lòng bàn tay rồi vậy:

– Bốn mặt trổ bốn cổng lớn: cửa Tiền làm cổng bắc, cửa Hậu là cổng nam, cổng Hữu hướng cửa đông, cửa Đoài là cổng tả. Các cổng đều lập miếu thổ thần trấn bên ngoài. Nhưng lạ nhất là bốn góc thành đều có đắp ụ đất to như cái đống rạ. Giữa thành có vuông đất cao làm chỗ dựng cột cờ.

Thành cao bao nhiêu? – Bặc hỏi.

– Theo quân do thám, thì thành cao chừng sáu, bảy thước. – Bộ Lĩnh chỉ vòng bên trái thành, – đây là vẽ sông Tích, chúng gọi là Đỗ Động Giang.

– Ta đổi Đại Hoàng ra Hoàng Long, thì chúng cũng bắc chước đấy mà? – Điền cười khảy.

– Sông Tích quây mặt bắc và tây thành, như thể con hào nước to. – Bộ Lĩnh quay sang Bặc, – phải tính chuyện vượt sông đấy nhá?

– Theo như tôi được biết, nó còn có cái đồn Bảo Đà, cách chừng năm chục dặm, tạo thế ỷ dốc, – Bặc tỏ ra am tường.

– Cách bốn năm chục dặm thì ỷ dốc cái nỗi gì? – Điền bỗ bã, – ta hạ xong thằng Thành Quèn, ngủ một giấc, chưa chắc bọn Bảo Đà đã tới kịp.

– Xung quanh Thành Quèn, Thạc còn lập bảy mươi hai hành cung, thôn ấp, – Bộ Lĩnh thõng thanh kiếm, ngồi xuống sập.

Các tướng bàn tán xôn xao một hồi.

– Tôi nghe nó luyện binh, đóng thuyền, trữ lương ghê lắm.

– Nó đắp đất làm bệ cột cờ, mỗi chiều những sáu, bảy trượng. Thằng Hán này, chắc muốn hùng cứ một phương?

– Nay ta đánh Thành Quèn, gặp phải cữ giá rét thế này, quả là khó nhọc cho tướng sĩ. – Bộ Lĩnh khoát tay ra hiệu cho các tướng chú ý mới nói tiếp, – nhưng trong cái khó cũng có cái thuận. Nó sẽ mất Tết Nguyên đán với ta cho mà xem.

– Hẳn là cái Tết cuối cùng của đời nó, – Điền nói như đinh đóng cột, chủ tướng mang cả chục vạn quân, uống thuốc lợi tiểu, đái xuống sông cho ngập thành, là xong.

Cả bọn lại cười ồ lên.

– Ta chia làm bốn cánh cùng ập vào mà đánh mới được. Các tướng Phạm Hạp, Pho Hùng, Lê Hoàn, Thương Lập cùng phải đồng lòng, gắng sức lập công, nhá!

Bốn tướng cùng đứng nghiêm, tuân lệnh. Đoạn, Bộ Lĩnh gọi Nguyễn Bặc lại, dặn nhỏ mấy việc, rồi nói to:

– Không được chủ quan khinh địch, thì sẽ bớt được xương máu tướng sĩ, bí mật hành binh thì địch mới không biết đường phục kích. Thắng, hay thua là nhẽ thường trong phép dụng binh, nhưng trận này rất hệ trọng, phải thắng.

Nghe Bộ Lĩnh nói, bọn Lưu Cơ, Trịnh Tú đưa mắt nhìn nhau, đỏ mặt lên vì xấu hổ. Số là, khi Thạc vừa thắng Đường, thì Cơ cho rằng, bọn Thành Quèn đắc ý chủ quan, nên đêm ba mươi tháng bảy năm Bính Dần (966) cử bọn này cùng mười tướng, đem năm trăm binh mã, lén đánh úp một trận. Nhưng Thạc cáo già, biết thóp, bèn phục kích ở Quán Xanh(2), khiến quân Cờ

Lau đại bại. Nhưng lúc này, trước khi ra trận, Bộ Lĩnh không muốn nhắc lại chuyện cũ, sợ làm nhụt nhuệ khí tướng sĩ.

Đến cuối năm Bính Dần, Bộ Lĩnh lại sai Đinh Điền và Nguyễn Bặc cùng hai mươi tướng, chỉ huy sáu trăm quân mã vây Thành Quèn. Điền bảo:

– Hồi giữa năm, bọn thằng Cơ nỏ mồm, đã thua ở Quán Xanh, làm quân ta nản lòng. Nay, ngày cùng tháng tận thế này(3), lại xuất binh à?

– Quân lệnh như sơn. – Bặc bảo, – cứ đánh rồi khắc thắng!

– Có mà nướng quân…

Y như rằng, bọn Thạc nống quân ra vây hãm, lại điều quân lính ở đồn Bảo Đà và bảy mươi hai hành cung trại ấp cùng kéo về, khiến quân Cờ Lau tiến thoái lưỡng nan. May sao, đang lúc nguy cấp, thì Liên Hoa là con gái Bộ Lĩnh, đóng ở Trâm Nhị(4), mang gấp ba ngàn quân mã đến cứu, mới thoát. Thế nhưng quân lính chết trận rất nhiều, thây chồng thành gò ngoài Thành Quèn, máu đỏ sông Tích. Về sau, chỗ ấy gọi là đồng Đống Thịt(5).

Liên Hoa là con gái của Bộ Lĩnh với Đặng thị. Khi Liên Hoa mười hai tuổi thì mẹ mất. Liên Hoa lớn lên giỏi kiếm cung binh pháp, lại biết thương dân. Đời sau, Liên Hoa được dân lập đến thờ.

2.

Đỗ Thục là người Hán ở phương Bắc, thời Ngũ đại thập quốc, do căm giận Nam Tấn hà khắc, nên chạy sang Tĩnh Hải Quân, lập nghiệp, rồi lấy vợ là người họ Trần, thuộc diện con nhà lành. Hai vợ chồng Thục thường làm việc phúc đức, thấy người đói cho ăn, người rét cho mặc, người ốm cho thuốc, người chết thì chôn cất tử tế. Một đêm, nằm mơ thấy hai con gấu nhảy múa từ trời cao, sa xuống sân, hai vợ chồng Thục nhanh tay bắt được một. Đến năm Nhâm Thân (912), Trần thị sinh được một đứa con trai khôi ngô, đặt tên là Đỗ Cảnh Thạc. Một lần, Thạc đánh nhau với bọn cướp, bị chúng treo lên cây và xẻo mất một tai. Về sau, người đời gọi Thạc là “Độc nhĩ tướng quân”.

Thạc có thanh liễu diệp kiếm thường quấn quanh mình, coi như báu vật. Thạc giỏi cả văn lẫn võ. Nghe nói, tài thơ kiêm cả Lý Bạch(6), Đỗ Phủ(7), lại biết bói lục giáp, thần phù… việc gì cũng tinh thông cả. Lớn lên, Thạc theo nghiệp binh đao, phò Ngô Tiên Vương, rồi tham dự trận Bạch Đằng, năm Mậu Tuất (938). Khi Dương Tam Kha cướp ngôi cháu, Thạc đã cùng bọn Ngô Xương Văn đánh đổ Dương Bình Vương, lấy lại ngai vàng cho Hậu Ngô. Đến khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn bị trúng tên chết trận, Thạc lại về tranh Cổ Loa với bọn Lã Xử Bình, nhưng không xong, liền chạy về Thành Quèn mộ quân, chăn dân, lập ấp, thu cả vùng đất đai rộng lớn dưới chân núi Ba Vì. Binh lực ngày một dồi dào, phải dùng hố đong người để điểm binh. Thành trì vững chãi, chỗ nào cũng đặt chòi canh, nên bọn Lã Đường, Bộ Lĩnh mấy lần xâm phạm đều bị thua đau. Xem vậy cũng biết, Thạc là kẻ anh hùng, mưu lược hơn người, chiến công hiển hách.

Nay lại nghe tin bọn Cờ Lau kéo quân tới vây Thành Quèn, Thạc bèn hội các tướng lại bàn:

– Ta nghe quân do thám báo, có bốn đội quân đang kéo tới, nhưng không thấy tướng Nguyễn Bặc ở đâu sất cả.

– Hẳn là nó để lại Đống Thịt ngoài thành kia, nên sợ mất mật rồi, – viên phó tướng cao giọng, vẻ tâng công.

– Ai chứ, tên này phải cẩn thận, – Thạc đăm chiêu. – Có khi, bọn mục đồng bày kế chi đây?

Chợt có thám mã cấp báo, đại quân Cờ Lau do Bộ Lĩnh chỉ huy, đang cùng Nguyễn Bặc, Đinh Điền hành binh gấp gáp từ Mỹ Đức, theo sông Đáy, hướng về Bảo Đà. Thạc nghe vậy, liền quay lại viên phó tướng bảo:

– Ta đi giữ Bảo Đà, lá chắn Thành Quèn. Ngươi gắng giữ thành cho đặng.

Đoạn, Thạc chùm áo bào ra ngoài thanh liễu diệp kiếm, nhảy lên ngựa, thúc quân ruổi gấp.

Bọn Cờ Lau hội quân nhằm hướng Thành Quèn: một cánh từ Mỹ Lương(8) kéo về, một cánh từ Bất Bạt(4) tiến lại, một cánh từ Tam Đái(9) đánh sang, một cánh từ Chương Đức(10) đổ xuống. Bốn cánh đánh một chẳng chột cũng què, thế mà Thành Quèn lại vắng Thạc, khác gì rắn mất đầu. Quân Cờ Lau phóng giáo, bắn đá, ném lửa tới tấp vào thành, rồi ào ạt tiến đánh, quyết rửa hận trận Đống Thịt, Quán Xanh hôm nào. Viên phó tướng không giữ nổi, Thành Quèn tan tành trong chốc lát, không những cột cờ bị đào bới mà bốn cổng cũng tanh bành.

Thạc trấn giữ Bảo Đà, quân Cờ Lau lại tỏ ra không màng tới. Nhưng một khi đã mất Thành Quèn, thì Bảo Đà lại cũng không còn chỗ dựa, khác gì cái cây mất gốc, tự dưng cái đồn dựng làm lá chắn, lại bơ vơ như cái đấu giữa nong. Thạc chủ quan, nghĩ Thành Quèn vững tựa bàn thạch, chỉ cần viên phó tướng cũng giữ được. Dù Thạc có sức học hơn người, nhưng không  học được chữ “Ngờ”…

Thành Quèn thất thủ, quân Cờ Lau tập trung binh lực, quay sang công phá đồn Bảo Đà, khiến Thạc tối tăm mặt mũi, vội bỏ đồn, chạy đi thu nhặt quân lính bảy mươi hai hành cung trại ấp và đám tàn binh, kéo về chiếm lại Thành Quèn.

Bộ Lĩnh tập trung binh lực tấn công đồn Bảo Đà, quyết bắt Thạc để tế cờ. Thế là chỉ để lại một toán quân nhỏ trông giữ, Thành Quèn khác gì bỏ trống. Bởi thế, bọn Thạc chiếm lại như trở bàn tay và quyết tử thủ. Bọn Cờ Lau không đánh vào được nữa, khiêu chiến mấy, quân Thạc cũng không ra.

Bộ Lĩnh tức giận, cho quân lại bủa vây Thành Quèn, chặn đường tiếp lương từ các trại ấp. Hai bên giằng co, dền dứ mãi mà không phân định ai thắng ai. Tuy không lấy lại được Thành Quèn, nhưng quân Cờ Lau đã làm cho quân Đỗ Động Giang mấy phen thất điên bát đảo, trả được mối thù Quán Xanh, Đống Thịt, lại làm cho quan quân, dân chúng của Thạc mất Tết Nguyên đán Mậu Thìn (968).

Một hôm, Thạc bảo:

– Hôm qua, vừa hạ cây nêu(11), hết Tết rồi. Ta kíp nống ra Hoàng Xá(12) phá vây.

Quân Đỗ Động Giang bí mật lẻn ra ngoài thành, toan dụng kế “Kim thiền thoát xác”,  chuyển sang “Song trùng độc chiến”. Ấy là, khi vừa chiếm được Hoàng Xá, đang định hợp binh để trong đánh ra, ngoài đánh vào, thì thực chẳng may, Thạc bị trúng ngay một mũi tên cực độc, ngã lăn xuống ngựa. Quân Đỗ Động Giang vội xúm vào cứu chủ tướng, định mở đường máu, đưa Thạc vào thành cho yên. Nhưng sức Thạc suy sụp rất nhanh. Bộ tướng vội cởi bao thanh liễu diệp kiếm quấn quanh bụng Thạc ra. Thạc nhìn theo, nghẹn ngào rơi lệ. Một tên lính tò mò rút thanh liễu diệp kiếm ra xem, thấy mỏng như lá liễu, bèn huơ lên, nghe tiếng gió vù vù, lại khỏa một vòng cho thỏa. Chẳng may, lưỡi kiếm liệng vào mặt tên đứng cạnh, xẻo mất một miếng má, khiến nó kêu thét lên vì đau đớn, ôm miếng thịt thề lễ trên mặt, ngã gục xuống. Sự việc bất ngờ, khiến cả bọn đờ ra. Tên lính kia hoàn hồn, vội vứt kiếm bỏ chạy. Viên tướng bực mình, nhặt thanh liễu diệp kiếm chạy theo ba bước, vung tay chém mạnh một nhát, nhưng lưỡi

kiếm lại quấn vào ngay cổ của nó, khiến đầu đứt lìa, rơi bịch xuống đất, thì thân hình mới đổ ngã theo. Bọn chúng sợ hãi, toát cả mồ hôi hột. Thạc gượng sức, nói đứt đoạn:

– Không phải ai cũng khiển được liễu diệp kiếm đâu! Chết đấy! Chôn cả đi!

Bọn chúng sợ hãi, nghe lệnh Thạc, tức thì chôn ngay thanh liễu diệp kiếm, cho khuất mắt, kẻo vạ lây. Thạc lượng sức mình không thể đánh nổi bọn Cờ Lau, bèn bảo thuộc hạ liều chết phá vây, chạy về cố quốc. Nhưng đến Sài Sơn(13) thì thăng. Tính ra, Đỗ Cảnh Thạc thọ năm mươi bảy tuổi trời.

Hay tin Thạc mất, dân chúng khắp vùng ai nấy đều thương tiếc, bảo nhau lập đền thờ. Đời sau, suy tôn Thạc làm Độc Nhĩ Đại Vương Đẳng Thần. Dù là người Bắc quốc, nhưng Thạc đã có công thờ các vua Tĩnh Hải Quân, từ Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, đến Tiên Vương Ngô Quyền, Hậu Ngô Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn và Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập; rồi xây Thành Quèn, dựng đồn Bảo Đà, lập bảy mươi hai hành cung, trại ấp… Công đức của Thạc dày khắp. Người đời sau, nhớ công lao của Thạc, làm thơ khắc dấu các di tích liên quan, còn lưu truyền mãi:

Chợ tư có đấu đong người

Có chùa Cảnh Thạc, có chòi cầm canh…”

 

     Chương mười một

    Cất quân bình Tam Đái

 1.

Năm Bính Dần (906), khi Nguyễn Khoan chào đời, Nguyễn Nê bảo vợ:

– Trộm vía, thằng này mai sau có phúc tỏ mặt anh tài với thiên hạ, mà khởi nghiệp nhằm năm Ngọ thì lành mà phát. Bằng không, lại nôn nóng, khởi sự trước là khốn.

– Thì ông phải kèm cặp dạy bảo cho con nên người.

– Chỉ sợ, ta không sống được đến ngày đó mà thôi.

Nhân bảo như thần bảo, khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, khiến thần dân không phục, khắp nơi cát cứ. Sợ mất thời cơ và đất đai, nên Nguyễn Khoan cũng vội vã khởi sự Tam Đái, vào năm Ất Tỵ (945), nên lận đận.

Quân Cờ Lau sau khi phá Thành Quèn, diệt Đỗ Cảnh Thạc, bèn cất quân bình Tam Đái.

Bộ Lĩnh bảo:

– Ta đánh thằng út, mà hai thằng anh bó tay ngồi nhìn, thì đủ biết lực chúng mỏng, tính chúng hèn đến mức nào rồi.

Bặc thấy Bộ Lĩnh có vẻ chủ quan khinh địch, bèn nói:

– Thằng Khoan được lòng dân, địa thế lại hiểm trở, nên khiến cho bọn Kiều Công Hãn, Ngô Xương Văn đều gặp khốn. Nay chủ tướng phải cẩn trọng mới được.

Lưu Cơ hiến kế:

– Quả là việc quân không thể khinh suất. Bây giờ, hẳn nó sợ co vòi lại rồi, không dám ho he như hồi đánh nhau với Tam Giang, Cổ Loa nữa đâu. Chủ tướng cứ cất quân vây chặt, việc tự nhiên thành.

Bộ Lĩnh theo kế ấy, điều Phạm Bạch Hổ dẫn quân thủy từ Tây Phù Liệt, ngược sông Hồng, qua Cà Lồ tiến lên. Lại cho bọn Đinh Điền, Lê Hoàn vòng mũi vu hồi từ Đầm Vạc, theo sông Phan đánh xuống. Còn bản thân mình, Bộ Lĩnh thống suất quân bản bộ qua Cổ Loa tiến vào.

Nguyễn Khoan tuy đã bắn được Ngô Xương Văn và đánh bật được Kiều Công Hãn; nhưng vừa rồi, thấy Nguyễn Siêu và Đỗ Cảnh Thạc, sức mạnh như hai con hổ mà còn bị thua quân Cờ Lau, thì mình là cái thá gì? Khoan nghĩ vậy, tự nhiên cảm thấy hoang mang. Bọn Cờ Lau cứ đánh theo kiểu cuốn chiếu thế này, xem chừng chúng định làm cỏ cả xứ Tĩnh Hải Quân không chừng? Nhưng mà, cái trò Bạch ốc phát vương- Dân khố rách lên ngôi, ắt cũng chẳng bền được đâu.

Cái thằng mục đồng này cũng lạ, cứ tưởng nó phao tin được Ngọc khuê, với lại Rồng cõng để ra oai, chứ ai ngờ nó cũng toan nuốt thiên hạ. Đấy, cứ ngẫm mà xem, tay không gạ gẫm Trần Lãm thuổng Bố Hải Khẩu, rồi lại thu phục Phạm Bạch Hổ chiếm Đằng Châu, lấy mẹ Ngô Nhật Khánh mà phỗng cả Đường Lâm, lấy Phong Châu hãm Kiều Công Hãn vào chỗ chết, cướp Hồi Hồ làm cho Kiều Công Thuận trận vong, đẩy Nguyễn Siêu xuống sông mà chiếm Tây Phù Liệt, hại chết Đỗ Cảnh Thạc tóm gọn cả vùng Đỗ Động Giang. Bây giờ, chỉ ta với Thủ Tiệp anh em môi hở răng lạnh mà thôi. Còn bọn Lã Đường, Lý Khuê, Ngô Xương Xí, vị chi là năm sứ quân cả thảy, nhưng khác nào trứng để đầu gậy, không biết nó lấy lúc nào. Liệu năm sứ quân có hợp sức mà đánh lại nó không. Năm anh em phải gắn kết như bó đũa, nó mới không bẻ được. Nhưng hỡi ôi, đũa nọ lại chọc đũa kia, toàn bọn tiểu nhân cả, thì làm thế nào cho đặng? Nhưng chả nhẽ lại giơ tay hàng thằng mục đồng khố rách áo ôm này, thì còn ra thể thống gì nữa? Chả gì, ta cũng đường đường là cháu Nguyễn Hãng, con Nguyễn Nê lừng lẫy thiên hạ.

Nghĩ vậy, Khoan ráo riết đốc thúc quân sĩ phòng thủ.

Quân Cờ Lau tấn công tứ phía, nhưng bọn Tam Đái không nao núng.

Bất chợt, quân Cờ Lau sử dụng máng ném lửa, quăng vào thành những quả cầu lửa bằng nhựa thông, đốt cháy lũy tre vòng ngoài và nhà cửa, doanh trại trong thành, khiến quân Tam Đái hoảng loạn một hồi. Nhưng khi quân Cờ Lau xông vào, lập tức bị đánh bật trở ra. Giàn phóng lao và súng bắn đá cũng không làm nên trò trồng gì. Nên quân Cờ Lau đành phải vây hãm, chờ thời.

Bộ Lĩnh nghĩ, nếu cứ theo kế của Lưu Cơ mà vây hãm mãi, thì việc cấp lương thảo sẽ khó chu toàn. Mà bọn Siêu Loại, Tiên Du, Tế Giang, Bình Kiều nổi loạn thì rách việc. Chi bằng, ta bất ngờ đánh thốc một trận, có khi lại thắng to. Thế là Bộ Lĩnh hô quân đốc tướng nhất tề tiến công. Không ngờ quân Tam Đái vỡ ngay. Thì ra, trong lòng chúng đã rạn nứt từ lâu rồi. Quân Tam Đái thua to, hai viên tướng cùng với hai người vợ của Khoan phải tự sát ở Ao Nâu, vì sợ sa vào tay mục đồng. Quân lính đóng ở Gia Loan, Tề Lỗ đều bị tử trận ráo cả. Thấy vậy, Khoan bèn đóng giả thường dân, lợi dụng ban đêm, lẻn ra khỏi thành Gia Loan.

2.

Khoan tính, tình cảnh này mà vác mặt sang nhờ thằng Tiệp thì cũng nhục. Mai ngày, bọn Cờ Lau đánh Tiên Du thì biết chạy đi đâu? Còn bọn Khuê, Đường, Xí cũng khó qua khỏi Đinh Mão (967), quá lắm sang đầu Mậu Thìn (968) là cùng. Vậy nên, mình cũng chẳng đến Siêu Loại, Tế Giang, Bình Kiều mà tá túc làm gì nữa. À mà, lúc cha còn sống, đã dặn đi dặn lại, tuổi Dần thì chớ làm việc lớn trước năm Ngọ, thế mà lúc nước sôi lửa bỏng năm Tỵ ấy, mình quên tiệt mất. Hiềm vì không nhanh tay, các sứ quân khác nổi lên chiếm đất, thì còn đâu đến phần mình cát cứ. Miếng ngon ai để đến trưa? Bây giờ, hối thì đã muộn. Hay là về cố quốc, tâu vua xin cất quân rửa hận. Quân Hán tràn sang, thế nào các sứ quân kia cũng nổi dậy làm nội ứng, thì bọn mục đồng chạy đằng trời. Nhưng nghĩ đi cũng phải nghĩ lại. Khi xưa, cha ta mang bảy nghìn quân sang để ép mỗi việc triều cống còn chẳng xong. Nay ta còn mặt mũi nào nhìn thấy liệt tổ liệt tông nữa mà về. Ai còn tin cha con, anh em ta nữa?

Nghĩ vậy, Khoan nhằm đỉnh núi cao lẩn trong mây trắng mà đi. Khoan cứ đi mãi, đi mãi, bước chân đưa tới lưng chừng núi, bỗng thấy một ngôi cổ kính chùa hiện ra…

Nhà văn Vũ Xuân Tửu

 Chương mười hai

 Quét sạch sứ quân Tiệp, Đường, Khuê

 1.

Nguyễn Thủ Tiệp sinh năm Mậu Thìn (908). Lúc mẹ sinh, mùi thơm tỏa ra đầy nhà, hào quang rực rỡ, khiến ai nấy đều mừng vui. Bảy tuổi, Tiệp đã đi học, được ngợi khen tinh thông âm luật, binh thư, cung thỉ, tam lược, lục thao… Năm Ất Tỵ (945), cả ba anh em: Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu cùng chiếm thiên hạ, mỗi người hùng cứ một phương.

Tiệp cát cứ vùng Tiên Du, lập trang Nguyễn Xá, khoan thư sức dân, nên chẳng bao lâu dân giàu xứ mạnh. Tiệp lập hành cung tọa càn, hướng tốn, phía trước có dãy núi Tiền Mồ, Hiên Vân, Long Khán, lại được sông Thiên Đức bao bọc. Tiên Du quân mạnh, dân đông, lương thảo dồi dào, thế vững như bàn thạch.

Sau khi chiếm được châu Vũ Ninh, sáp nhập cả vào Tiên Du, xưng là Vũ Ninh Vương. Thấy em út và anh cả bị quân Cờ Lau thôn tính, Tiệp vội liên kết với Lã Đường ở Tế Giang và Lý Khuê ở Siêu Loại để cùng nhau chống đỡ. Tiệp lại giao quyền bính điều binh khiển tướng cho Đại tướng Nguyễn Quốc Khanh.

Sau khi quân Cờ Lau diệt thành Tam Đái, chỉ để lại Điền coi giữ cả Tam Đái lẫn Phong Châu, còn Bộ Lĩnh cùng Liễn theo đường sông Hồng, Thiên Đức đánh Tiên Du và Siêu Loại, lại sai Nguyễn Bặc xuất quân từ Thanh Oai, Cổ Loa đánh lên.

Bộ Lĩnh cầm quân đánh thẳng vào Tiên Du. Đinh Liễn chặn đường tiếp ứng của Lý Khuê. Hai bố con, trong đánh thành, ngoài chặn viện, lại được hổ tướng Nguyễn Bặc phối hợp tấn công như vũ bão, khiến bọn Tiệp, Khanh tối tăm mặt mũi, chống đỡ không xuể, chẳng bao lâu thành vỡ quân tan. Tiệp phải đóng giả làm thầy lang, vai đeo bị thuốc, ngụy trang hành tung, chạy trốn. Nhưng khi Tiệp đến bến đò No, thì bị quân Cờ Lau phát hiện, bắt sống, dẫn giải về cho Bộ Lĩnh để lĩnh thưởng.

Bặc bàn:

– Ba anh em nhà nó tác oai tác quái, khiến quân ta khó nhọc. Ta tuy diệt được ba thành của anh em chúng, nhưng chỉ bắt được mỗi thằng này. Còn thằng út chết trôi sông, thằng cả bặt vô âm tín.

Bộ Lĩnh bảo:

– Chả nhẽ, tha!

Liễn bật dậy, vội nói:

– Thưa phụ thân, phải chém để thị uy mới được!

Bặc cũng hùa theo Liễn:

– Cậu cả Liễn nói phải, chém! Quan quân vất vả bấy lâu, nay mới bắt được tướng giặc để tế cờ.

Bộ Lĩnh nghe vậy dõng dạc hạ lệnh:

– Chém!

Quân Cờ Lau nghe tin chém tướng giặc, lấy làm hể hả vô cùng, thế là có món tế cờ, trả thù cho vong hồn bao tướng sĩ trận vong bấy lâu nay.

Dân chúng được tin ấy thì rụng rời, thì thào truyền tai nhau:

– Vua bị xử trảm!

Cái tin xử trảm Vũ Ninh Vương lan truyền nhanh như tiếng sấm nổ giữa thinh không vậy, khiến cả xứ nhộn nhạo. Lưu Cơ thấy bất ổn, vội tâu với Bộ Lĩnh:

– Dân chúng bày tỏ lòng thương tiếc thằng giặc này, nếu không chém ngay để thị uy, thì e động loạn nhãn tiền.

Tiệp bị dẫn ra pháp trường. Tuy cổ đeo gông, tay trói, chân xích, nhưng Tiệp vẫn tỏ ra oai phong lẫm liệt. Bộ Lĩnh đứng trên đài cao, dõng dạc kể tội Tiệp:

– Ta vâng mệnh triều đình, trừ giặc loạn, xóa bỏ cát cứ, thu phục giang sơn Ngô Tiên Vương để lại cho Hậu Ngô. Cớ sao anh em nhà ngươi cố sống cố chết chống lại. Vậy là trái lòng người, phản đạo giời.

Tiệp cũng cao giọng mắng lại:

– Mi là thằng mục đồng, lừa đồng hương Trần Minh Công của ta mà tranh hơn thiên hạ, chứ đâu phải phò vua giúp nước. Mi hại chết anh cả và em út ta, cùng bao sứ quân khác nữa. Tội ấy, có ngày giời hỏi đến bố con mi đó.

Các tướng Bặc, Liễn, Cơ nghe Tiệp nói vậy thì giận lắm, đồng thanh hô to:

– Xin chủ tướng xuống lệnh trừ phản tặc!

Bộ Lĩnh thét quân đao phủ lôi Tiệp ra chém. Chúng đạp vào khuỷu chân cho Tiệp phải quỳ xuống. Nhưng Tiệp trơ như đá, vững như đồng, vẫn đứng nhơn nhơn tự đắc. Bộ Lĩnh thấy Tiệp như trêu ngươi, tức khí quát to:

– Chém!

Tên đao phủ vung lưỡi gươm sáng lóa lên, lia ngang qua cổ Tiệp một phát. Tức thì đầu đứt lìa, rơi bộp xuống gông, rồi lăn bịch xuống đất. Từ cổ Tiệp, máu phun lên trời, đỏ như vòi rồng trên sông lũ. Hồi lâu, thân Tiệp mới đổ xuống. Bỗng trên trời, nổ một tiếng sấm kinh thiên động địa. Hai bố con Bộ Lĩnh xây xẩm mặt mày. Các tướng vội xúm lại đỡ.

Nguyễn Thủ Tiệp chết, dân làng Ném Đoài(14) lập đền thờ. Làng Phúc Nghiêm tôn Tiệp làm thành hoàng, bốn mùa thờ cúng. Về sau, Bộ Lĩnh cũng ban tặng cho Tiệp là Hãnh Liệt Đại Vương.

2.

Lý Khuê xưng là Lãng Khuê Công, thường gọi Lý Lãng Công, lập hành cung ở Dương Đanh, thuộc hương Thổ Lỗi, vùng Siêu Loại(15); phía bắc cách sông Hồng chừng hai mươi dặm, phía tây cách sông Thiên Đức chừng hai dặm, trước mặt có đầm sen, nối liền ba thôn Đình, Đú, Đanh.

Các đạo quân Cờ Lau từ sông Hồng, Thiên Đức, Tiên Du, La Thành cùng tấn công, vây chặt Lý Khuê ở Dương Đanh. Bộ Lĩnh đóng quân ở làng Đại Từ, bảo Lưu Cơ:

– Khi xưa, ta theo phụ thân vào châu Hoan, có nghe thầy học nói rằng, ở chùa Minh Châu vào năm Bính Thân (936), trưởng lão Đinh La Quý An trồng cây gạo, có đọc bài kệ: “Đầu rồng hiện ở Đại Sơn, đuôi rồng giấu trong chùa Minh Châu”. Khi đặt chân đến đây, nhớ lại tích cũ, ta nghi, chính là chuyện xứ này.

– Thần cũng ngờ Lý Khuê khởi đầu nhà Lý nào đó. – Cơ ngần ngừ hồi lâu, rồi nói, – chi bằng khử thằng này, trừ hậu họa.

Nghe vậy, Bộ Lĩnh xuống lệnh, bất ngờ tấn công đánh ào một trận, chém giết không nương tay. Quân Siêu Loại không kịp trở tay, tan vỡ cả. Lý Khuê chết tại hành cung, nhằm ngày ba mươi tháng tư năm Mậu Thìn (968). Những người đàn ông họ Lý, dù già lão, hay con đỏ, cũng đều bị tróc nã, giết sạch cả.

Nhưng bọn Bộ Lĩnh đâu có ngờ được “đuôi rồng Lý Khuê” sinh ra hậu duệ Lý Công Uẩn”. Người đời đồn rằng, Uẩn là cháu nội của Khuê. Tạo hóa xoay vần mới kỳ diệu làm sao!

3.

Lã Đường còn gọi Lữ Đường cũng thế.

Lã Đường tự xưng Lã Tá Công, cát cứ vùng Phụng Công- Tế Giang, ven sông Hồng. Thời hưng thịnh, Đường từng cất quân đánh Đỗ Cảnh Thạc ở Thành Quèn, nhưng thua to, phải bỏ quân chết đói trong núi, chạy tháo thân.

Sau khi liên tiếp đánh thắng các sứ quân, từ Lã Xử Bình ở Cổ Loa vào năm Bính Dần (966), cho tới Lý Khuê ở Siêu Loại năm Mậu Thìn (968), Đinh Bộ Lĩnh được chư tướng coi như vua, tôn làm Vạn Thắng Vương. Tại Siêu Loại, Vạn Thắng Vương giao ba ngàn quân cho Đinh Liễn, Nguyễn Bặc đi diệt nốt Lã Đường.

Bọn Bặc, Liễn cho quân thủy đánh ngả sông Hồng vào, quân bộ từ Siêu Loại đánh sang, kẹp quân Tế Giang ở giữa trận. Đường biết thế cùng, nhưng vẫn chia nhỏ lực lượng ra, vừa  chống đỡ, vừa quấy rối, khiến quân Cờ Lau thiệt hại không phải là ít. Bặc thấy vậy, dâng kế:

– Bọn này đánh kiểu cù nhầy, cứ cò cưa thế này, tuy không thể thắng nổi ta, nhưng cũng làm ta cũng hao binh tổn tướng. Chi bằng, trong thì vây chặt Đường ở Tế Giang, ngoài thì chặn viện cắt lương thảo, ắt chúng lại đói mà chết.

Vạn Thắng Vương y kế ấy. Quả nhiên, chỉ sau bảy ngày, quân Lã Đường nháo nhác cả lên vì người thiếu gạo, ngựa hết cỏ. Bọn Tế Giang chợt nhớ chuyện đám tàn quân đánh Thành Quèn năm xưa bị chết đói trong núi, lại càng hoang mang giao động. Bọn Liễn, Bặc bấy giờ mới thừa cơ đánh ào vào. Quân Tế Giang thất trận, tan tác. Tướng Cờ Lau là Chu Công Mẫn, người làng Đan Nhiễm, cũng ở vùng Tế Giang, chém Lã Đường đứt cổ. Nhưng Đường vẫn cố nay là xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thủ đô Hà Nội.

chạy đến một quán nước, hổn hển hỏi bà lão bán hàng:

– Bà ơi, đầu bị chém thế này, liệu có sống được không?

Bà lão bán hàng sợ hãi, khẽ nhấc cái đầu lên bảo:

– Thế này thì làm sao sống được, họa có là người giời!

Nghe vậy, Đường tuyệt vọng, ngã lăn ra chết. Mẫn đuổi kịp tới nơi, nhặt đầu về báo công với Vạn Thắng Vương.

Lã Đường chết, dân Tế Giang thương cảm, lập đền thờ ở bến sông Hồng, gọi là Đình Bến(16). Tránh tên húy Lã Đường, dân trong vùng gọi chệch chữ “đường” thành “đàng”. Lại do Mẫn là người làng Đan Nhiễm đã chém Đường, nên dân Phụng Công truyền đời hiềm khích với dân Đan Nhiễm.

Hằng năm, dân Tế Giang mổ lợn cúng giỗ Lã Tá Công, nhưng đều phải bỏ thủ, để tưởng nhớ sự tích đau lòng năm Mậu Thìn (968).

 

 Chương mười ba

Trận cuối, Vạn Thắng Vương đánh dẹp Bình Kiều

 1.

Ngô Xương Xí phải bỏ Cổ Loa, lui sâu phương nam, đóng thành tận Bình Kiểu, phần lánh nạn, phần đợi thời cơ hòng khôi phục nhà Ngô.

Thành Bình Kiều(17) dựng giữa đồng, phía đông có núi Noãn Sơn chín ngọn chắn gió biển. Xa xa mạn tây nam là núi Nưa sừng sững. Suối Đồng Chiêm chảy ngược từ đông sang tây bắc. Ngay buổi đầu, Xí quan sát địa hình, thấy núi chắn đông, suối chảy ngược, cách biển hàng trăm dặm… nên có vẻ không hài lòng. Nhưng viên Thái úy lại bảo là đất hiểm chứ không phải nghịch, lợi phòng thủ, tiện tấn công. Về sau, khi Bộ Lĩnh mời Xí về kinh đô Cổ Loa, thì viên Thái úy lại chém mất sứ giả. Thế là Xí rơi vào thế tuyệt lộ, vừa hiểm, vừa nghịch, không có đường ra, chặn mất lối về…

Nay trong đám quan, quân, dân chúng lại rộ lên tin đồn, Đinh Hoàn được tôn vinh làm Đại Thắng Vương đã thôn tính hết mười một sứ quân rồi, chỉ còn Bình Kiều thì khác gì trứng để đầu gậy, không biết còn, mất lúc nào. Thế giặc mạnh như chẻ tre, mà ta thì đơn thương độc mã thế vầy. Ta chỉ còn một lợi điểm là chính danh con cháu Ngô Tiên Vương mà thôi. Mười hai sứ quân kia, từ Trần Lãm đến Đinh Hoàn đều là giặc hết. Nhưng thằng trẻ trâu thế mà khôn ngoan, mượn tiếng phò nhà Ngô, để dẹp loạn, thôn tính bằng hết bọn kia. Bởi thế, bấy lâu nay nó phải trừ ta ra không những không dám gây hấn, mà lại còn cầu cạnh ta để được danh chính ngôn thuận. Dù nó có mạnh ngần nào đi chăng nữa, thì ta vẫn có cơ về Cổ Loa đường hoàng, nhưng thằng Thái úy khốn kiếp đã vuốt mặt không nể mũi, làm hỏng việc đại sự mất rồi. Bây giờ, tiến hay thoái đều gặp thế lưỡng nan…

Đứng dưới bệ cột cờ, Xí ngắm nhìn bốn phương tám hướng mà lòng buồn khôn tả. Cứ như anh Tỷ lại hóa hay, bỏ hẳn cõi trần gian thế tục, vào chùa niệm Phật tu nhân tích đức. Ta lăn vào chốn trần ai, mà công nghiệp lại cứ lụi dần như cây nến, đĩa dầu. Ta đường đường là Thái tử kế ngôi cha Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, thế mà nay bị xếp vào sứ quân ngang hàng đám giặc cỏ cũng chẳng xong. Nghĩ vậy, Xí ứa nước mắt, vừa tủi hờn, vừa căm giận…

– Xin Thái tử chớ buồn!

Lời nói của viên Thái úy, làm Xí giật mình, vội lấy tay áo chấm khóe mắt, nói lảng:

– Gà chửa lên chuồng, mà muỗi đã như vãi trấu…

Viên Thái úy cười nửa miệng, nói câu đãi buôi:

– Thần đã cho lính đốt đống rấm, ở cả bốn góc thành rồi. Một chốc, muỗi vợi ngay thôi.

– Sớm muộn gì, thì quân Cờ Lau cũng vào Bình Kiều, – Xí hắng giọng nói. – Ta tính sao?

– Thần đã tâu, đây là đất hiểm, đường xa dặm thẳm, quân giặc có tới được cũng hao binh tổn tướng, – Thái úy vội đáp. – Thành trì vững vàng, lòng dân quy tụ, quân sĩ bấy lâu luyện tập tinh thông cả. Chúng vào, ta lấy quân nghỉ ngơi đánh quân mệt nhọc, thì lo gì không thắng? Vả lại, Thái tử có chính danh tôn tộc Ngô vương. Bởi vậy, mấy sứ quân thất thủ đều tìm đường về Bình Kiều cả đấy thôi. Hiềm rằng, họ yểu mệnh.

– Kiều Công Hãn chứ gì? – Xí bùi ngùi nói, – nhưng rồi dọc đường lâm nạn. Nghe nói, cả hai anh em nhà ấy, khi chết đều được mối xông, thiêng đến thế là cùng!

– Ăn nhau là ở như cái lúc sống, chứ chết rồi thì chỉ là cái thây ma mà thôi. May phúc,

còn có da ngựa bọc thây, không thì…

Viên Thái úy nói cùn, chợt thấy Xí nhíu mày, vẻ khó chịu, nên im bặt.

– Thế giặc như thác lũ, thừa thắng…, – Xí bỏ lửng câu nói.

– Cùng lắm thì ta sang Chiêm Thành. – Thái úy nói tưng tửng, – cũng chẳng mấy bước chân.

– Chết nỗi, – Xí ngửa mặt lên trời, nhìn thấy lá cờ đại rũ xuống như cánh chim đại bàng bị nạn, mà lòng đau dạ xót.

– Đấy là nói cùng kỳ lý mà thôi, – viên Thái úy nói câu chữa háy. – Chứ ta vững tựa âu vàng.

Xí nén tiếng thở dài, phẩy ta rảo bước vào hành cung.

2.

Quân Cờ Lau lui về Trường Châu, chỉnh đốn binh mã. Đinh Hoàn hội các tướng tâm phúc, bàn chuyện đánh nốt Bình Kiều.

– Bình Kiều là thành lũy cuối cùng, sứ quân cuối cùng, vạt đất cuối cùng mà ta cần thôn tính cho xong, – Vạn Thắng Vương ung dung nói.

– Hiền đệ nay đường đường là Vạn Thắng Vương, cất quân trăm vạn, nguyên cái chuyện cho binh mã giẫm cũng nát thành, lo gì? – Điền đắc chí nói.

– Quân ta tuy thắng trăm trận, nhưng cũng đã mệt mỏi, thương vong không phải là ít. Đá còn đổ mồ hôi, huống chi người bằng xương bằng thịt. Vả lại, bấy lâu ta vẫn đề cái cái chính danh của Xí. Ta mượn danh ấy để dẹp các sứ quân, thu phục giang sơn. Nay chẳng nhẽ… – Vạn Thắng Vương phân vân.

– Thì nó đã chém sứ giả là tuyên chiến rồi, – Liễn nói, vẻ tức giận.

– Thiển nghĩ, – Lưu Cơ dè dặt lên tiếng, – phải nhờ tướng quân Phạm Bạch Hổ, Ngô Nhật Khánh đi sứ một chuyến mới xong.

– Nó lại vung gươm lên thì sao? – Liễn bỗ bã.

Nghe vậy, Vạn Thắng Vương lừ mắt nhìn con, đầy vẻ nghiêm khắc. Liễn thấy vậy, vội so vai rụt cổ ngồi im.

– Ta phải tính cả đôi nước. – Bặc nói, – một mặt, phái hai tướng đi làm thuyết khách là có lý; mặt khác, phải dụng binh hùng hậu làm áp lực. Vạn bất đắc dĩ mới công thành.

Vạn Thắng Vương cho là phải, theo kế ấy, xuống lệnh:

– Đề phòng chúng rút chạy xuống Chiêm Thành, Đinh Liễn mang năm vạn quân chặn cửa Nam Giới(18). Nguyễn Bặc đem mười vạn quân vây chặt thành Bình Kiều. Ta đóng đại bản doanh ở Cửu Noãn Sơn, thân đem mười vạn tiếp ứng. Đấy là chuyện binh mã vây hãm, làm áp lực. Còn chính sự phải nhờ tài thuyết khách của tướng quân Phạm Phòng Át và Ngô giai tế.

Ngô Nhật Khánh nhìn Phạm Bạch Hổ, có ý dò hỏi và lén đưa tay cứa cứa vào cổ mình. Bạch Hổ trợn mắt nhìn lại, có ý mắng mỏ. Vạn Thắng Vương nhác thấy, bèn hỏi Khánh:

– Giai tế, định sao?

– Thưa phụ vương, – Khánh sợ hãi, nói câu nịnh nọt, biến báo. – Thần xin theo huynh trưởng, vào trấn giữ phương nam. Ví bằng, Xí liều chết phá vây, sẽ bị chém đầu ở cửa bể. Quyết chặn đứng ở Nam Giới, không cho bước chân vào cầu cứu Chiêm Thành, hòng phản vua hại nước…

Vạn Thắng Vương nghe vậy, chiều ý con rể, rồi chọn ngày tốt, xuất binh hành phương nam, nhằm hướng Bình Kiều.

3.

Phạm Bạch Hổ từ khi tự nguyện về hàng Đinh Hoàn, được đối đãi như thượng khách, trong lòng cảm kích vô cùng. Rảnh rỗi, Bạch Hổ lại đi thăm thú phong cảnh quanh vùng, mà không cần Lưu Cơ dẫn đường nữa.

Dưới đầm, từng đàn cò trắng cần mẫn kiếm mồi, lão ngư phủ úp nơm bắt cá. Trên núi, từng bầy hạc khoan thai vươn cánh. Bạch Hổ chọn một phiến đá ngồi hóng mát, nhặt mấy vỏ ốc biển bám trên hốc đá. Có nhẽ, ngày xưa, bể cả dâng lên tận đây, Bạch Hổ thầm nghĩ và định bụng tìm kiếm thêm mấy cái vỏ ốc biển nữa, thì nhác thấy có đôi công đang múa trong thung. Chúng như mê đi trong điệu vũ ái tình. Thảo nào, người ta bảo, bắt công dễ nhất là lúc chúng gục đầu nhảy múa. Có tiếng sáo mục đồng cất lên đâu đó, khiến Bạch Hổ ngỡ mình lạc vào chốn thần tiên… Khi nào hết chuyện binh đao, ta sẽ xin với Bộ Lĩnh, tới đây lập một cái am nhỏ, sống đời ẩn dật thanh nhàn, chứ không vướng thói ganh đua, cung kiếm. Bất chợt, Bạch Hổ nhớ đến Nhật Khánh. Nhật Khánh bị bức hàng, tuy được trọng dụng, nhưng lại tỏ ra bức xúc. Lại nữa, khi Vạn Thắng Vương bàn định kế sách hạ thành Bình Kiều, thì Khánh ngầm phản kháng, khiến Hổ cảm thấy chờn chợn, khó đoán lòng dạ con người này.

Một hôm, Khánh cùng đám tùy tùng từ trên núi đi săn về, thấy Hổ cùng mấy tên lính hầu đang đứng ngắm cảnh bên Ghềnh Tháp, Khánh vội xuống ngựa thi lễ, rồi đuổi đám lính đi trước, để hai tướng trò chuyện. Con ngựa ô lộp cộp gõ móng theo sau.

– Chuẩn bị xuất chinh, mà tướng quân còn đi săn được sao? – Hổ lấy làm lạ, hỏi.

– Vạn Thắng Vương còn đang đi cầu khấn ở động Thiên Tôn, xem ngày giờ xuất binh, nên tiểu tướng đi săn chỉ là để tiêu sầu mà thôi, – Khánh phân bua.

– Ta thấy công chúa Phất Kim với Ngô Lãm Công, à quên, – Hổ vội nói chữa, – với Ngô phò mã, thực là tốt đôi trai tài gái sắc, còn gì phải phiền muộn?

– Hư, – Khánh cười khảy. – Chẳng qua là Vạn Thắng Vương dùng hôn nhân để ràng buộc ta mà thôi. Lấy công chúa làm sợi dây thừng, để xỏ mũi ta đấy chứ!

– Thì cũng tốt chứ sao? – Hổ nói vun vào, – vẹn cả đôi đằng.

– Lão tướng với ta cùng cảnh ngộ, nên ta mới dốc bầu tâm sự. – Khánh đi sát vào Hổ, Hổ né ra bờ sông Sào Khê, – nay mai phải vào thành Bình Kiều thuyết khách, nếu thắng thì  công vào tay Bặc. Nhược bằng bại, Xí lại vung gươm lên, thì cánh ta chung phận với sứ giả năm xưa.

– Đâu đến nỗi thế? – Hổ vẫn từ tốn, – khi xưa, các sứ quân còn ba bè bảy bối, nay thì Bình Kiều thế cùng rồi. Hẳn Ngô Xương Xí cũng thức thời.

– Lão tướng là kẻ thức thời. – Khánh nói, – nhưng Xí là người chính danh. Họ Ngô đâu dễ bó giáo?

Hổ giật mình, thở dài. Khánh lấm lét nhìn quanh. Bọn ngư phủ đang lục tục chèo thuyền về bến Đền. Trẻ chăn dê cũng í ới gọi nhau xuống núi. Tiếng dê kêu vang thung lũng. Khói bếp từ làng Yên Thành đang bay trên những mái lợp bổi, lợp rạ. Con ngựa ô của Khánh thỉnh thoảng lại hí lên man dại, khiến Hổ giật mình thon thót.

– Phò mã nói vậy thì ta cũng biết vậy. – Hổ trầm ngâm nói, – nhưng số nhà Ngô đã tận, chớ quá tham vọng. Tham thì thâm!

– Ta thấy Đằng Châu có công với họ Ngô, lúc hoạn nạn. – Khánh dằn giọng nói, – nên ta để ngỏ cho lão tướng một cửa. Động binh chuyến này, họ mới lòi cái đuôi mượn danh phò Ngô dẹp loạn ra.

– Tướng quân thừa biết câu: “Binh tất yếm trá”, – Hổ dừng bước, nghiêm nét mặt, nhìn Khánh, nói.

– Phải, phải, chí phải… Chuyện dụng binh ắt phải dùng mưu lừa địch. Nhưng phận mình, chẳng qua là “Cử điểu tha nhân tiểu tiện” mà thôi, – Khánh nói chưa hết câu, đã quay lại, nhảy lên lưng ngựa, ra roi.

– Chết nỗi, – nghe câu tục, cầm “chim” cho người đái, Bạch Hổ bàng hoàng thốt lên và sững người nhìn, vó ngựa ô đang tế lên, dáng ngông cuồng. Thì ra, nó manh tâm tạo phản, Hổ nghĩ bụng.

4.

Vạn Thắng Vương Đinh Hoàn ngồi xe tứ mã qua châu Ái, rồi hướng tới Bình Kiều. Đây là lần thứ ba, ta qua châu Ái. Thuở ấu thơ, ta cùng mẹ vào châu Hoan, bôn tẩu theo bước chân cha, khi người đang giữ chân thứ sử. Lần hai, ta được tập ấm Nhiếp thứ sử, Ngự phiên đô đốc, lại qua nơi này. Lúc ấy, ta đã trưởng thành, lấy vợ đầu, sinh con trưởng Đinh Liễn rồi. Và, lần này, ta đi dẹp nốt đám Bình Kiều. Nay mai, Tĩnh Hải Quân về tay ta cả. Ta sẽ lấy thêm mấy cô vợ nữa. Mẹ Liễn làm cả. Mẹ Khánh tuy còn mặn mà, nhưng cũng sắp qua tuổi hồi xuân rồi, chẳng qua, để thu phục thằng con nghịch tử mà phải lấy mẹ nó, cho bớt phần máu xương tướng sĩ mà thôi. Ta đã phải gả Phất Kim, nhưng có vẻ nó vẫn ngọng ngạnh, chưa yên. Nó chẳng qua là họ hàng Ngô vương, chứ có phải thái tử như Xí đâu mà cũng đòi? Rõ là, voi đú chó cũng đú. Phải bảo thằng Liễn canh chừng mới được, kẻo cu cậu thừa cơ lẻn vào Chiêm Thành thì rầy rà to…

Vạn Thắng Vương vào Bình Kiều, đóng đại bản doanh ở núi Di Hoàng(19), dưới chân Cửu Noãn Sơn. Nguyễn Bặc cho quân vây chặt thành lũy. Thấy vậy, viên Thái úy nói với Ngô Xương Xí:

– Quân giặc mới tới, hạ trại chưa xong, ta nên đánh ngay là đúng phép dụng binh.

– Nhưng mà, chúng có mấy chục vạn, lớp lớp vây thành, lại chặn cả cửa Sót, rồi dàn quân dọc biên thùy rồi, – Xí ngán ngẩm nói. – Ta mở cửa thành đánh ra, là nó xộc vào tức thì như thác lũ. Ngươi địch nổi không?

Viên Thái úy cắm mặt, lui ra.

Vạn Thắng Vương đóng ở Di Hoàng, triệu các tướng lại bàn:

– Thời trước, khi Vạn Thắng Vương tới đây, có tên Bình Kiều chưa? – Lưu Cơ hỏi.

– Bình Kiều là cầu bằng, thế thôi. – Đinh Hoàn nói, – lý ra, cầu dài phải cong vành lược, thì không bị gãy, ông còn lạ gì phép dựng cầu? – Vạn Thắng Vương có ý động viên Cơ. – nhưng cầu này, lại bắc thẳng dẵng qua sông Mau Giếng, dân bản thổ gọi cầu Bừng là thế.

– Thế cũng độc đáo, dân chúng ở đâu cũng có người tài giỏi, – Cơ tỏ ra tâm đắc.

Các tướng đứng trên núi, gió ào ào thổi tung tà áo bào. Vạn Thắng Vương, tay trái đặt trên đốc kiếm đeo bên hông, tay phải trỏ xuống thành, nói:

– Nom như thể Thành Quèn.

– Thần đã thị sát, – Bặc tâu. – Quả là thành này cũng vuông như Thành Quèn, bốn góc cũng đắp bốn ụ đất, ngoài là hào, lũy tre. Chân thành rộng mười thước, móng đá và cuội. Tường thành cao năm thước, trổ bốn cửa, như ta đang nhìn thấy kia.

– Sông Mau Giếng không giống như sông Tích bao Thành Quèn nhỉ? – Cơ nghển cổ nhìn xa, nói vóng.

– Mau Giếng phía bắc kia, đổ ra sông Nhơm, rồi chảy vào sông Cầu Quan, mà đến sông Yên thì ra bể Cửa Ghép, – Bặc lại tâu.

– Từ đây ra bể cũng hàng trăm dặm. – Vạn Thắng Vương vẻ am tường, – bởi thế, ta chỉ dùng quân bộ mà thôi. – Đoạn, ngoảnh sang Phạm Bạch Hổ, nói, – ta đã cho dò la, thấy Xí có vẻ núng, nhưng tên Thái úy rất ngông cuồng. Chính nó đã chém sứ giả, hòng tuyệt đường về của Xí. Vậy, phiền lão tướng vào thành gặp Ngô Thái tử, nhưng phải đề phòng thằng giặc ấy.

– Thần đã có cách, xin Vạn Thắng Vương và các tướng chớ lo.

Hổ tháo gươm gửi lại, chắp tay bái biệt Vạn Thắng Vương và các tướng, rồi một mình cưỡi ngựa vào thành.

5.

Nghe quân canh cổng báo, có tướng quân Phạm Bạch Hổ đến yết kiến Ngô Thái tử, viên Thái úy vội can:

– Chúng cho lão này đến thương thuyết, hẳn là để kể lể công lao với Thiên Sách Vương,

mà làm mềm lòng Thái tử đó.

– Ta cũng đoán được phần nào. – Xí nói đầy vẻ tự tin, có phần kẻ cả, – cứ cho vào.

Xí nói thế, nhưng khi Hổ xuất hiện, thì hồn vía phiêu bạt cả. Bởi, không chỉ có cái uy của Hổ, mà cái ân nuôi dưỡng Ngô Xương Ngập lúc nguy nan, khi ba lần Dương Bình Vương vây bắt mà không nổi. Lại còn lo dựng vợ cho Ngập nữa, thế mới có Xí ngày nay. Nghĩ vậy, Xí vẫn cố trấn tĩnh để trò chuyện trong vai Thái tử đường hoàng. Đương khi Xí và Hổ phân ngôi chủ khách, dùng tuần trà, thì bỗng nhiên, viên Thái úy đã bặm trợn cất tiếng hỏi Hổ:

– Ông vào thành một người, một ngựa, lại không mang cung kiếm, thế mà không sợ à?

– Chớ có hỗn xược! – Xí gằn giọng, khẽ quát.

– Không sao, – Hổ đỡ lời, xua tay nói, – ta là người Đằng Châu, đến gặp người Bình Kiều, có chi mà phải sợ?

– Hẳn ông đến chiêu hàng chứ? – viên Thái úy không nể mặt chủ soái của mình, mà vẫn cái giọng ngang ngược, khiêu khích.

– Có chi mà phải chiêu mới hàng, – Hổ bình thản nói. – Cả xứ trời Nam này, từ lâu, ai chẳng nghe Vạn Thắng Vương Đinh Hoàn được Ngọc khuê, Rồng vàng cõng qua sông. Đấy là mệnh thiên tử, chiếu sao Thiên mã.

– Tầm phào, – viên Thái úy chưa để khách nói xong đã chặn họng.

– Ngươi không được vô lễ! – Xí bực, cao giọng quát to.

– Cứ để ông ấy nói cho hả. – Hổ lại can và rành rẽ nói, – hàng chục sứ quân nổi lên tranh ngôi với nhà Ngô. Thế mà chỉ sau vài ba năm đã bị Vạn Thắng Vương dẹp hết, đất nước thái bình. Nay Vạn Thắng Vương cất quân vào Bình Kiều, mong đón Ngô Thái tử hồi cố đô mà thôi.

– Đón vua rước giá, sao lại mang hàng mấy chục vạn quân với giàn phóng giáo, súng bắn đá, máng ném cầu lửa? – viên Thái úy hỏi lại, kiểu chiếu nước cờ bí.

– Bởi lần trước, Vạn Thắng Vương cho sứ giả vào mời, – Hổ quắc mắt nhìn Thái úy, dõng dạc nói, – nhưng chính ông đã chém mất, gây khó cho Thái tử.

– Ta thừa biết, – Thái úy bạnh quai hàm, vẻ tức giận. – Các ngươi dùng kế cờ hoa đặt trước, bác đồng đặt sau đó thôi. Nếu không chiêu hàng được, thì phá thành chứ gì?

– Đâu dám thế với Ngô Thái tử. – Hổ biến báo, – chẳng qua, đón giá là phải long trọng, chu toàn mà thôi.

– Thế, sao lại chặn biên thùy và cửa bể?

– Đó là phép dụng binh mà? – Hổ cười cười, nói phứa đi.

– Không nhiều lời. – Mặt Thái úy đằng đằng sát khí, đứng phắt dậy nói to, – Thái tử, chém quách nó đi, rồi quyết một trận sống mái!

– Không được, – Xí cũng đứng dậy, xua tay. – Lão tướng đây là ân nhân của phụ thân ta và của chính ta nữa, không được vô lễ!

– Biết ngay là kế độc của thằng mục đồng ấy mà! – Thái úy gầm lên.

– Ngươi chớ nói càn! – Xí chỉ mặt Thái úy, quát to.

– Nhược bằng Thái tử không giết nó, thì giữ làm con tin. Bọn trẻ trâu ắt không dám đánh thành, – Thái úy vẫn cố đấm ăn xôi.

– Ta hẹn với Vạn Thắng Vương rồi, nội nhật hôm nay, Ngô Thái tử không hồi cung, thì coi như ta đã chết. – Hổ dọa viên Thái úy, rồi quay sang Xí, – ý Thái tử thế nào?

Trăm con mắt đều đổ dồn vào Xí. Xí tránh nhìn viên Thái úy, mà hướng vào Hổ, vẻ mặt hiền lành, lộ ý cầu hòa.

– Thế này, quả là số nhà Ngô tận thật rồi!

Viên Thái úy bỗng gào lên như vậy, rồi nhanh như chớp cướp thanh kiếm của quân hộ vệ, đâm mạnh về phía Hổ. Hổ tinh mắt tránh được. Hắn lại điên cuồng đâm Xí, nhưng bọn hộ vệ chặn kịp. Xí phẩy tay, cả đám cùng xông vào đâm, khiến quanh người hắn tua tủa những gươm là gươm, nom như con nhím khổng lồ.

6.

Ngô sứ quân cho mở cửa thành Bình Kiều, thân ra đón Vạn Thắng Vương và các tướng. Thi lễ xong. Vạn Thắng Vương cung kính nói:

– Đinh Hoàn tôi xuất thân từ trẻ chăn trâu, nhưng khi thấy cơ đồ nhà Ngô nghiêng ngả, thì không nỡ ngồi nhìn, mà cùng anh em bầu bạn đứng lên dẹp loạn. Trong lòng hằng mong đón Thái tử hồi kinh, kế nghiệp Ngô Vương. Nhưng ngặt vì tài hèn sức kém, mãi hôm nay mới tới được. Dám mong Thái tử lượng thứ vì sự chậm chễ.

Nghe vậy, Xí ứa nước mắt, nói:

– Ta tuy là người dòng dõi Ngô Vương, nhưng chẳng giữ nổi kinh đô, khiến Vạn Thắng Vương phải khó nhọc đánh đông dẹp bắc. Ta chẳng có chút công lao gì, sao dám nhận ngôi cao. Vả lại, thuở hàn vi, Vạn Thắng Vương từng được Ngọc khê, Rồng vàng phù trợ, ứng sao Thiên mã là mệnh Thiên tử. Vậy, ta nhận xằng, thiên hạ cười chê, há chẳng thẹn lắm ư?

Nghe vậy, quan quân cười ồ cả lên. Lưu Cơ thấy Vạn Thắng Vương cứ đùn đẩy mãi, sợ sinh chuyện lôi thôi, bèn nhanh trí hô to:

– Vạn Thắng Vương vạn tuế!

Tức thì, quan quân hô theo rầm cả thành. Thế là Đinh Hoàn không những thắng trận, mà còn đương nhiên được ngôi bá vương.

Sau khi phủ dụ dân chúng, cắt quân canh thành, tha lính, miễn thuế cho dân Bình Kiều, Vạn Thắng Vương ca khúc khải hoàn, cùng ba quân tướng sĩ trở về Trường Châu.

VŨ XUÂN TỬU

(Còn tiếp)

__________________

(1) còn gọi Thành Quyền, nay thuộc thôn Cổ Hiền, xã Tuyết Nghĩa, huyện Quốc Oai, thủ đô Hà Nội.

(2) nay thuộc xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, thủ đô Hà Nội

(3) ngày 30 tháng chạp năm Bính Dần (966).

(4) nay thuộc xã Vân Du, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

(5) nay thuộc thôn Cổ Hiền, xã Tuyết Nghĩa, huyện Quốc Oai, thủ đô Hà Nội.

(6) Lý Bạch (701-762), nhà thơ danh tiếng nhất thời nhà Đường, được suy tôn là Tiên Thi.

(7) Đỗ Phủ (712-770), nhà thơ nổi tiếng thời nhà Đường, được suy tôn là Thi Thánh.

(8), nay thuộc huyện Quốc Oai, thủ đô Hà Nội.

(9) nay thuộc huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

(10) nay thuộc huyện Chương Mỹ, thủ đô Hà Nội.

(11) ngày mùng 7 tháng giêng năm Mậu Thìn.

(12) nay thuộc huyện Quốc Oai, thủ đô Hà Nội.

(13) nay thuộc huyện Quốc Oai, thủ đô Hà Nội.

(14) nay là thôn Đoài, xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

(15) về sau đổi là xã Đức Thắng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh;

(16) nay thuộc xã Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

(17) nay thuộc xã Hợp Lý, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

(18) nay là cửa Sót thuộc tỉnh Hà Tĩnh.

(19) nay thuộc xã Hợp Lý, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

 

XEM THÊM:

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 1

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 2

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 3

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 4

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 5

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 6

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 7

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *