Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 10

Tượng vua Đinh Tiên Hoàng

 Chương ba

Lễ đăng quang Hoàng đế

1.

VHSG- Mấy ngày liền, thành Hoa Lư treo đèn kết hoa, mừng lễ đăng quang Hoàng đế.

Dân tứ xứ từ các châu động kéo về Yên Thành, thuyền bè san sát như lá tre đậu kín bến Đền. Trên các con đường trong thành, dân chúng đi đi lại lại như mắc cửi. Những khuôn mặt vốn lam lũ cũng ánh lên nét hân hoan. Trong những mái lều dựng tạm ven đường, từng tốp, từng tốp ngồi xúm xít bên chõng tre, uống bát nước vối.

Bên quán nước cầu Dền, cánh đàn ông hút thuốc lào vặt. Đám đàn bà vừa nhai trầu, vừa lấy cơm nắm trong tay nải ra, chấm muối vừng cho con ăn. Những đứa bé còn để chỏm, lần đầu theo bố mẹ đi hội, cũng tỏ ra náo nức, đuổi nhau chạy ra chạy vào, chui cả xuống gầm chõng, làm cho những bát nước vối đổ lênh láng, nhưng không ai nỡ mắng chửi.

Cánh Gián Khẩu hỏi dân Thung Lau:

– Thuở cờ lau tập trận, các bác làm gì chả tỏ tường long nhan?

– Nhưng bây giờ mới được xem vua ra, chứ ngày xưa cũng chăn trâu cả mà.

Dân Thung Lau hỏi lại cánh Gián Khẩu:

– Này, hỏi khí không phải, các bác có họ hàng gì với bà lão “mồm câm” không?

– Thì  cũng nghe cái sự vậy, chứ có biết đấy là ai đâu? – cánh Gián Khẩu thực thà đáp.

Bà hàng nước nghe vậy, nói chêm vào:

– Thế mà lời đồn cũng thành hẳn một cái tên làng, rõ ghê chửa?

Cả bọn chuyện vãn, lại lục tục vào chợ.

Chợ phủ, người như nêm cối. Kẻ đi chơi ngắm hàng nhiều hơn người mua. Đám lính ngật ngưỡng từ quán rượu đi ra. Có tên bị thương chưa lành, được bạn bè dìu đi, chân nam đá chân chiêu. Dân chợ ai cũng phải né, tránh voi chẳng xấu mặt nào.

*

Trên đài cao bảy trượng, Đinh Tiên Hoàng đội vương miện, ngồi trên ngai vàng, dáng uy nghi lẫm liệt. Các tướng Tứ trụ triều đình Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ đều đội mũ trụ, mặc giáp phục, áo bào đeo gươm đứng xung quanh. Bọn lính cầm tàn vàng, tán tía, chống giáo đứng hầu.

Quan Tuyên đọc cất giọng sang sảng, đọc Chiếu lên ngôi Hoàng đế:

Thay trời hành đạo, Hoàng đế ban chiếu…

Quan, quân, dân chúng đứng dưới kỳ đài, im phăng phắc lắng nghe và chăm chú ngắm dung nhan Hoàng đế. Chao ôi, một kẻ mục đồng lên ngôi Hoàng đế, quả là có một không hai trên đời, từ xưa chưa thấy bao giờ.

Khi đọc đến đoạn ân sủng của Hoàng đế, ai nấy đều ồ lên, vẻ phấn khích, khiến Đinh Hoàn cũng cảm thấy lâng lâng vui sướng. Khi nghe đến hình phạt, tất cả lặng đi vì sợ hãi.

Quan Tuyên đọc vừa dứt lời, Đinh Hoàng đế cầm hốt ngọc khuê đứng dậy, thì tất thảy đều ngửa cổ lên mà hô to:

– Hoàng đế vạn tuế!

– Hoàng đế vạn tuế!

– Hoàng đế vạn tuế!

Tiếng hô vang lũng núi, như tiếng đồng vọng của đất trời.

Nguyễn Bặc phất cờ hiệu, cuộc diễu hành bắt đầu.

Tiếng chiêng trống vang lừng nổi lên.

Diễu qua lễ đài là bọn mục đồng, mặc quần áo xanh, đầu chít khăn đỏ, tay cầm hoa lau, cưỡi trên lưng trâu có phủ khăn hồng, sừng trâu vấn giấy xanh đỏ, nom rất chi là vui mắt. Bọn này nghễu nghện diễu tới đâu, dân chúng tung hô rầm trời tới đó. Tiếp theo là những thớt voi, lừng lững như những tảng đá xám. Quản tượng cũng chít khăn đỏ, trên bành chở bọn cung thủ. Đội kỵ binh khua móng rộn ràng, những ngọn giáo búp đa lấp lánh dưới ánh nắng mai. Đội bộ binh chân quấn xà cạp, đi dép da trâu, đầu cũng đội mũ da trâu đỉnh vuông, mồ hôi lấm tấm trên những gương mặt rắn rỏi, phong trần, còn hằn vết sẹo chiến chinh. Có những tên mới đi dép lần đầu, cứa toạc chân, vẫn mắm môi mắm lợi tiến bước.

Một đoàn ngựa chiến kéo những chiếc xe chở giàn phóng giáo, bắn đá, cầu lửa nghễu nghện diễu qua, trong sự tò mò và thán phục của dân chúng.

Hết đám diễu trên bộ, Hoàng đế được bọn lính cởi trần, đóng khố, xăm mình rước lên kiệu rồng, ra bến Đền ngự thuyền rồng. Đoàn thuyền ngự trên sông Sào Khê, bơi ra sông Hoàng Long. Bọn bơi chải bắt đầu cuộc thi tài. Trai tráng cởi trần, đóng khổ đỏ, khoe bắp tay cuồn cuộn như sợi chão, dái chân chắc như cột đình, trên thân thể vẫn còn hằn vết sẹo do giáo đâm sượt, gươm chém hụt. Trên ngực chúng xăm hình sư tử, sau lưng xăm hình đại bàng, hai bắp đùi xăm hình đôi rắn hổ mang, nom rất dữ tợn. Theo tiếng mõ hiệu lệnh, cả bọn đồng loạt rạp xuống, dồn sức vào cánh tay cầm chèo. Những mái chèo oàm oạp khỏa nước, nom con rết khổng lồ đang bơi trên sông, hòa lẫn tiếng reo hò náo nhiệt của dân chúng hai bên bờ, vang động cả một vùng sông nước.

2.

Buổi chiều, lại có cuộc thi chọi trâu.

Quan, quân, dân chúng lại tụ hội, cổ vũ. Bọn trẻ con tóc để chỏm, nhìn thấy dưới bụng trâu đực thò lõ trên sới cỏ, thì chỉ chỉ trỏ trỏ, khiến đám con gái đỏ mặt quay đi, ánh mắt long lanh, má ửng hồng. Mỗi khi con trâu thua cuộc, chạy bổ vào đám khán giả tìm đường chạy trốn, thì tiếng la hét hoảng loạn lại nổi lên. Khiến bọn lính tá hỏa chạy theo, lấy thang ngoắc vào sừng mà hãm lại. Chỉ một chốc, cặp trâu khác vào sới, thì đám khán giả lại bu kín vào, khác nào đá ném ao bèo. Tiếng sừng va lộp cộp. Tiếng chân giẫm thình thịch. Tiếng la hét cổ vũ náo loạn, khiến ai cũng phải xúm vào xem. Có con gãy sừng, lòi mắt nom gớm chết. Có cặp vừa vào sân đã lồng lên như trâu điên, hai bên lao bổ vào nhau quyết đánh đòn phủ đầu chí mạng. Cặp trâu húc nhau chính diện, chỉ nghe “cốp” một tiếng, hai con cùng lăn ra, giãy đành đạch, chết tươi tại chỗ, khiến ai nấy tức thở vì hoảng sợ. Nhưng cũng có cặp thả vào sới, lại nhẩn nha gặm cỏ, chẳng màng gì đến chuyện húc nhau. Đám khán giả la oai oái, húi vào, nhưng chúng chỉ ngửi đít nhau, rồi nhe răng ra cười. Đám thanh niên cũng ôm bụng cười ngặt nghẽo. Lũ con gái cũng che hàm răng đen, díu mặt vào lưng nhau, cười thẹn thùng. Bọn trẻ lấy đất đá ném trâu. Sân bãi nhộn nhạo cả lên.

Hết trò chọi trâu lại sang trò chọi dê.

Lũ dê húc nhau có vẻ vui hơn. Trẻ con, người lớn không sợ chúng lồng như trâu thất trận, nên vòng người xoay tròn lại, chỉ còn chừa sới đấu bằng gian nhà. Mỗi khi chúng lùi lại lấy đà, vòng người dãn ra, khi chúng lao vào húc nhau, vòng người lại co vào. Hình như bọn dê thích được cổ vũ, nên đám người càng hô to, chúng càng húc hăng. Mỗi con chỉ đứng trên hai chân sau, hai chân trước bổ vào nhau, mắt long sòng sọc, nhưng vẫn như có ánh cười, chứ không vằn lên những tia thù hận như trâu. Dê thi đấu, nhưng thân thiện hơn cái anh trâu. Bởi thế, chỉ có trâu đi trận và kéo cày, còn dê làm đồ tế lễ.

3.

Bọn xiếc diễn trò. Người xem thấy lạ, kéo đến đặc cả bãi.

Lầu xiếc dựng cao sáu trượng, cặp dây chão gai dài hơn mười lăm trượng, bên ngoài có quấn dây mây, hai đầu chôn dưới đất, khúc giữa vắt lên cây. Một sợi dây nữa, dài chừng năm chục trượng, có chỗ mắc chạc ba cho hai dây giao nhau. Trùm xiếc là pháp sư. Bọn xiếc có sáu người đàn ông, tên là Thượng Ky, Thượng Can, Thượng Hiểm, Thượng Đát, Thượng Toái, Thượng Câu cùng diễn.

Mở đầu tiết mục, Thượng Ky mặc quần đen, đội khăn đen, đứng trên dây, chạy ra chạy vào ba bốn bận mà vẫn giữ được thăng bằng, khiến ai cũng thán phục. Thượng Can, hai tay cầm hai cán cờ leo trên dây, cùng Thượng Ky cả hai đi ngược nhau, đến chạc ba thì tránh, lao xuống, thế mà không ngã. Bọn khán giả khoái chí, reo ầm lên. Thượng Đát lấy một tấm gỗ lớn, rộng một thước, đặt trên cây cao chừng sáu thước. Gã đứng trên tấm gỗ ấy mà nhảy múa tít cò bợ, thế mà không rơi. Cả đám vỗ tay rầm rầm cổ vũ. Thượng Toái chui vào cái lồng, nom như lờ đánh cá và đứng thẳng lên, rồi lăn tròn. Thượng Câu vỗ tay, nhảy nhót, vừa phi ngựa, vừa cúi xuống nhặt tiền thưởng, nom rất ngoạn mục. Thượng Hiểm ngả mình nằm ngửa, lấy chân đỡ cây gậy dài, cho bọn trẻ leo lên, tụt xuống mà không đổ.

Tiếng chiêng, trống nổi lên rộn ràng, trò diễn càng thêm náo nhiệt.

 4.

Buổi tối, lại bày trò diễn chèo trước sân điện.

Chả là, Hoàng đế lúc đi đánh dẹp mạn Hạ Hồng(1), nghe tiếng Phạm Thị Trân diễn chèo, thấy bảo hay lắm, bèn vời về Yên Thành, cho dựng tích Cờ lau tập trận. Thị Trân cho tuyển  đám nam thanh nữ tú, truyền nghề cho, cùng diễn(2). Lại chọn một chàng trai tuấn tú, con nhà lành đóng giả chủ tướng. Còn trâu thì do hai đứa con trai cúi lom khom, bám vào lưng nhau, phủ vải đen lên, đóng giả. Đứa đi đầu, đội cái đầu trâu làm bằng khung tre, phất giấy đen. Đứa đi sau có gắn thêm cái đuôi trâu. Chủ tướng cầm bông lau, cưỡi trâu đầu đàn. Bọn mục đồng mặc quần áo xanh xanh đỏ đỏ, cầm giáo mác cùng diễn xướng. Thấy hay hay là lạ, Hoàng đế và các Hoàng hậu, cùng quan, quân đến xem, thưởng cho vàng bạc, khiến bọn diễn viên nghiệp dư phấn chấn vô chừng.

Hoàng đế thấy chúng diễn cả cảnh mò Ngọc khuê, Rồng vàng cõng qua sông, nhưng không có cảnh táng cốt, treo song kiếm ngựa đá, thì nghĩ bụng, chuyện vẫn kín như bưng, thế mới gọi là thiên cơ bất khả lộ. Anh hùng ai mà chẳng có điều bí mật riêng tư, khiến cho khối kẻ phải đoán mò, không cách gì vén bức màn bí hiểm.

Tiếng trống thì thùng điểm nhịp cho các trò diễn, làm người xem cũng rung động theo. Có lúc diễn xướng ngân nga như hát vậy.

Bất giác, Hoàng đế nhìn lên những đỉnh núi quanh thung, thấy đốm lửa lập lòe từ các chòi gác, như lẫn với sao trời, khiến lòng bâng khuâng nhớ thuở hàn vi, lại đang được bọn diễn xướng tái hiện. Bao nhiêu tướng sĩ đã đổ máu xương để có ngày hôm nay. Nhớ khi xưa, ta hay

Nhà văn Vũ Xuân Tửu

 Chương bốn

Vạc dầu, chuồng hổ, ao giải

 1.

Đinh Hoàng đế họp các tướng tâm phúc lại, bàn về hậu họa, bởi chuyện các sứ quân tan vỡ tại chỗ. Lưu Cơ tâu:

– Trong Chiếu lên ngôi, Hoàng thượng đã cho phép dân chúng thờ cúng sứ quân rồi. Thế cũng là cách vỗ yên. Thần thấy bên phương Bắc có luật lệ, thiển nghĩ, Hoàng thượng cũng ban ra, để mọi người đều phải làm theo.

Điền nhíu mày, hỏi trống không:

– Chả nhẽ, Hoàng thượng trị vì thiên hạ, mà cũng phải theo luật như dân đen à?

Cơ từ tốn nói:

– Hoàng thượng anh minh, tối cao. Nhưng cũng phải nêu gương, chỉ có như thế, đất nước mới vào khuôn phép được.

Hoàng đế nghe vậy, cảm thấy khó chịu, nói sẵng:

– Luật lệ bó tay, khó chơi lắm!

Tú thực thà nói:

– Thần được lệnh xây thành Hoa Lư, từ lúc còn là làng Yên Thành. Nhiều chỗ lấy đất của dân dựng cung điện, xây thành quách, phải nói bừa đi đấy là công thổ, kẻ nào không thuận thì dọa chém, thế mới có thành quách như bây giờ. Chứ mà ngồi cãi lý, có mà đến đời mồng thất.

– Chả nhẽ, dân bị cướp trắng như vậy, mà không kêu kiện gì ư? – Cơ thật thà hỏi.

– Kêu đến cửa quan thì lại gặp chính cánh ta xử chứ ai? Có mà kiện củ khoai, – Tú đắc ý cười khinh khích. – Được cái đám dân đen cũng dễ dẫn dụ, ta bảo, chúng bay cứ thắt lưng buộc bụng, dâng hiến hết cơ nghiệp. Mai ngày, giang san thu về một mối, thì vua ban nhà cao cửa rộng cho mà ở, tha hồ ăn sung mặc sướng, ựa ra cũng chẳng hết nào…

Điền bô lô ba la:

– Không phải dài dòng, Hoàng thượng là luật lệ, luật lệ là Hoàng thượng!

Bặc cũng hùa theo:

– Ý chỉ của Hoàng thượng là thừa thiên hành đạo rồi. Tức vị chiếu cũng nói: “Thừa thiên hành đạo, Hoáng đế chiếu ước”. Xin Hoàng thượng cho bàn ngay vào chuyện trừng trị bọn phản loạn cho được việc.

Cơ lâm vào thế một người một ngựa giữa trùng vây, đành ngậm tăm.

Hoàng đế gật gù, nói nước đôi, ngại mếch lòng Cơ:

– Lưu Cơ là người có chữ trong đám Cờ Lau ta. Một điều nói ra hẳn có lý, chứ không phải chuyện tầm phào. Nhưng cứ xếp luật lệ lại đã, tính sau, nhề. Đang lúc bấn bíu thế này, lại nhè cái luật ra, tự bó chân bó tay mình, có khi còn loạn thêm.

Điền như quên hẳn chuyện luật lệ, cao giọng:

– Nhưng hàng trăm vạn quân, hàng nghìn tướng tại trận, chẳng lẽ chúng ngồi im chịu chết già?

Nguyễn Bặc nói:

– Chỉ cần Hoàng thượng sức cho quan các đạo, các động để mắt tới là được.

Điền lại nói:

– Thiển nghĩ, cứ khử đi là xong chuyện.

Trịnh Tú kêu lên:

– Ối giời, à quên, muôn tâu, – Tú đưa mắt nhìn các quan, chữa thẹn, bởi cứ theo thói xưa, mà chưa quen nếp mới. – Ví bằng, ta bỗng dưng cất quân tảo thanh, khác nào xui chúng làm loạn. Chả nhẽ, chúng ngồi im chịu trói?

Điền lại lên tiếng:

– Tôi, à quên, thần, – Điền cười, đưa mắt nhìn Tú, tìm sự đồng cảm. – Thần có cách này, Hoàng thượng xuống chỉ, gọi chúng về kinh hiểu dụ, rồi nhân cớ đó, – Điền đưa gan bàn tay cứa cứa vào cổ, làm hiệu…

Tú cắt lời:

– Hàng ngàn tướng thất trận, nay kéo về kinh đô, thấy cánh ta sung sướng thế vầy, chúng nổi lòng tham lam, ghen ăn tức ở mà hè nhau làm loạn thì sao? Tự dưng lại mua dây mà buộc mình. Lại nữa, lấy gì mà nuôi, Hoàng thượng vừa mới khoan thư sức dân, miễn thuế?

– Nói là câu khoan thư là để an dân vậy thôi, chứ đã miễn thuế được đâu. Miễn với khoan thì quan ăn cám à? – Điền bỗ bã, nói thẳng ruột ngựa. – Xem như gương Hai Bà Trưng, khi đất nước vừa yên hàn đã vội tha thuế ba năm, thế là kho đụn, binh lương sạch bách. Đến khi bọn Mã Viện tướn sang, thì ôi thôi… Đấy là chuyện xưa, còn bây giờ, đối với bọn quan tướng các sứ quân, bảo chúng tự mang theo lương ăn, chừng một tuần trăng thôi, – Điền tỏ ra tinh quái. – Thế là đỡ lo chuyện cấp lương, lại đánh lừa được chúng. Thế nào chúng cũng ngỡ chỉ ngần ấy ngày là được về nhà, không tính chuyện trốn lủi.

Hoàng đế khen mưu cao kế thâm, bèn cho làm theo, nhưng không để bọn chúng vào kinh đô Hoa Lư, mà dẫn vào thung lũng thượng nguồn, phần thì đánh động cho chạy, rồi bắn tên vào lưng, đâm giáo vào khoeo chân, phao lên là do chạy trốn mới bị trừng phạt như thế; phần thì do hết lương thiếu áo đói rét, mắc bệnh “ngã nước”, nên chết vãn cả. Từ đấy, bọn lính các nơi sứ quân xưa như thể rắn mất đầu, lại bị các quan sở tại kiềm tỏa, không kẻ nào dám nghĩ đến chuyện làm loạn nữa. Quân lính thất trận và dân chúng sợ đến lượt mình chịu vạ, lại cộng thêm cái sự đói khổ triền miên, nên bồng con bế cái, lũ lượt trốn sang các nước lân bang. Thế là xã tắc trừ được hậu họa, bình ổn. Chỉ có điều, dân đen đến cầu khấn các đền thờ sứ quân ngày một đông hơn mà thôi…

Bọn Phạm Bạch Hổ, Ngô Nhật Khánh biết chuyện ấy, trong lòng tỏ ra lo lắng vô cùng. Hổ bảo:

– Cá nằm trên thớt!

– Thế thì cáo quan, ông về Đằng Châu, tôi về Đường Lâm, – Khánh bàn.

– Không được, hạ sách, – Hổ thở dài, – thôi, cứ im lặng là vàng.

Mấy hôm sau, lại nghe tin Hoàng đế cho đặt vạc dầu ở sân điện, nuôi hổ ở hang Am Tiên, thả giải đầy ao ngoài Thành Bắc, để trị kẻ có tội, khiến ai nấy đều lo sợ, kinh hãi. Lưu Cơ mấy lần can ngăn mà không được, trong lòng có ý không vui.

Nghe nói, Lưu Cơ là con cầu tự đền Bạch Bát(3), theo học chữ ở Tri Hối(4). Cha mẹ mất sớm. Cơ phải bươn trải lập thân, nên trọng chữ nhân. Nay thấy triều đình vua Đinh làm nhiều việc hình ngục man rợ, hòng răn dọa dân chúng, thì cảm thấy sái vô chừng, nhưng không sao cản nổi. Nhưng khi nhận thấy tâm trạng bất an của hai hàng tướng, Cơ bèn an ủi:

– Việc ấy là bất đắc dĩ, triều đình lo xa, ngõ hầu tránh sự phản loạn mà thôi.

– Phải, phải! – Hổ và Khánh đồng thanh đáp, – Hoàng thượng sáng suốt!

Cơ biết là mồm họ nói vậy, nhưng lòng không phải vậy, nhưng cũng đành vậy. Họa sinh ra từ đầu óc ngu tối, từ lòng dạ tàn ác, tất có ngày cũng bị trời diệt. Người có tâm sáng, tầm cao can ngăn cũng chẳng nổi, không khéo còn dính vạ lây…

2.

Bọn quan các động ki mi báo tin, có mấy viên tướng thời loạn sứ quân đang trốn chui trốn lủi trong rừng núi. Đinh Hoàng đế bèn sai Lê Hoàn mang quân bắt về.

Quan quân nhà Đinh lại vượt bến Tình Cương, tiến lên Hồi Hồ. Gặp cảnh cũ người xưa, mừng mừng tủi tủi, chỉ tội dân nghèo quá, sinh ra trộm cướp, nên thấy quan quân triều đình là lẩn vào rừng, trốn biệt. Một hôm, cả bọn thấy cái quán ăn ven rừng, bèn mò vào đánh chén lấy sức. Khi trộn hết bát canh xương, thấy trơ ra mấy ngón tay người. Cả bọn kinh hoàng, nôn mửa ra mật xanh mật vàng. Lập tức, quán hàng bị vây chặt, tìm ra phía sau, thấy có xác người đã bị xéo bắp chân, chặt cánh tay… Chủ quán liền bị lôi ra sân chém đầu tại chỗ, rồi cấp báo triều đình.

Mấy tướng hổ báo dưới trướng Kiều Công Hãn, Kiều Công Thuận, Đỗ Cảnh Thạc… nay thất cơ lỡ vận, khác nào người rừng, tóc dài, da xanh, áo rách. Chúng được đưa về Hoa Lư, xử tội kháng chỉ.

Viên tướng Tam Giang bị đóng gông, xích chân điệu ra cạnh vạc dầu. Vạc dầu bằng đồng, to như cái nong, sâu ngập đầu người, được bắc ngay giữa sân điện. Bọn đao phủ bảo nhau, cốt cho viên tướng Tam Giang nghe thấy, để khủng bố tinh thần:

– Đun sôi lên, rồi hẵng lẳng vào, luộc luôn.

– Thế thì chết nhanh quá. Cứ bỏ vào từ lúc dầu nguội, rồi đun củi, cho nóng từ từ, như

kiểu ngâm chân.

– Dầu nóng nhanh hơn nước đấy…

Bọn chúng vừa tỏ ra thản nhiên trò chuyện, vừa kín đáo đánh mắt xem động tính viên tướng kia. Quả nhiên, lời nào cũng lọt tai, khiến nó tái xám cả mặt mày. Nhìn ngọn lửa lom dom ngấn củi, tên đao phủ có vẻ sốt ruột, múc ngay một gáo dầu, tưới vào bếp. Tức thì, ngọn lửa bùng lên, cháy phần phật, khiến viên tướng Tam Giang giật mình, ngã bổ chửng, đái ỉa cả ra quần, mùi khai thối hoăng cả lên.

Phạm Cự Lạng thấy vậy, phẩy tay trước mũi, vẻ kinh tởm, nói:

– Gớm quá, ô uế cả sân điện!

Bọn đao phủ sợ hãi, vội túm viên tướng lẳng vào vạc dầu, mà không kịp tháo gông, gỡ xích. Tiếng ho sặc sụa, cùng với tiếng gông gõ lộp cộp từ vạc dầu vọng ra, làm cho bọn đao phủ khoái trí, cười hô hố, mạnh tay chất củi. Viên tướng Tam Giang hoảng loạn, kêu van:

– Xin tha tội…

Lạng quát:

– Sao không bịt mồm nó lại?

Bọn đao phủ đưa mắt nhìn nhau, vẻ sợ hãi đáp:

– Trình quan lớn, bởi nó thối qua, không kịp tháo gông.

Tư lự chốc lát, Lạng bảo:

– À mà thôi, để vậy cũng hay, làm gương nẹt những kẻ dám trái lệnh vua.

Bọn đao phủ được lời như cởi tấm lòng. Thấy cái đầu mang gông nhô lên, chúng lại lấy sào đẩy một nhát, y như kiểu người ta dùng nước điếu cày, tắm chó bị bệnh hắc lẫm, rồi ném xuống ao. Mỗi khi con chó ngoi lên, lại lấy gậy đẩy ra xa, để bốn chân đập nghí ngóp, đến khi sạch sẽ mới vớt lên. Nhưng viên tướng chỉ lóp ngóp kêu xin được vài ba lần, rồi lặng như tờ. Chắc nó sặc dầu và sợ hãi quá mà chết.

Dầu vừa sôi, bỗng nghe “bục” một tiếng, tên đao phủ reo lên:

– Nổ bụng rồi!

Đoạn, đao phủ cầm thanh củi đang cháy, chọc vào cái đầu đang nổi lều bều trên mặt gông. Lập tức, cái búi tóc bắt lửa, cháy loang ra cả vạc dầu. Vạc dầu bốc cháy đùng đùng như chảo lửa, khiến bọn đao phủ sợ xanh mắt. Lạng cũng phải lùi ra bởi rát mặt. Thế là viên tướng Tam Giang, toàn thân và tứ chi bị luộc chín nhừ, đầu cháy như nướng. Một lúc, cổ đứt lìa, cái đầu lâu lăn qua gông, rơi tõm xuống vạc. Cái gông cũng bốc cháy đùng đùng. Dầu khét, thịt gây, cùng bốc ra một mùi tởm lợm, khiến bọn đao phủ cũng phải non ọe.

*

Viên tướng Hồi Hồ bị đẩy lên xe tù, chở qua cửa Đông, xung quanh có lính cưỡi ngựa, vác giáo hộ tống. Dân chúng trong kinh thành nghe tin, rầm rập chạy theo, háo hức xem hành hình. Trên đường, tội nhân vẫn tỏ khí phách cương cường, đầu ngẩng cao, mép trễ xuống, mắt quắc lên, đầy vẻ khinh khi. Đến chân núi, tội nhân bỏ xe, lính tráng xuống ngựa, cùng leo lên hang Am Tiên. Đến lưng chừng núi, ngửi thấy mùi khen khét của hổ, khiến viên tướng xây xẩm mặt mày. Nhưng bọn lính dẫn giải vẫn điềm nhiên, khiến hắn nghi hoặc vô cùng. Bất chợt, nghe thấy tiếng hổ gầm vang động cả sườn núi, thì hắn chợt hiểu ra, ngã khuỵu xuống. Bọn lĩnh đành phải khiêng lên hang. Miệng hang Am Tiên rộng ngoác tựa mồm quái vật hiện ra, như muốn nuốt chửng cả bọn. Đàn hổ từ lúc ngửi thấy hơi người đã nhộn nhạo cả lên, nay thấy con mồi đã kề hàng rào sắt, khiến chúng nhảy quớ, như định đẩy đổ mà lao ra. Sợi chão to như cổ tay, buông thõng ngoài cửa hang, bọn lính hối hả buộc ngang thân tội nhân, rút lên qua bờ rào, rồi dùng sào đẩy vào và thả vào trong. Lập tức, cả đàn hổ xô lại, lôi con mồi tuột vào hang, bọn lính không nhanh tay buông dây, có khi còn bị kéo tuốt theo.

Đàn hổ bị bỏ đói mấy ngày, nên chúng lao vào cấu xé tội nhân. Con thì càm cái đầu, làm mớ tóc bạc tung ra rũ rượi, nom như dò phong lan gớm ghiếc. Con ngoạm cánh tay gày nhẳng như ống sậy. Con cắn bắp đùi còn hằn vết sẹo chiến chinh. Con giẫm lên bụng mà xé xác… Chốc lát, máu me chảy lênh láng ra cửa hang. Những bộ lông màu vàng, vằn đen cũng dính bê bết máu đỏ. Đàn hổ gầm gừ tranh mồi, rồi nhe nanh múa vuốt cắn lẫn nhau, khiến cái xác tội nhân tanh bành khắp nền hang, như thể bọn trẻ con tranh giành nhau chiếc diều phất giấy vậy.

Chợt có tiếng rú hoảng loạn, cất lên từ đám đi xem hành hình, khiến cả bọn giật mình ngoái lại. Mấy người ngã lăn ra, chết giấc. Bọn lính phải hộc tốc dìu xuống chân núi, vừa bấm nhân trung, vừa giật tóc, hồi lâu mới tỉnh.

*

Viên tướng Thành Quèn bị dẫn ra ao giải, ngoài Thành Bắc.

Đàn giải, con to như cái nong, con nhỏ như cái mẹt lừ đừ bơi lội trên đám rong rêu. Thoạt nhìn, chúng chẳng khác gì những con ba ba khổng lồ, da cũng trơn nhẫy, không có vân lục giác trên mai như rùa. Hằng ngày, bọn lính ném xuống ao xác chó, mèo, gà, vịt chết thối. Đôi mép tham lam của bầy giải loe ra, đớp lấy đớp để, như thế lợn sề xốc cám. Mặt ao lúc nào cũng mờ mờ sát khí, mùi tanh lợm bốc lên tanh nồng cả thung lũng. Đám người hiếu kỳ kéo nhau đi xem cuộc hành hình, xôn xao bàn tán:

– Cứ ngỡ con giải giống như rắn nước, ai ngờ lại là ba ba thủy cung.

– Úi giời, nó bơi dưới nước mà phì phì thở như trâu.

– Nó kéo được cả thuyền câu đấy!

– Nom hao hao giống rùa. Nhưng rùa thì hiền, trẻ con cũng cưỡi được. Vậy nên các cụ mới tạc rùa đội bia, cõng hạc ngoài đình. Chứ nào ai thờ giống thuồng luồng, giải ác này đâu.

Viên tướng xấu số, khi nhác thấy đàn giải đã hiểu ra cơ sự, đứng sững lại. Phạm Cự Lạng thấy vậy, nói khích:

– Tưởng ngươi anh hùng hảo hán? Ai dè cũng là giống thỏ đế mà thôi!

– Lũ mục đồng chúng bay, bày lắm trò man rợ. Nhưng làm sao có thể lung lạc được ta, – viên tướng cất giọng sang sảng chửi lại.

– Nghe đồn, ngươi thạo đánh thủy? Có giỏi thì nhảy xuống đánh nhau với đàn giải kia xem nào? – Lạng lại khích.

– Ví bằng mày dám cho đưa cho ta một thanh kiếm?

– Để ngươi chạy tháo thân chăng? – Lạng nghi ngờ hỏi lại.

– Ta không cần mở xích chân, chỉ cần cởi trói tay mà thôi. Dám không?

Bị tội nhân thách lại, Lạng tức, ra hiệu cho tên lính hộ vệ đưa thanh kiếm cho hắn. Bọn lính tuốt gươm, chĩa giáo thành đứng vây hình bán nguyệt, chỉ để hở mặt ao. Viên tướng Thành Quèn giơ kiếm, lê theo sợi xích ra bờ ao. Hắn đi đến đâu, vòng vây khép chặt lại tới đó. Bỗng hắn quát một tiếng kinh thiên động địa:

– Chúng bay, tất có ngày bị diệt như đàn giải này! – Nói đoạn, hắn nhún chân nhảy xuống ao. Bọt nước tóe lên hình vương miện.

– Cà cuống chết đến đít còn cay! – Lạng nhếch mép, cười khinh bỉ.

Đàn giải thấy động, như chợt tỉnh giấc ngủ, hối hả lao đến như mèo thấy mỡ. Viên tướng vung kiếm làm đứt lìa những cái đầu giải vươn ra khỏi mai, ngọt như chém nước. Một chốc, máu chảy đỏ ngầu, xác giải chết ngổn ngang như đống nong, nia vứt trên sân ngày mùa. Nhưng lũ giải nhiều vô kể, ngửi thấy mùi máu càng hăng tiết, lổm ngổm bơi đến như thiêu thân thấy ánh đèn. Trận thủy chiến không cân sức, diễn ra ngày một quyết liệt. Viên tướng bật mình, lộn người tung lên cao, hai bàn chân đeo xích chĩa lên trời, đầu lao xuống, thanh kiếm khỏa nước một vòng, rồi co gối thu vào bụng mà tiếp nước. Thấy vậy, cả đám quan, quân, dân chúng cùng ồ lên, như thể xem xiếc. Thảo nào, bọn Thành Quèn đã từng nghiền nát quân Cờ Lau thành Đống Thịt. Đàn giải say máu, có con đã ngoạm được vào đùi, cắn thủng bụng tội nhân, nhưng thanh kiếm vẫn hoa lên loang loáng những tia chớp. Bọn Lạng nhìn thấy mà kinh hãi. Nhưng rồi, ruột hắn xổ ra, đàn giải bu vào mà lôi xé. Bỗng hắn dồn hết sức bình sinh, quét dọc thanh kiếm một vòng quanh thân. Tức thì cổ giải rụng hàng loạt và mớ ruột của hắn cũng đứt lìa. Bỗng nhiên, hắn dừng cuộc đấu, hai tay run run nâng thanh kiếm nhuốm máu giơ ngang mày, như tạ lỗi với trời xanh, rồi từ từ chìm xuống.

Đàn giải vẫn lổm ngổm ngoi đến tiếp viện, kín đặc mặt ao.

– Dũng tướng! – một tên lính thốt lên.

– Nhưng làm sao địch nổi thuồng luồng sông Đáy, – Lạng tự đắc nói..

 3.

Trong hoàng cung, Hoàng đế ngự thiện với món khoái khẩu tiết canh lòng lợn. Chợt nghe tiếng huyên náo ngoài cửa Bắc vọng vào. Một chốc, tên lính thị vệ chạy vào tâu:

– Bẩm Hoàng thượng, có tên lính chăn trâu trên Thung Lau xin gặp Hoàng thượng, nhưng lính canh cản lại, đâm ra cãi vã.

– Mày có hỏi nó gặp việc gì? – Hoàng đế nhíu mày, vẻ bực dọc.

– Bẩm, đâu như hổ về thung, – tên thị vệ sợ hãi nói.

– Sao mà nói không ra hơi thế? Thị vệ nỗi gì? – Rượu bốc lên mặt, Hoàng đế quát, – Đỗ Thích, ra xem binh tình, mau!

Không đợi Đỗ Thích thị sát, viên quan canh cổng vội lật đật chạy vào, sợ vạ lây:

– Bẩm Hoàng thượng, nó bảo là bạn chăn trâu thuở trước, cùng cánh mục đồng cả…

– Láo! – Hoàng đế quát to một tiếng, vung tay đập bát tiết canh đánh “choang” một cái xuống nền gạch, khiến mảnh bát trắng ngà lẫn với tiết lợn đỏ lòm vung vãi, – đánh hai trăm roi.

– Nhưng mà nó có công báo hổ, Hoàng thượng cho bẫy, mang về Am Tiên. – Đỗ Thích vội can, – xin Hoàng thượng rón tay làm phúc, giảm hình phạt.

– Được, – Hoàng đế sực nhận ra hành động bột phát quá đáng của mình, nên xử nhũn, – phạt năm mươi roi, bắt đứng canh cổng.

Tên lính Thung Lau chịu phạt, rồi đứng canh cổng. Đến khi bọn đi săn hổ, không biết chỗ nào để đặt bẫy, phải về bẩm báo. Bất đắc dĩ, Hoàng đế triệu tên lính canh cổng vào hỏi cho rõ đầu cua tai nheo. Vừa thấy nó ló mặt, Hoàng đế đã cười vang:

– Tưởng ai, hóa ra là Quản động Thung Lau, sao không nói sớm?

– Bẩm…

– Thôi, xí xóa, phục chức cũ. – Đoạn, quay sang Đỗ Thích bảo, – mang ba trăm lạng bạc cho Quản động về uống rượu, nhá! – Lại trỏ bọn thị vệ, kẻ cả nói, – chúng bay không biết người này là ai à? Thời cờ lau tập trận, công lao không phải là nhỏ. Bởi thế, ta mới giao cho Quản động ấy chứ!

Cả bọn lè lưỡi, sợ hãi nhìn nhau. Đỗ Thích nói câu đãi buôi:

– Thì tại bọn thị vệ bẩm báo không ra hơi, chứ Hoàng thượng đã kịp nhìn người đâu. Vả, mỗi thời mỗi khác, triều đình phải nghiêm, không kể thân sơ.

Quản động Thung Lau không dám nói gì, đành nhận túi bạc, rồi hộc tốc dẫn bọn lính triều đình về Thung Lau bẫy hổ. Từ đấy, bạn bè thuở chăn trâu cắt cỏ với Đinh Hoàn đều biết ý lảng dần, sợ gần lửa rát mặt, chơi dao đứt tay.

 4.

Một hôm, sau buổi chầu, Hoàng đế lưu Nguyễn Bặc lại, phàn nàn:

– Khi dẹp xong các sứ quân, rồi lại có chỉ gọi bọn bại tướng về, kiếm cớ diệt đi để trừ hậu họa. Vừa giờ, lại xảy ra cái chuyện sinh loạn ở cửa Bắc.

Bặc từ tốn:

– Thần nghe, tên ấy có uống rượu say ngoài chợ, rồi mới vào cổng, đâm ra sinh sự thì gặp sự sinh như vậy.

Hoàng đế thở dài, chép miệng:

– Cái sự cũng đã qua, nhưng xem chừng phải chọn kẻ tâm phúc, coi việc thị vệ mới yên. Lớ ngớ có ngày mất đầu lúc nào chả biết.

Bặc cắn môi, đắn đo một lúc mới nói:

– Phạm Cự Lạng là kẻ chỉn chu, mẫn cán. Cứ xem cái việc hành hình vừa rồi, cũng thấy không phải kẻ tầm thường.

– Có phải tay Lượng? – Hoàng đế nhíu mày, vội hỏi, – cháu nội Phạm Chiêm, phải không?

– Phải! – Bặc nói. – Phạm Chiêm người làng Trà Hương(1), từng giữ chức Đông giáp tướng quân, thời Ngô Tiên Vương. Con Chiêm là Mạn. Mạn làm Tham chính đô đốc, thời Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn.

– Ừ, cũng có vẻ được đấy. – Bộ Lĩnh trở lại vẻ thư thái, phân trần với bạn hữu, – ta vừa lên ngôi, chân ướt chân ráo, phong nó là người đầu tiên, phải cẩn thận mới được.

Năm Mậu Thìn (968), Phạm Cự Lạng, tức Lượng, được Hoàng đế phong làm Tâm phúc tướng quân, coi việc thị vệ. Từ đó, Lạng là quan thân cận của nhà vua. Sau đấy, Đỗ Thích có công cứu giá thuở hàn vi, cũng được phong chức Chi hậu nội nhân, lại càng có cơ gắn bó như hình với bóng cùng Hoàng đế.

VŨ XUÂN TỬU

(Còn tiếp)

______________

(1) nay thuộc Hải Dương.

(2) lúc này, chèo còn sơ khai, chỉ diễn xướng ngôn và làm động tác hình thể, chưa có các điệu hát chèo.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, đến thế kỷ XII, XII mới có lối hát chèo, do tù binh phương Bắc truyền dạy.

ngồi trên lũng ngai núi Kỳ Lân, rồi ngồi kiệu tay của bọn trẻ chăn trâu, nay được ngự trên đỉnh danh vọng và quyền lực thế này, chợt nhớ câu: “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô”. Phải làm sao giữ vững ngai vàng? Xem chừng các sứ quân đại bại, tan rã tại chỗ cũng chưa hẳn là thuần phục cả đâu….

(3) nay thuộc xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

(4) nay là làng Tùy Hối, xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

XEM THÊM:

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 1

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 2

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 3

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 4

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 5

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 6

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 7

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 8

>> Đinh Tiên Hoàng – Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Xuân Tửu – Kỳ 9

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *