Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 7

14

VHSG- Triệu Tá Dùn len lén đẩy cửa bước vào nhà.

Nhà họ Triệu làm theo kiểu nhà truyền thống của người Dao đỏ. Nhà nửa sàn nửa đất, lưng dựa vào núi, mặt trông ra suối, song vững chãi và bề thế hơn bất cứ ngôi nhà nào trong vùng. Nhà có hai cửa. Cửa chính đi vào đầu đốc phía Tây, cửa phụ đi ra đầu đốc phía Đông. Từ đầu hồi này sang đầu hồi kia dài hơn bẩy chục bước chân. Cột, kèo, xà dọc, xà ngang làm bằng lõi gỗ lý, mái lợp bằng gỗ pơ mu, vách lịa ván gỗ dổi, toàn loại gỗ mối mọt mài mòn răng ngồi khóc, mưa nắng bám ngoài.

Ngôi nhà đến đời Dùn là đời thứ bẩy, tức tuổi của nó đã hơn gấp ba lần tuổi Dùn. Già, nhưng càng già càng khỏe. Cột, kèo, xà dọc, xà ngang, ván vách ăn hơi người, khói bếp, ăn ngày, ăn đêm đen bóng như sừng. Trên mái gỗ rêu bò lan từ tấm lợp này sang tấm lợp khác. Rêu, mái giữ mùn, giữ đất. Những hạt cỏ, hạt cây gió đưa, chim, chuột thải  như dương sỉ, tàu bay, cỏ, lau lách mọc um tùm khiến ngôi nhà tùm hum như quả núi. Xuyên dọc ngôi nhà, nửa phía ngoài là sàn gỗ, dùng để tiếp khách, dạy học của cụ giáo, ăn uống của những người đàn ông; nửa phía trong là nền đất, gồm ba gian giữa đặt bàn thờ, các gian còn lại chia ra làm buồng, làm bếp; một dãy cửa sổ dọc theo sàn gỗ nhìn ra suối, ra ruộng. Gian nhà đầu hồi phía Đông ngày đêm đón nước từ năm cái lần như năm con rồng rút nước từ ruột núi chảy vào năm máng gỗ như năm con thuyền mắc cạn. Nhà kín, đóng cửa, ngoài trời mưa rào trong nhà chỉ nghe tiếng rì rầm như trò chuyện. Mùa hạ, bên ngoài trời nắng như đổ lửa, trong nhà mát lịm như hang đá. Mùa đông, ngoài trời phủ đầy băng tuyết, trong nhà bảy cái bếp nổi lửa là cả ngôi nhà thành cái lò sưởi. Nhà lâu đời, đông người đi lại nên nền đất nhẵn như mài, mỗi góc cột để một chồng ghế rơm cao ngang mặt người. Mấy cái bếp lửa giữa nhà chỉ dùng để đun nước tiếp khách. Lửa bếp thay đèn, thay mặt trời, thay lòng người, nhìn nhau qua ngọn lửa con người đỡ mưu mô hơn, cởi mở hơn, gần nhau hơn. Sự bề thế, cổ kính của ngôi nhà đã góp phần làm nên danh, nên giá nhà họ Triệu.

Nhà văn Đoàn Hữu Nam

Dùn giật mình. Bên cái bếp đang tàn ông nội anh ngồi bó gối. Trong chập chờn sáng tối cái bóng to lớn lặng phắc của ông như tảng đá mồ côi, như cây cổ thụ đơn lẻ trước cơn giông.

Dùn nep nép vào bếp tìm cái ống thổi.

Củi nỏ, than hồng được gió, ngọn lửa bùng lên. Khuôn mặt quắc thước, cặp mắt nghiêm khắc của ông nội hiện ra rõ ràng làm cho Dùn chờn chợn.

Nhìn thấy bầu rượu bên cạnh ông nội, Dùn lặng lẽ rót đầy một cái bát, kính cẩn nâng đưa ông.

Cụ giáo đỡ bát rượu, đặt xuống nền đất:

– Nghe nói bên Tả Chải tổ chức cúng bái, đặt ra lệ cấm bản rồi treo cờ vải đỏ ghi dòng chữ “Vua mới sinh” phải không?

Dùn lại giật mình, anh giấu sự lúng túng vào bát rượu.

Cụ giáo chậm rãi cảnh cáo:

– Mê muội không chỉ làm đổi tính, đổi nết một người mà còn kéo theo cả nhà, cả vùng vào bến mê đấy!

Dùn cúi đầu, im lặng.

– Con người phải biết lấy phận mình, ở cành này với sang cành khác không gẫy cành thì cũng rơi xuống đất đấy.

– Đừng như con rùa mượn mai nữa, đang yên đang lành, xới xáo lên anh có nghĩ đến sau, đến trước, được gì, mất gì không?

– ….

– Phàm là dân chúng đói khổ thì chỉ mong khắc làm, khắc ăn, việc của nước có vua quan, việc cướp giật có đồng đảng. Trước đây thổ ty, phìa tạo làm mưa làm gió, dân chúng quanh năm nem nép sợ hãi quan trên quan dưới đã đành, được mấy năm nay giời yên, núi yên, người sinh sôi, vật sinh sôi các anh còn muốn gì nữa?

– ….

.- Lấy cái hư, cái hỏng của người để thấy mình đã lớn khôn không phải là người lớn khôn. Lấy cái thời buổi rối ren để đục nước béo cò càng không lớn khôn. Cháu nên bình tĩnh suy xét, thấy cái chưa được đã vội coi thường kẻ khác, lấy đánh giết để cầu lợi, đem bạo để thay loạn, thời thế rối lại càng thêm rối, rồi lại sảy ra cảnh nồi da nấu thịt thôi.

– …

– Ta biết can gián nhiều thì trái tai, trái mắt, nhưng ta không cam tâm chờ ngày cả nhà này, dân bản này, Phòng Tô này ngửa bụng như cá trong vũng bị ruốc…

Dùn buột miệng:

– Cứ dao sợ gỗ rắn, gỗ rắn sợ dao mãi thì làm được cái gì.

Cụ giáo ngớ người. Dùn sinh ra đã là kẻ bướng bỉnh, thích kéo rào ngược dòng, không có phép tắc, luật tục, gia pháp giàng buộc, níu giữ thì nó đã là con sói hoang, con hổ dữ rồi, nhưng cãi lại cụ thì giờ mới thấy ở mồm nó lần đầu.

Cụ giáo dằn bát rượu xuống nền đất, gằn lên:

– Mày phải biết ong có độc đến mấy nhưng gặp sừng trâu cũng phải chừa ra…

– Nhưng sừng trâu, sừng bò nào. Mưa gió bão bùng cuốn vạn vật vào cơn lũ ống thì đành chịu, đằng này một nhúm người, bên ngoài không có chỗ che, bên trong rỗng như ống sậy, suốt ngày chỉ nhăm nhăm vào việc có đoạn cuối chứ không thạo đoạn đầu thì con nghe thế nào được.

Cụ giáo gầm lên:

–  Lý sự, lý sự. từ một nhúm người mà họ đánh đuổi được bọn Pháp, bọn Nhật, giành lại độc lập cho nước Nam này. Một nhúm người mà họ đã dập được nhiều đám cháy, đã xây dựng được chính quyền,  nuôi được dân, còn chúng mày, chúng mày… chúng mày thử nhìn ra Lào Cai, sang Sơn La, về Điện Biên xem, nhìn chỗ nào cũng thấy…. mà thôi, lý người Dao nhìn gì, làm gì cũng phải rõ ràng. Muốn bay xa phải có cánh, muốn bơi xa phải có vây. Những kẻ lấy mồm làm cánh mà muốn che cả bầu trời, lấy tay làm vây mà định bơi qua bốn biển thì đúng thực là một lũ rồ.

– Nhưng chúng cháu…

– Lửa không nóng mà tro nóng, cái gì có thì bảo có, cái gì không thì bảo không, coi trái, coi phải, nhìn trước nhìn sau cho rõ. Ông hỏi cháu, cháu a dua, chạy theo những kẻ chuyên châm lửa đốt nhà để rồi mình cũng thành kẻ đốt nhà, giết người có nên không? Quây quần, bè đảng để làm cướp mà là phải ư? Tụ họp, khích tướng để biến cái thung lũng này thành nơi chém giết là đúng ư? Chăm chắm vào sự được mất, tâm chưa tĩnh, lòng chưa thuận, chưa hóa được chính mình thì đời còn đầu rơi máu đổ.

– …

– Ông già cả lẫn cẫn, lời nói của ông khó vào tai cháu, nhưng cháu ơi, khỉ già biết cành cây khô, thấy cháu đang từ con đường sáng đi vào con đường tối thì ông nhắm mắt làm ngơ sao được, cháu đừng để ngõ cụt chôn vùi cả nhà này, bản này, dân tộc này…

Cụ giáo lặng lẽ đứng dậy đi vào buồng, để lại một mình Dùn  bàng hoàng, ngơ ngác…

15

Cuộc ra hàng Việt Minh cuối năm 1953 của Triệu Tá Dùn không dễ dàng như nhiều người lầm tưởng. Lúc này Việt Minh rất mạnh, khắp các chiến trường đua nhau chiến thắng. Quan thầy nước Pháp đang ở thế cùng đường, những kẻ sống dựa và quan thầy cũng cùng đường luôn. Đói! Đói kinh khủng. Bọn phỉ có ba nguồn tiếp tế. Một của người nhà giời, tức là những máy bay của quan thầy thì tiếng súng mạn Điện Biên hút hồn những con chim sắt thành ra cả ngày chỉ vài lần có tiếng ì ầm lai vãng. Một rút trong ruột dân bản thì vòng vây của bộ đội Việt Minh, hoạt động của các liên gia ngày càng thắt chặt, có lọt được rau cỏ, ngô gạo ra rừng thì cũng nhỏ giọt. Một mua của bên Trung Quốc thì phải có tiền, mà tiền bạc trong thời buổi loạn lạc kẻ nào cũng khư khư như đười ươi giữ ống thì lấy đâu ra. Ba nguồn tiếp tế hầu như bị cắt, cái ăn của phỉ phải trông vào rừng, tìm được gì ăn nấy. Củ nâu thái mỏng, cho vào sọt mang ra suối ngâm ba bốn ngày cho hết nhựa rồi cho vào đồ, cẩn thận như làm lễ tế giời vậy mà khi ăn chẳng khác gì cho củ chuối chưa luộc vào mồm. Củ mài ăn quên chết nhưng lôi được từ ruột núi lên cực nhọc vô cùng. Thú rừng nghe tiếng súng xua đuổi dai dẳng sợ hãi chạy tút sang tận bên Lào, bên Miến Điện… Đói khổ làm người ta như con thú hoang. Nhóm nọ trấn lột, cướp bóc nhóm kia, thù hằn, chém giết lẫn nhau, máu mủ chia lìa. Phỉ sợ bộ đội, nhưng phỉ sợ đồng bọn hơn. Một lần trung đội của Dùn tập kích bắt được ba con ngựa thồ muối của Chính phủ lên tiếp tế cho đồng bào. Muối chưa kịp về đến hang, người chưa kịp hân hoan đã bị một cánh quân bịt mặt cướp trắng. Với người miền núi muối là vàng. Muối là phương tiện để giao dịch, trao đổi. Muối để phân biệt lòng dạ con người. Muối để tỏ rõ ai mạnh hơn ai. Không có muối, thận không đẩy được nước ra nên dẫn tới phù nề. Đàn ông phù từ chân, phụ nữ phù từ mặt, đội quân toàn những thằng mang đôi chân phù thũng như hai cái vại thì còn di chuyển, đánh đấm gì nữa. Trước đây bọn phỉ đã lấy số muối còn tồn lại để khống chế dân, mua chuộc lòng người. Bao ngày chui lủi, đói gạo, đói thịt, đói muối làm cho cả bọn mắt trắng dã, mồm miệng nhạt thếch, chân tay bải hoải, thân mình còn ngắc ngoải nói gì đến khống chế, mua chuộc.

Giữa lúc cả bọn đang lử lả vì đói khát, sợ hãi thì Sắn điều Dùn về nhà gặp ông nội. Dùn nửa nhận lời, nửa không. Gạo ngô, trâu ngựa Dùn không sợ. Kho cót chất chồng sức mấy mà khuân với vác. Trâu ngựa cả đàn, vơi vài con quá lắm cũng như vơi vài muôi nước trong chảo thắng cố. Nhưng Dùn biết Sắn nhằm vào Dùn không chỉ nhằm vào kho của cải, mà là nhằm vào ông nội của anh. Được ông nội của anh là Sắn không chỉ được Sín Chải mà còn được lòng dân cả vùng. Từ khi biết làm người, Dùn đã biết ông nội là cây cột cái cho cả Sín Chải trông vào. Các nhà trong bản, từ việc học hành, đẻ con, đón con dâu, con gái đi lấy chồng đến việc đặt tên con, xem tuổi, bấm số, xem giờ đặt nóc nhà đều nhờ cậy đến cụ. Oan ức, kiện tụng, tới tới cửa quan phải nhờ cụ dàn xếp. Ở cái nơi sức mạnh là luật bất thành văn như Phòng Tô, chuyện xưng hùng, xưng bá, tranh giành, cướp giật nổi lên thường xuyên, chỉ cần cái cớ bằng móng tay cũng có thể động tay động thủ. Được thì trèo lên đầu, lên cổ nhau, thua thì hoặc cho kiềng lên lưng ngựa đi tìm vùng đất mới, hoặc đem thân làm trâu ngựa tôi tớ, đem vợ con làm cái giẻ lót nồi cho nhà kẻ thắng. Song với cái thế lưng dựa vào dãy Pu Sam Cáp điệp trùng, mặt nhìn xuống thung lũng Tam Đường trù phú, Sín Chải luôn vững như bàn thạch, luôn đứng ngoài các cuộc giao tranh, nhòm ngó. Phòng ngự ư! Phía sau, rừng núi bạt ngàn hoang dại, cây che chở cho người, người dung dưỡng cho cây. Tiến công ư? Mở cửa là đất nhà, rừng nhà, là có thể thiên biến vạn hóa. Dù trộm dù cướp gì cũng đều sợ lạ nước lạ cái, đều tránh đối đầu với chủ nhà, nhất là chủ nhà thông thạo từng nhánh cây ngọn cỏ của đất mình. Lẩn trốn ư? Ra sau nhà là có thể như con rắn xanh mất hút vào rừng, vào núi… Từ bao đời nay sống giữa rừng núi bao la, lòng người hiểm độc, người Sín Chải lấy sự khắc làm khắc ăn, khắc tự bảo vệ mình làm phương thức sống. Bên ngoài Sín Chải có động rừng, sập đất, đường vào Phòng Tô có tắc nghẽn từ mùa gặt này sang mùa gặt khác thì trâu ngựa Sín Chải vẫn sinh sôi nảy nở; bếp người Sín Chải vẫn đỏ lửa mỗi ngày ba lần; sàn nhà người Sín Chải vẫn có ngô, có thóc. Từ tự nhiên, từ hun đúc mà thành, mà từ lâu đất, người Sín Chải là cái pháo đài cho tiến thoái, là kho lẫm dự trữ của Phòng Tô. Vật đổi sao dời, đất nước biến loạn liên miên, nhưng kẻ nào nổi lên nắm quyền hành, nắm dân cũng phải coi trọng Sín Chải, nhất là người thông hiểu sách vở, thông hiểu lý lẽ, lại đứng đầu dòng họ, đứng đầu bản như cụ giáo. Và nữa, với cái thế vào rừng hổ yêu, xuống nước thuồng luồng quý nhưng cụ giáo không tham lam, nghiêng ngả, luôn lấy sự trung dung làm gốc. Chính từ trung dung, khôn khéo lựa chiều, cụ và cả họ Triệu ở Sín Chải đã chiều và đã sống được qua mấy chế độ xã hội. Tri châu họ Đèo mời cụ làm tổng quản, cai quản năm xã trong vùng, cụ từ chối. Để đáp lại nhã ý của quan trên cụ cho con cháu mang tặng nhà họ Đèo năm con ngựa đực, năm con trâu cái. Bộ đội Việt Minh giải phóng Phòng Tô, cụ cùng mười hai con cháu cưỡi ngựa đi dự mít tinh mừng chiến thắng, sau mít tinh, mười ba con ngựa ở lại với bộ đội còn mười ba người cưỡi ngựa đi bộ về. Phỉ nổi lên khắp Phòng Tô, cụ cho tặng chúng năm con trâu, năm bong bóng trâu rượu. Phỉ ép con cháu cụ phải theo, không giữ nổi con nổi cháu, nhưng trước khi chúng đi, trước bàn thờ tổ tiên, cụ dặn dò cặn kẽ từng đứa. Cụ cho rằng phỉ là tàn bạo, là nhất thời, song trong tình thế này muốn còn dòng còn giống thì phải theo chúng. Theo phỉ thì theo nhưng chỉ làm quân chứ không được làm tướng. Bởi làm tướng là phải mưu mô, là gây tội ác. Làm quân cũng phải tính. Khi vào trận phải tránh xa việc cướp, giết, hiếp, đốt. “Thời thế buộc phải tính đến chuyện bấc đến đâu dầu đến đấy, nhưng làm gì thì cũng phải tránh việc ác, việc ti tiện, bỉ ổi. Làm sao khi bước ra ngõ còn nhìn thấy nhau, về với tổ tiên còn có kẻ đưa người đón.”. Lời cụ dặn như đánh đục vào cột, mười mấy con cháu họ Triệu cầm súng theo phỉ mà đứa nào cũng tâm sạch, lòng sạch như suối nguồn.

Lần ấy Dùn về nhà lấy đồ tiếp tế đúng lúc Bí thư châu ủy Đoàn Văn Long đang thực hiện “ba cùng” tại nhà mình. Thoạt biết tin Long trong nhà Dùn định trở lại rừng ngay, nhưng cái máu ngang ngạnh nhà họ Triệu đã giữ chân anh lại “xem ong độc đốt sừng trâu, nọc rơi, ong rơi thế nào?”.

Đêm ấy nấp trong cái khe nhỏ ép lại nhờ hai bức vách cạnh bếp Dùn được chứng kiến hai người, một con hổ của rừng sâu, một con rồng đang vần vũ ngồi uống rượu nói chuyện thời thế. Và cũng đêm ấy Dùn mới vỡ vạc nguồn gốc, cội rễ của dân tộc mình.

Ẩn cư – Nỗi đau truyền đời của những người Dao. Mọi thứ đều có ngọn có nguồn. Giống như các loài biết nóng, lạnh, mừng vui, sợ hãi phải trải qua nạn đại hồng thủy dẫn đến tuyệt diệt nên nghĩ đến nước là sợ, là tránh. Người Dao cũng vậy, từ trời hành, người hành, mưa dồn gió đuổi tưởng như đến tuyệt diệt, người Dao làm cuộc thiên di rồi  âm thầm nối nhau tạo nên cộng đồng người Dao ở đất này. Con chim bị tên gặp làn cây cong đã giật mình nhắm mắt huống hồ cả một tộc người tưởng như không còn đường sống. Những “sơn chủ” (chủ núi rừng), “sơn tử” (con của núi rừng), người đến trước, người đến sau, người bản địa, người nhập cư, dẫu quây quần sớm tối, giúp nhau khai khẩn, trồng trọt, săn bắn, song người nhập cư vẫn ẩn ức trong mình tâm trạng ăn nhờ ở đậu. Người nhập cư dẫu có lập bản, lập trại, tạo dựng cho mình một lãnh địa riêng nhưng canh cánh lo ăn, lo mặc, lo tồn tại khiến cho trẻ già, trai gái co mình trong cái thế cam chịu. Người ta sống quần cư đông đặc, quấn lấy nhau để dễ lo cho mình, lo cho người, mình thì làm nhà rải rác, chọc lỗ bỏ hạt, nay đây mai đó. Người ta khoe sừng khoe vuốt, mình đi cầu lựa cầu, đi đường lựa đường. Bao năm cố quây quanh mình lớn, nhỏ, sang, hèn, trong, ngoài, trên, dưới, gặp ống theo ống, gặp bầu theo bầu, vậy mà nào có yên thân. Mở mắt là thấy kẻ chèn ép, lợi dụng. Nhắm mắt là có kẻ dẫn xuống vực. Quanh đi, quanh lại đành phải chui sâu vào trong rừng, lấy rừng làm nhà, lấy núi non làm chỗ dựa.

Những lời gan ruột buột ra từ miệng hai người làm cho Dùn bất ngờ. Chưa bao giờ ông nội Dùn đưa mình vào vòng giam nhốt hay mềm lòng với kẻ khác màu áo. Vậy mà bây giờ… cán bộ Long làm thế nào mà mê hoặc được ông cụ? Chẳng lẽ những cảnh báo của người Pháp, của họ Đèo, họ Lý, của Triệu Tá Sắn về Việt Minh đều sai?… Những câu hỏi làm cho đầu óc Dùn lùng bùng như đang thập thõm trên đỉnh Phan Si thiếu gió, thiếu dưỡng khí.

Cuộc trò chuyện bên ngoài vẫn vọng vào lúc to, lúc nhỏ.

Tiếng ông nội:

– Ta biết thế nào cán bộ cũng đến tìm ta. Ta biết quấn lấy nhau thì sống, chia nhau ra thì chết, nhưng thời buổi loạn lạc, mạng người nhẹ hơn mạng dê, mạng chó, nên ta coi thỏa hiệp để tồn tại là tốt nhất.

Tiếng Long:

– Nhưng thưa cụ, như thế có phải là quạt thóc chờ gió. Thực tế đám mây ở giữa không cùng, ngẫm đi chẳng làm hại ai, ngẫm lại chẳng ai hại mình, nhưng quanh năm nổi trôi, biến hóa, cuối cùng cũng vẫn buộc phải rõ ràng, hoặc là làm lợi cho mùa màng, cây cối, hoặc gây lũ lụt làm khổ cho muôn loài.

Ông nội:

– Nhưng từ lâu ta đã thoát khỏi vòng danh lợi.

Long:

– Dạ thưa cụ, xin cụ cho cháu nói thật. Cụ nói từ chối danh lợi chỉ đúng một phần, cốt lõi là cụ ngại động chạm, ngại phá vỡ. Cụ coi sự hỗn loạn không có sự góp mặt của cụ ư! Cụ ơi, một con ngựa đau cả tàu ngựa có ăn nổi cỏ không? Lòng thiện bao trùm là một việc tốt, song trong lòng cái ác đang hoành hành thì lòng thiện chưa đủ. Cái thiện của cụ là mưa móc, thụ động, cái thiện của cách mạng là tự mình đứng lên giành lại những cái của mình, là bề rộng, bề sâu, là nắng nhuộm cả tàu lau lá gianh, hai tâm thiện đó cùng chảy một dòng thì làm việc gì mà không thuận.

Ông nội:

– Anh đến thuyết phục ta có điều kiện gì chăng?

Long:

– Dạ thưa cụ, điều kiện cháu không dám, song đường đi của cụ với đường đi của cách mạng là một, vậy tại sao cụ cứ đứng ở bờ bên này còn cách mạng cứ ở bờ bên kia?

Ông nội:

– Nói gì thì nói, tục lụy bao giờ cũng đặt cái lợi lên bàn thờ, ta không muốn thế, ta muốn mãi là ta. Đời ta, những cái đã qua ta đã không làm được, những cái hiện tại ta đang cố lấy tâm, lấy thiện để cứu rỗi. Còn ngày mai ư! Ta sửa mình còn chưa xong còn mong đứng về phía nào để dạy dỗ, tu sửa.

-Cháu biết, cụ không muốn đứng về bên này hay bên kia, nhưng bóng của cụ sáng che hướng Đông, chiều che hướng Tây, vùng này có ai không chịu ơn cụ, lời cụ nói ra thành gió trải khắp rừng, một việc cụ làm là cả bản làm theo.

– …

– Cụ ơi! Cây cỏ sống chỗ nào biết chỗ ấy, nhưng con người khác, một nhà không thể là một bản, một bản không thể là một vùng, một vùng không thể là một nước. Làm sao cụ có thể ngồi nhìn đất đai dân chúng của mình bị chúng chia cắt nát tan mà không động tâm suy nghĩ.

Rỉ rả, rỉ rả, hai dòng nước đang nhập làm một khiến cho Dùn không thể không suy ngẫm. Chế độ mà đồng bọn Dùn ra sức bôi đen dẫu chưa làm được gì nhiều, song qua nghe bằng tai, nhìn bằng mắt, anh thấy những con người gây dựng lên chế độ ấy không xấu như những lời đồn thổi. Với những người chống lại chế độ như Dùn, họ biết mười mươi có tội nhưng cứ bắt lại thả. Việc làm của họ chẳng khác gì xưa ông Khổng Minh tha cho ông Mạnh Hoạch. Nghĩ người lại nghĩ đến mình. Cái ân nghĩa lớn nhất của dân tộc Việt là sẵn lòng đùm bọc thương yêu những kẻ hoạn nạn. Bao đời qua những người lưu vong cùng những người bản địa luôn chung tay, chung sức chống chọi thiên nhiên, đánh đuổi xâm lăng, giữ yên nhà, yên nước. Bây giờ nồi da nấu thịt nên chăng? Bao mâu thuẫn lớn, nhỏ, nặng, nhẹ đều có chung cái nguồn lợi danh, chính kiến.

Lợi danh, chính kiến ư?

Dùn lại áp tai vào vách để thu nhận những tiếng nói từ bên ngoài.

Tiếng ông nội vọng vào tai Dùn mồn một:

– Ta đã sống gần một trăm mùa sấm đẻ, đã uống nước nhiều nguồn, trèo qua nhiều ngọn núi, ta biết sẽ khó có chế độ nào tốt bằng chế độ các anh đang gây dựng. Những gì ta, con cháu ta đã làm, trái thì bỏ đi, phải thì cố giữ. Kẻ kéo nước vào thuyền, đưa hổ về bản đâu, ra ta bảo.

Nghe ông nội gọi, Dùn không thể không ra.

Nhìn thấy Dùn, Long không thay đổi nét mặt, anh với cái túi da dê rót đầy một bát rượu đưa cho Dùn:

– Anh uống đi. Sống giữa cái vùng giết người không mắc tội, cướp giật không ai ngăn cấm, muốn sống thì phải tìm chỗ dựa là phải thôi.

Câu khích của Long chạm vào lòng tự ái của Dùn, anh đỡ bát rượu rồi đặt mạnh xuống mâm:

– Có những cái chưa chế ngự được thì phải theo. Theo thế là theo tạm thời, là tận dụng cơ hội để nuôi lớn mình, thế chưa phải là biết hay sao?

Long nâng bát rượu lên nhấp một chút rồi đặt nhẹ xuống mâm, ôn tồn:

– Người ta có thế xả thân vì chính kiến, lợi lộc, nhưng anh xả thân vì cái gì?

– Vì… vì chưa tâm phục, khẩu phục… Thế thôi.

Long vẫn từ tốn:

–  Tôi biết anh chưa tin vào Việt Minh. Tôi biết sự thành kiến dễ lấp mắt con người, nhất là những thứ mới nhìn thấy bằng tai, song ta cứ bày lên trước bếp lửa để tính rõ phải trái nhé.

– …

– Theo anh Việt Minh là gì?

– Là, là…

Long:

– Là những người đi cướp đất, cướp người chẳng khác gì bọn lính khố đỏ, bọn Quốc dân Đảng chứ gì. Các anh luôn nghĩ chúng tôi cũng từ nơi khác đến, cũng trước ngon ngọt, dốc lòng, dốc sức, sau cướp của, giết người, chiếm nhà, cướp con gái đẹp phải không?

Dùn:

– Cũng không hẳn thế, nhưng rừng có chủ của rừng, biển có chủ của biển, ai có phận nấy rồi, sao các người lại đến xáo tung lên.

Long:

– Nhưng ai đã làm chủ đất này, người Pháp, người Nhật, họ Đèo, Triệu Tá Sắn hay các anh?

– …

– Ai thì các anh quá biết rồi, vậy mà không hiểu tại sao các anh vẫn như con ếch cứ thấy động là nhảy, bất kể trước mặt là đất bằng hay vực sâu.

Dùn:

– Nhưng các anh cũng phải hiểu cho chúng tôi, một bên là hổ, một bên là gấu, được lòng gấu thì chết với hổ, được lòng hổ thì chết với gấu. Ngồi trên chảo lửa thì phải tìm đường nhảy ra thôi.

– Nhưng nhảy ra đâu. Đi theo khẩu hiệu cướp châu, cướp muối, cướp thóc, diệt cán bộ của bọn phỉ ư! Từ đi theo, từ tiếp tay cho phỉ các anh đã làm cho đâu đâu cũng cha mẹ xa con, vợ xa chồng, đói khát, ốm đau, bệnh dịch tràn lan. Như thế đúng hay không đúng?

– Biến loạn chưa chắc đã từ đói khát, nhưng biến loạn chắc chắn bắt đầu từ chính kiến, từ gắng thắng được người…

– Thôi đi, đừng lấy dao chặt trong sọt nữa – Cụ giáo gầm lên với thằng cháu nội –  Ta nói cho ngươi biết, bao năm qua ta chui vào mai rùa đợi mưa, giờ trời đã sáng, mưa đã khắp, người đã có đường có lối, các ngươi hãy quay súng trở về đi, đừng có làm cái việc bắn giết vô nghĩa nữa.

– Dạ nhưng…

– Giữ cửa có nhiều cách, song dù cửa lim cửa sến, chốt sắt khóa đồng gì cũng không chắc chắn bằng cách hợp lực cùng người tốt. Con hãy nghe ta gọi hết những những người họ Triệu  mang súng ra hàng đi.

Kiên quyết của ông nội cùng sự thuyết phục của Long làm Dùn xiêu lòng. Cuộc gặp gỡ với Long đã thay đổi đời Dùn, anh đã cùng mười hai anh em họ Triệu mang súng ra hàng, đã được đứng vào hàng ngũ và mang sức gấu, sức hổ ra làm việc cho cách mạng, cho dân tộc mình. Mấy năm làm việc chính quyền là mấy năm, một bên ngưỡng mộ trời đất, núi non, sông nước, tôn kính tổ tiên và các bậc thần linh, một bên một lòng  phụng sự công việc. Muôn lời nói ra đều thuận tai, muôn vật làm ra đều thuận mắt, vậy mà… tay  Dùn đã vấy máu rồi biết rửa sao đây?

16

Đợi cho Vương ngủ say, Đàu sẽ sàng ngồi dậy. Cô khẽ khàng thổi cho ngọn lửa bùng lên. Trong sương mù, ngọn lửa không thành hình, thành dạng mà toẽ ra như bị đè vỡ, những sợi khói ngoằn ngoèo bay lên lơ lửng mãi không tan.

Trong ánh lửa bập bùng ánh mắt Đàu ánh lên sự khát khao, thèm muốn. Bên kia đống lửa Vương đã ngủ ngon lành. Với vóc dáng cao lớn, các thớ thịt vồng lên cuồn cuộn, nước da màu đồng hun dạn dày sương gió, lúc thức Vương là con hổ giữa rừng, lúc ngủ Vương như con trăn lười  sưởi nắng.

Trăng giữa tháng trèo qua đỉnh núi rờ rỡ như mặt người đàn bà đang kỳ khai hoa mãn nguyệt. Khắp bầu trời mênh mông hàng vạn vì sao chi chít. Thỉnh thoảng từng đám mây lãng đãng khỏa lấp ánh trăng, ánh sao, rồi ông giời lại vén mây cho muôn vật rõ ràng. Xa xa, những dãy núi đuổi nhau mơ màng, lặng lẽ. Đâu đây tiếng gà eo óc báo hiệu sự hiện diện của con người.

Mặc dù mệt, rất mệt, nhưng Đàu không muốn thiếp đi trong giây phút hiếm hoi bên cạnh người cô yêu dấu, nhất là khi sự bao bọc của màn đêm không tạo nên sự yên dạ, mà trái lại nó càng khuấy lên sự phấp phỏng, chập chờn. Nhìn Vương ngủ ngon lành lòng cô dâng lên nỗi niềm thương cảm. Thương cảm cho anh, cho chính mình. Cả hai đang vẫy vùng giữa vòng vây của của hai nhà mà không sao thoát ra được.

Đêm làm bạn với đống lửa dài như cả một đời người. Cái được, cái mất của những lần mặt trời đi qua phơi ra trước chập chờn củi lửa, như bát rượu xuông trước mặt Đàu.

Đàu gặp Vương như định mệnh.

Vào những ngày đầu mùa thu một con bệnh quái ác làm cho Đàu nằm liệt giường, hết sốt nóng lại sốt lạnh. Mẹ Đàu mất sớm, hai bố con một cây một cọc nuôi nhau, Đàu ốm, bố cô lật đật chạy ngược chạy xuôi khắp rừng, khắp bản. Bố mời thày thuốc. Đàu hết phải nhắm mắt uống những bát thuốc đắng như mật thú đến nằm chết giả cho thày châm cứu, bấm huyệt mà người ngợm vẫn như bếp lửa đang cháy. Bố mời thày cúng. Thày cúng cúng ba ngày ba đêm, đến sáng thứ tư tự nhiên Đàu bật dậy, mọi thứ trước mắt Đàu mờ ảo, thật giả. Mờ ảo trong ánh lửa chập chờn từ cái đĩa đèn đốt bằng mỡ lợn, mờ ảo trong sự lo lắng, căng thẳng của những người đàn ông, đàn bà ngồi lố nhố quanh bếp, mờ ảo về thân phận của mình… Tất cả những gì quanh cô, trong cô đều mờ mờ ảo ảo nhưng lời phán quyết của thày thì rõ ràng, tàn nhẫn:

– Nước xa không cứu được lửa gần rồi!

Lời của thày như lời của Diêm vương làm cho mọi người rụng rời, ngơ ngác.

Bố Đàu đang quỳ trước bàn thờ nhổm lên nắm lấy tay thày hỏi dồn:

– Sao? Thày bảo sao?

Mặt thày vẫn lạnh tanh. Lời thày vẫn như thả vào tai người không sống ở thế gian này:

– Nó không ở trong bản được nữa, nó đang gây tai hoạ cho cả bản đấy.

Mọi người lặng đi rồi tiếng rì rầm nổi lên:

– Con ma theo nó nhập vào làm hại cả bản rồi.

– Năm sáu người trong bản bị ma làm theo nó rồi.

– Phải đưa nó ra khỏi bản thôi, để ở đây cả bản chết hết đấy…

Bố Đàu lặng đi, ông đau khổ níu kéo, cầu cứu từng người:

– Cây sắp đổ sao lại dồn nhát thế này các ông, các bà ơi!

– Cháu mồ côi mồ cút từ bé các ông các bà ơi!

Mọi người lao xao:

– Ông hiểu sai ý thày rồi, đưa cháu ra khỏi bản chữa bệnh để tránh tai hoạ cho bản chứ ai đẩy cháu đến cùng đường.

– Thày nói đúng đấy, bác cứ cho cháu ra nhà coi nương chạy chữa, đừng để nước chảy kéo theo đá lở.

Phụ hoạ cho lời mọi người, tại một nhà trong bản đang cúng ma cho một thằng bé đang bị sốt mê man. Tiếng chuông, tiếng cúng của thầy  trong đêm sâu càng làm cho không khí ảm đạm, ma quái. Bố mẹ, chú bác, anh em thằng bé nét mặt căng thẳng, thành kính quỳ sau lưng thầy. Mỗi lần thầy lắc chuông cả nhà lại cúi rạp xuống xuýt xoa. Thầy cúng vùng đứng dậy, miệng cúng, chân nhảy lò cò, tay cầm roi đánh ma vụt quanh giường, rồi vụt túi bụi lên người thằng bé. Thằng bé kêu thét lên rồi lịm đi. Mọi người trong nhà đều nhắm nghiền mắt, cúi rạp xuống cầu khấn.

Tại một nhà khác. Trong nhà bà chủ nhà đang nằm sốt run. Trên cái sàn dựng trước cửa chủ nhà đang làm lễ đuổi ma. Ông thành kính cúng bái. Sau một hồi cúng dồn dập ông vùng đứng dậy vung gạo muối lung tung rồi sụp xuống.

Tại một nhà khác. Trong căn nhà tồi tàn, vách nứa trống huyếch trống hoác, mái cọ thủng lỗ chỗ, bên ngọn đèn dầu một thiếu phụ đang bế đứa con bị sốt quặt quẹo đi đi lại lai. Chị lo lắng, đau khổ gào lên: “Hỡi giời đất, hỡi thần rừng, thần núi, nhà con có tội tình gì mà nỡ đầy đọa con con thế này hở giời?”, “Hỡi con thần nanh đỏ mỏ sao mày không chết dấm chết dúi ngoài rừng, ngoài suối mà lại mang ma, mang quỷ về bản hại con tao thế này?”, “Con ơi, con bị làm sao thì mẹ cũng theo con. Không, trước khi theo con mẹ sẽ làm cho đứa nào gây tai họa cho bản không còn đường sống con ơi!”.

Trong tĩnh lặng, tiếng kêu gào đau khổ của người đàn bà rót vào tai mỗi người, mỗi nhà từng tiếng, từng tiếng một cách tàn nhẫn.

Đàu gục xuống, hồn vía cô trả hết cho giời, cho đất.

*

*       *

Đàu không biết bố và dân bản tống tiễn mình ra khỏi bản bằng cách nào, cô chỉ biết khi tỉnh dậy đã thấy mình bơ vơ trong cái lều nằm chơ vơ giữa nương lúa đã thu hoạch. Bốn bề quanh lều trống trải, hoang vắng, sương giăng mù mịt, cây cỏ, chiếu chăn ướt át hơi sương. Đàu thầm cảm ơn sự chu đáo của bố. Lều tuy nhỏ, lợp tranh, vách nứa, song được làm chắc chắn, cẩn thận. Trong lều có giường kên bằng vầu đập dập, bốn cái chân giường cũng bằng vầu chôn chắc chắn, cánh cửa bằng vầu được cài từ bên trong. Trên vách treo lủng lẳng những túi gạo, rau. Bếp lửa ở sát ngay lối ra vào, cạnh bếp là cái ấm sắc thuốc. Trên gác bếp thòng xuống mấy tảng thịt cán bá ám khói. Ngoài cửa cắm cành bang báo trong nhà có người ốm cấm người lạ vào. Với những thứ đang có trong lều, nếu không bị con bệnh lôi đi Đàu có thể tự kéo dài đời mình ra dăm bẩy ngày.

Đàu gắng gượng lần ra ngồi bệt trên tảng đá trước cửa lán.

Trời sang trưa. Bầu trời ong ong như trong chum. Dòng nước trên con suối trước mặt trong xanh như lọc qua một biển cát, song hai bên bờ sự nổi giận của núi rừng vẫn ăn chặt vào da thịt của bờ, của cây cối. Cảnh vật hai bên bờ lặng lẽ, đìu hiu. Giữa nương, một cây cơi cổ thụ với những dây leo chằng chịt, dấu tích của thời khai thiên lập địa còn sót lại đứng chơ vơ, lạc lõng. Không có gió, không có nắng, những mắt lá, mắt cây, mắt giời chết lặng cùng cây.

Đàu nhìn ra mênh mông. Màu xanh của rừng, của núi khuấy lên trong cô sự náo nức, ham sống. Đã lâu. Lâu lắm rồi Đàu có thói quen đón binh minh ở trong rừng. Còn gì sung suớng hơn mỗi buổi sáng, trời đất tinh khôi, cây lá tinh khôi, ý nghĩ tinh khôi, lại được để từng làn gió mang hơi thở của rừng thấm vào da thịt, lại được ánh nắng ban mai luồn vào hâm nóng từng mạch máu. Trong rừng không có con vật nào tồn tại biệt lập. Mỗi loài đều được giời đất ban tặng cách thể hiện sự tồn tại, thể hiện sự hòa đồng. Tiếng hót quyến rũ của những con hoạ mi làm cho khu rừng vang lên những âm thanh vui nhộn, tha thiết. Những con cú cụp bộ áo tơi xuống song không quên rúc lên những tiếng dài gọi bạn… Rồi Đàu nghĩ tới thân phận mình. Cô như muốn phanh ngực áo ra mà thề thốt với trời xanh. Đưa ma về bản – Cái án oan nghiệt mà mọi người gán cho cô khiến cô uất ức, muốn giãi bày mà không giãi bày nổi, muốn chôn vùi cũng không xong, nó cứ lơ lửng, mông lung đến chính cô cũng không biết thật hay giả. Cô giơ hai tay ôm lấy mặt, hai bàn tay bịt không kín khuôn mặt thành ra hình ảnh múa may quay cuồng của ông thầy cúng già cứ hiện lên mồn một. Trời ơi! Đâu rồi con bé Đàu, đám mây của giời vô tư, trong sáng, mũm mĩm như bắp ngô căng sữa. Còn đâu hai chân sáo lúc nào cũng nhảy tâng tâng, giọng nói lúc nào cũng nhí nhảnh, hồn nhiên …

Đàu vò võ đếm ngày đếm đêm, đếm mưa đếm nắng suốt cả tuần cùng siêu thuốc, cùng những đồ tiếp tế của bố. Cô những tưởng ngoài người bố tội nghiệp cô vĩnh viễn không được tiếp xúc với con người thì Vương đến.

Hôm đó trời đất như hai kẻ yêu nhau đang hờn đang dỗi.

Hôm đó trời thoắt mưa, thoắt nắng làm con bệnh quỷ ám trong người trỗi dậy bắt tình bắt tội Đàu.

Hôm đó không đúng ngày mang gạo mang thuốc của bố nên Đàu tự do lột quần lột áo một sống một chết với con bệnh.

Giữa lúc Đàu hết sốt lạnh đến sốt nóng thì cánh cửa bật mở, một chàng trai khỏe mạnh, người đầy máu me, vai vác con gấu như con lợn tạ quẳng ịch xuống giữa nền lều rồi ngồi bệt xuống thở dốc.

Sau ngỡ ngàng đến hoảng sợ, Đàu co dúm vào trong cái chăn chiên. Cái chăn quá nhỏ nên Đàu kéo chỗ này chỗ kia hở, khiến cô lúng túng, run rẩy. Lúc này chàng trai mới định hình được mọi vật trong nhà, anh luống cuống lùi dần ra cửa.

Đàu run run mặc quần áo, rồi cơn sốt lại ập đến. Cô lịm đi không biết bao lâu, khi tỉnh dậy cô thấy con gấu vẫn nằm chềnh ềnh trên nền đất còn chàng trai đang lúi húi sắc thuốc cho cô. Tủi nhục, đau khổ dằm vặt trong suốt những ngày bị bỏ rơi hòa quyện với rưng rưng của con tim lá gan trào lên khiến cô run lên trong tiếng nấc.

Ái ngại, thương cảm cho cô, chàng trai đến bên cô vỗ về, an ủi. Cô cảm động, bày ra trước mắt anh thân phận bèo bọt và bệnh tật của mình.

Đáp lại sự chân thành của cô, anh hào hứng kể về mình. Hóa ra anh là con trai duy nhất của ông chủ tịch xã Sín Chải Triệu Tá Dùn.

Ngày ấy, đêm ấy, đêm sau, đêm sau nữa chàng trai ở lại bên cô. Anh lấy mật gấu cho cô uống, chặt bốn cái chân gấu ninh cháo bồi bổ cho cô. Thấy cô ngại ngùng anh cho cô là trẻ con, hổ ốm còn gọi đàn huống chi là con người. Anh bảo: “Không nhờ nước cũng nhờ lửa, khi khỏi bệnh em trả ơn bằng cách giữ cho bếp lửa nhà anh cháy ngày cháy đêm là được rồi.”. Lời ngọt chết kiến của anh làm cho tim cô như nhảy khỏi ngực. Gia đình anh danh giá, giàu có, bản thân anh vạm vỡ, khỏe mạnh, tài giỏi, thông thạo cả chữ Nôm Dao lẫn chữ Quốc ngữ, còn cô bị ma làm, bị cả dân bản đuổi ra rừng, vậy mà anh vẫn thương cô, lo lắng cho cô, vậy mà… Lòng say lòng, lửa bén củi, cô ngả vào lòng anh tin cậy. Cô đã trao cho anh thứ quý nhất của đời mình. Mãn nguyện rồi cô vừa say sưa ngắm anh, vừa mơ tưởng tới ngày được sống trong cái thiên đường do hai người tạo dựng.

Đàu tưởng cả nhà Vương sẽ hân hoan đón cô, bố cô sẽ cám ơn giời đất đã xe duyên cho hai người, nào ngờ, ngày bố đưa gạo, rau, thuốc lên cho cô là ngày anh và cô gặp sóng gió. Cô không biết tại sao cuộc nói chuyện giữa anh và bố đang thuận như nước chảy bỗng bố cô nổi giông nổi bão khi biết bố anh là chủ tịch xã Sín Chải. Và bố anh nữa. Anh vừa nói đến tên bố cô là bố anh đã gầm lên cấm cửa. Sự quyết liệt rẽ duyên của hai ông bố khiến cô và anh như Ngưu Lang Chức Nữ. Ngưu Lang Chức Nữ còn một năm đàng hoàng gặp nhau một lần, còn anh và cô muốn gặp được nhau phải lận đận qua bao nhiêu dối lừa, khổ ải.

Nước lạnh thổi mãi vẫn không thành nước nóng, chống không chống được, níu kéo, vụng trộm biết được bao lâu. Trái tim phản kháng mãi không thành, cố hóa đá mà không được khiến cô và anh phải co vào mình trong sự thầm lặng, xót xa. Tình yêu là gì? Là ngọn gió làm quẩn chân người, chân ngựa? Là sợi dây thừng buộc vào cổ con nghé non tơ? Là cái mà người ta cố quên nhưng răng cứ đè nhầm lưỡi, bước chân làm nhỡ bước chân? Là lúc mê mải bay nhảy trên chín tầng mây, lúc chống chếnh như ba ngày không có gì bỏ vào bụng?… Nhiều lúc Đàu phải úp mặt vào đống quần áo mốc sì thổn thức cho vợi bớt thống khổ. Nhiều đêm không ngủ, trèo lên mỏm đồi chờ mây ăn trăng cô chỉ muốn cho nắm lá ngón vào mồm cho xong tội. Trời ơi! Nếu mọi cái người lớn đều bí hiểm, đều đúng, cô và anh chỉ là cây gậy trong tay họ thì anh và cô còn sống  làm gì.

Đã mấy lần cô và anh chẻ nhỏ sự cấm đoán của hai ông bố khắc nghiệt ra để tìm rõ nguyên do, nhưng lần nào cả hai cũng đều như con kiến leo phải cành cụt. Họ hàng hang hốc ư? Anh họ Triệu, cô họ Phàn, Người Dao ở đất này mười đời thì mười đời hai họ chưa một lần xe duyên, lấy số. Môn đăng hộ đối ư? Chưa một lần hai nhà đưa danh giá, giàu có ra để ngăn cản. Xứng đôi vừa lứa ư? Anh đẹp trai, khỏe mạnh, nhanh nhẹn như con báo thì cô cũng vóc dáng, tính nết trời cho. Vậy thì từ cái gì? Vì cái gì? Phải chăng hai họ ghét bỏ nhau từ kiếp trước? Phải chăng hai ông bố gây thù chuốc oán nhau từ thời làm lính họ Đèo? Làm con suối, con sông đổi dòng khó như với tay tới trời nhưng quyết tâm là có thể làm được, làm thay đổi ý chí của người đánh đục vào cột có gắng đến mấy cũng cầm như cái lá trôi sông.

Đêm chầm chậm chuyển dần về sáng. Bầu trời toác dần trong sương mù. Không khí lạnh lẽo, giá buốt vẫn úp chụp lên mặt đất nhớp nháp, bẩn thỉu, song bóng ngày tràn tới thì bóng đêm lui, những phấp phỏng hun hút của đêm dần dần được xóa nhòa.

Đàu lặng lẽ thở dài. Sau canh giờ nữa cô lại phải chia tay anh, biết đến lúc nào anh và cô lại thoát khỏi vòng cương tỏa để gặp nhau đây. Cô nhẹ nhàng nằm ghé sát bên Vương. Vụng trộm, đau khổ làm cả hai rộc rạc. Đang phơi phới như những cánh chim mới ra ràng, cả hai phải co lại. Lo lắng, mất ngủ làm cho Vương như đang mỡ màng, sức lực thành cái cây bị bứng khỏi đất. Đàu cũng sa sút không kém, da dẻ cô sạm lại, hai mắt quầng sâu. Cả hai cố nén lòng chờ đợi ngày mai, dẫu biết ngày mai chẳng dẫn đi đến đâu cả.

Đàu đưa tay vuốt những sợi tóc lòa xòa trên trán Vương. Những ngón tay thơm mùi sữa tươi làm cho Vương tỉnh giấc. Một cảm giác dễ chịu,  rạo rực lan tỏa khắp cơ thể, Vương quài tay kéo Đàu nằm xuống nệm lá. Trong vòng tay của người chung da chung thịt, Đàu ngước nhìn lên bầu trời trinh trắng một cách mãn nguyện. Ông giời, bà đất đã sinh ra người đực, người cái, đã cho mỗi người có cái để mê nhau, hút nhau, đưa nhau lên chín tầng giời, tại sao cô và anh lại không tận hưởng những gì giời đất ban tặng mà lại cứ đeo hòn đá nặng vào cổ.

Nhìn Đàu đang chuẩn bị chui vào thác, Vương nhẹ nhàng trườn lên người cô, hôn lên cái mũi hếch ngây thơ của người yêu, cậu hỏi:

– Con rái cá bé nhỏ ơi, em nghĩ ngợi gì thế?

Đàu nhắm mắt, lắc đầu.

Tưởng người yêu đang nghĩ về những tảng đá cản đường, Vương an ủi:

– Đừng nghĩ ngợi gì nữa, anh không tin cả hai nhà sắt đá mãi được.

Câu an ủi của Vương kéo tuột Đàu về thực tại, cô thở dài, nói không ra hơi, một động thái không hợp với một bông hoa mới hé:

– Nhưng em lo lắm, mình biết làm thế nào bây giờ hả anh?

Vương cũng nén tiếng thở dài. Mắt cậu nhắm nghiền, người thả lỏng, các ngón tay chết cứng trên cơ thể người yêu.

Đàu lo lắng hỏi Vương:

– Nếu bố mẹ hai bên kiên quyết bắt con suối đổi dòng thì anh tính sao?

Vương vùng lên, hai mắt đỏ đọc như mắt con thỏ bị dồn tới cùng đường:

– Không tính gì cả, sống cùng sống, chết cùng chết.

Chợt thấy mình nổi nóng vô lý, nhất là vào cái lúc giời đất giao nhau, lòng người giao nhau, Vương nằm xuống, luồn cánh tay đỡ lấy đầu Đàu:

– Em cứ yên tâm đi, anh tin nước chảy đá mòn…

– Nhưng…

– Đừng nhưng nữa, em hãy cho ngày cho tháng đi, không làm được việc lấp bể rời non anh cũng phải làm được nước chảy xuôi dòng.

Đàu se sẽ gật đầu, cô dụi dụi cái đầu chim ngói vào nách Vương.

Phấn hứng dâng lên, Vương nhẹ nhàng cởi bỏ mọi vướng víu trên người, nhẹ nhàng làm cái việc mà người đàn ông nên làm.

ĐOÀN HỮU NAM

(Còn tiếp)

TIN LIÊN QUAN:

>> Đoàn Hữu Nam – Từ công nhân làm đường đến nhà văn

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 1

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 2

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 3

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 4

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 5

>> Thổ phỉ – Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam – Kỳ 6

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.