Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Tiểu thuyết Nguyễn Trọng Văn – Kỳ 7

BẢY

VHSG- Trại giam Hoàng Tiến.

Chớm hè năm 2009.

Cơn mưa rào trút xuống tầm tã suốt hơn hai tiếng đồng hồ đầu giờ sáng nay đột ngột chấm dứt. Mưa tạnh hẳn. Nắng hè loang nhanh khắp các triền đồi. Quanh đây đưa lại tiếng lách rách lách rách của nước mưa chưa kịp thấm hết đang rồi hối hả lách xuyên qua từng gốc cỏ. Nước đọng chảy thành các dòng nhỏ rồi men theo những khe kẽ trên mặt đất xuôi xuống chân đồi. Những chùm lá vải theo gió đong đưa trước nắng, chúng có màu xanh mướt bởi vừa được tắm táp xong nhìn thích cả mắt. Không gian quyện một mùi hương hoa vải mới nở dìu dịu và sâu lắng lẫn bên hương bạch đàn chanh thoảng hoắc tạo nên thứ vị nồng ấm và dịu ngọt.

Ông Thanh như vừa bước ra từ ký ức, mắt háo hức nhìn cảnh vật xung quanh đầy lạ lẫm. Lâu lắm rồi ông mới có lại một cảm giác khoan khoái như thế. Nhưng cảm giác khoan khoái nhanh chóng biến mất nhường chỗ cho sự chán chường thường ngày. Từ góc sân này nếu nhìn ra đằng trước ông có thể hình dung ra đoạn đường nối từ quốc lộ 18 dẫn vào trại giam Hoàng Tiến. Hôm được đưa tới trại, qua ô cửa song sắt trên chiếc xe hòm bịt bùng dẫn giải tù nhân, ông đã he hé nhìn thấy con đường đó. Một con đường đất đỏ chạy song song với một con mương thủy lợi, đường đất cao cao giống như một con đê khiến ông bùi ngùi. Cảm giác như được đi trên triền đê sông Thương ở làng Me làm ông thấy nao lòng. Con đường chạy bên con mương chừng hơn hai cây số cho tới khi con mương thủy lợi chạm đầu một xóm nhỏ bên chân khu đồi bạch đàn và đổi hướng thì xuất hiện một ngã ba nhỏ. Ngã rẽ trái ngoặt vào trại giam Hoàng Tiến nằm sâu tít bên trong khu đồi bạch đàn và ngã rẽ phải dẫn vào một ngôi làng có tên gọi là “Làng Phong” ở tận phía cuối cánh đồng. Sau này ông Thanh nghe những người tới đây trước ông nói rằng. “Làng Phong” vốn đầu không phải là một cái tên làng. Mà làng phong là một chỗ mà những người mắc bệnh phong các nơi tụ về sinh sống, lâu ngày tụ thành một ngôi làng và tự nhiên được gọi thành tên. Một đằng là nơi giam giữ tù nhân, còn một nơi là chốn cho những người mắc bệnh phong trú ngụ. Thực cảnh như một mà hai như hai mà một. Đều là chỗ cho những con người bị xã hội ghét bỏ.

Nhà văn Nguyễn Trọng Văn

Nắng đã nhanh chóng chiếm lĩnh bầu trời và tràn ngập khắp các triền đồi. Dậy tiếng ong đập cánh bay vè vè quanh những tán lá vải. Xa một chút, ở phía sau lưng là dẫy núi Đông Triều mù mù sương khói. Quê ông, tỉnh Bắc Giang ấy, ở mãi phía sau dẫy núi mù sương kia. Sau vài động tác vươn vai ông Thanh thấy dễ chịu trở lại. Hình như cảm giác như vừa được nhìn thấy quê hương đã cho ông sự dễ chịu đó? Dạo này ông không còn đau mỏi chân tay như mấy năm trước nữa. Có thể gần năm năm ngồi tù đã cho ông cái gọi là sự thích ứng với hiện tại? Có thể buổi sáng hôm nay tiết trời chuyển tích cực đã cho ông những cảm giác thư thái? Mọi cái đều có thể và mọi thứ đều có thể. Thực ra mấy tháng gần đây ông Thanh thường xuyên được ra ngoài sân phơi nắng nhiều hơn. Mỗi tuần một lần vào ngày thứ hai đầu tuần. Lý do chính mà ông có được điều đó cũng bởi gần năm năm qua trong trại giam này ông là một trong số những phạm nhân có thái độ cải tạo tốt nhất. Không kêu ca phàn nàn. Không nổi sung bất chợt rồi chửi bới lung tung. Không cãi cọ hay đánh lộn  nhau. Không chậm chạp hay giả vờ đau yếu. Tất cả những thái độ đó của ông Thanh đã được anh cán bộ quản giáo trông coi buồng giam số 6 ghi nhận.

Nắng lên sau mưa thật khác lạ. Bầu trời cao xanh và trong veo. Gió mơn man thổi và không khí cũng trở nên trong veo. Cảm giác dễ chịu trở lại khiến ông Thanh tự nhiên thấy hứng khởi. Ông Thanh rút chiếc vỏ lon bia từ trong túi áo ra và từ tốn đặt nó xuống cạnh chân mình một cách cẩn thận quá mức. Ông đặt nằm chứ không đặt đứng. Hình như ông sợ đặt mạnh hay đặt đứng sẽ làm chiếc vỏ lon bia đó đổ kềnh và thêm gió thổi nó sẽ lăn trôi nhanh theo sườn đồi thoải thoải của khoảng sân trước trại. Đúng vậy, chiếc vỏ lon bia nhẹ tênh khẽ chùng chình theo hình dạng tròn vốn có, nó chùng chình lăn nhẹ chưa nổi một vòng rồi khựng lại bên một hòn đá nhỏ cỡ chỉ bằng viên bi ve. Ông Thanh đã khôn khéo đặt chiếc vỏ lon bia cạnh chỗ có một hòn đá nhỏ đó, đấy là vật chèn tình cờ nhưng lại có dụng ý.

Chiếc vỏ lon bia này vốn nằm lăn lóc cạnh bờ cỏ bên khoảng sân trước mặt buồng giam số 6, ai đó chưa kịp thu dọn sau một cuộc liên hoan của cán bộ trại, là một “đặc ân” mà anh cán bộ quản giáo còn khá trẻ có tên là Kiên đối với ông Thanh. Người cán bộ quản giáo phụ trách buồng giam số 6 ban đầu chưa hiểu ông Thanh định làm gì. Quy định trong trại giam nêu rõ, không cho phép bất cứ một người tù nào được đem những đồ vật bằng sắt hay thứ gì cưng cứng vào trong buồng giam, nhưng lần này thì phá lệ. Anh cán bộ quản giáo còn khá trẻ nên chắc dễ động lòng, sau khi nghe ông Thanh dụt dè trình bày mục đích của mình trong thái độ có vẻ không chút hy vọng, ông nói bằng cái giọng như chực khóc đã làm anh đồng ý. Lúc ấy ông Thanh đứng rập rình trước cửa buồng giam, ông chưa vào trong buồng giam ngay như mọi bữa sau khi đã hết giờ ra ngoài, ông đứng trước mặt anh cán bộ quản giáo cất giọng rụt rè nhưng đầy năn nỉ, ông xin anh cho phép mình được giữ nuôi con bọ ngựa non cùng lời thỉnh cầu được đem vào buồng giam chiếc vỏ lon bia. Nhìn bộ mặt tồi tội cùng mục đích hết sức đơn giản là xin giữ nuôi con bọ ngựa non của ông Thanh; anh cán bộ ngần ngừ suy nghĩ, khẽ rướn mắt qua vai ông Thanh để nhìn vào sâu tít trong buồng giam để kiểm tra, thấy vẻ ôn ổn, thấy bên trong không có biểu hiện nào đặc biệt thì anh gật đầu. “Lần đầu và lần cuối đấy nhé”.

Ông Thanh mừng hơn trẻ con được mẹ đi chợ về đưa cho mẩu quà. Ông lắc lắc mãi bàn tay anh cán bộ quản giáo để nói lời cảm ơn. Thực ra anh quản bộ quản giáo không lấy làm lo lắng cho hành động của ông Thanh. Ở trại giam nào cũng vậy. Nhất là những trại giam được giao nhiệm vụ giam giữ những tù nhân phải thụ án cao, thường người tù hay xin cán bộ quản giáo cho những đặc ân. Khi thì là một hơi thuốc lá. Khi thì là nhờ gửi mấy dòng thư. Chẳng có người tù nào đi xin một đặc ân khác lạ như ông Thanh, được nuôi một con bọ ngựa non. Trong thâm tâm anh cán bộ quản giáo thì không chóng thì chầy con bọ ngựa non này sẽ chết và ông Thanh thể nào cũng phải nghĩ cách đem chiếc vỏ lon bia rỗng ra ngoài bờ cỏ mà thôi. Cho ông ta tí chút gọi là được thỏa nguyện cũng là cách để ông ta cải tạo tốt.

Ông Thanh đứng yên vài giây, mắt đăm đắm nhìn chiếc vỏ lon bia đã nằm an tọa cạnh viên đá nhỏ. Đúng ra ông làm như thế cũng là để con bọ ngựa đang ở trong đó được ổn định sau “chuyến công du dập dình trong túi áo”. Hình như phải như vậy ông mới yên tâm. Còn sớm, mỗi lần người tù được ra ngoài sân phơi nắng chừng hai mươi phút nên ông Thanh không vội vã. Một chiếc vỏ lon bia không có giá trị gì với người khác nhưng với ông Thanh thì nó vô cùng quý giá. Sau khi được phép của anh cán bộ quản giáo, ông Thanh hí hửng mang vào trong buồng giam. Chính ông đã dành cả buổi sáng hôm đó để ngồi bệt dưới sàn buồng giam, nhẹ nhàng mài mài phần đầu của chiếc vỏ lon đó. Ông mài mài vừa độ để có thể cậy phần đầu vỏ ra được để làm thành một cái nắp vỏ lon mở ra lắp vào vừa khít mà không hề phải cắt gọt hay đục rập. Hài lòng với kết quả của mình, ông Thanh mới thong thả nhẹ nhàng thả con bọ ngựa non vào trong đó. “Mày sẽ ở trong đó”. Ông Thanh nói với con bọ ngựa và ghé mắt nhìn vào trong ruột vỏ lon bia qua lỗ hở mà phần giật nắp lon bia để lại. Thật hoàn hảo.

Yên tâm nhìn khoảng trời trong veo đến mát mắt, ông Thanh hít một hơi thở dài. Bao giờ cũng vậy, ông Thanh hít một hơi thở thật dài ngỡ luồng khí vào sâu tới tận dạ dày rồi mới nít thở nhẹ nhàng cậy nắp chiếc vỏ lon bia. Ông vẫn nít thở như vậy mà từ từ nghiêng dốc phần đầu đã mở của chiếc vỏ lon, ông dốc dốc thật từ từ để con bọ ngựa tự chui ra khỏi chiếc vỏ lon bia. Mọi động tác đều cẩn thận đến chậm chạp.

Cũng như chủ nhân của mình, con bọ ngựa sau khi chui ra khỏi chiếc vỏ lon, nó không nhấc những chiếc chân dài của mình để tạo ra một bước đi đầu tiên, nó ngẩng đầu đứng thẳng như cũng đang vươn người lấy lại tư thế, bởi suốt tuần nó bị nhốt khòng khòng trong lòng vỏ lon bia. Mới qua mấy tháng mà con bọ ngựa đã lớn trông thấy. Bộ cánh mỏng tơ ngắn cũn ngày nào giờ đã dài chấm đuôi. Đôi kiếm càng ngỡ chỉ chực gẫy giờ đã cứng cáp. Con bọ ngựa sau khi đã lấy lại được tư thế dáng hình của mình thì nó trông khá vẻ oai vệ, nó vươn vươn và ngoay ngoáy đôi kiếm càng trước không khí một vài lượt về phía trước như để tỏ sự lẫm liệt của mình và tỏ rõ sức mạnh của đôi kiếm càng rồi mới hạ xuống rất khiêm tốn. Nó đứmg yên lặng trên đám cỏ, không hề cúi đầu ăn nhanh thứ cỏ mới non sau mưa. Nó đứng yên lặng như chủ nhân của nó đang đứng ngay đó rất lặng yên. Rất lạ, con bọ ngựa này không hề tỏ dấu hiệu sẽ bước đi nữa hay đập đôi cánh mỏng như tờ giấy để chực bay đi. Cũng có thể suốt mấy hôm bị nhốt trong chiếc vỏ lon bia con bọ ngựa này cũng cuồng chân bó cẳng. Nó cuồng chân bó cẳng nên không thể cất mình bay lên được. Nó cuồng chân bó cẳng nên không thể bước đi tiếp được. Nó đứng đó yên lặng nhưng khẽ run rẩy thân mình trước làn gió thổi qua chân, không bước đi và cũng không bay đi. Con bọ ngựa đứng song hàng với chủ nhân của mình và lia lia đôi mắt to tròn nhìn cảnh vật xung quanh.

– Rước cái của nợ ấy làm gì cho mất thời giờ

– Anh bảo cái gì ạ?

– Tao thấy mày cũng lạ. Thân mình lao tù lại rước thêm một con bọ ngựa tù lao làm gì. Tao á. Được ra ngoài thế này thì tranh thủ mà hít tí khí mà ngắm tí trời. Đợi lúc hết giờ trở lại trong kia nằm chờ qua ngày.

– Nhưng con bọ ngựa này lạ lắm anh ạ.

– Lạ cái cóc khô. Nhưng sao ngần bấy ngày rồi mà nó chưa chết nhỉ?

Người bạn tù cùng ra ngoài sân sáng nay với ông Thanh là người không hề xa lạ. Một người đàn ông dáng cân đối, cao hơn ông Thanh nửa cái đầu và chắc cũng cùng tuổi với ông nhưng sự từng trải đến uy quyền được thể hiện qua đôi chân mày díu vào nhau và đôi mắt sâu luôn nhìn mọi thứ xung quanh rất lạnh lùng. Ông ta nhìn bề ngoài có vẻ lụng thụng trong bộ quần áo sọc đen nhưng cơ bắp chân tay của ông ta đủ làm ông Thanh phát ngại. Chính ông ta là người đã cho ông Thanh biết thế nào là sức mạnh của cơ bắp ngay trong cái đêm đầu tiên ông Thanh “xộ khám”. Người đàn ông trong bóng đêm đã ôm diết lấy cả người ông Thanh mà huých huých vào mạng sườn, huých huých vào mông ông Thanh những cú huých huých hối hả. Mãi mấy ngày sau, nghĩa là khi hai người đã tạm quen quen thì người bạn tù này mới nửa đùa nửa thật nói cho ông Thanh biết vì sao mình lại có những hành động kỳ quái chưa có tên gọi ấy. “Thằng tù nào chả vậy. Như tao với mày ấy. Biết đến khi nào mới được gần vợ. Không làm thế nó bức bối lắm”. Ông Thanh ngượng chín cả mặt như chính ông là người đã làm cái hành động kỳ quái đó. Ông ngượng nhưng không dám “từ chối” cái hành động đó. Nỗi sợ bị đánh còn ám ảnh nhất là nỗi sợ không làm hài lòng những người bạn chung tù.

– Mày chắc còn hy vọng cái gì.

– Anh hỏi gì ạ?

– Nẫu. Tao không hiểu sao mày cứ vâng dạ ngoan ngoan thế. Đã gọi là thằng tù với nhau rồi thì trên dưới làm gì có.

– Nhưng…

– Mày biết tao thế nào không?

– Dạ. Em không  biết.

– Có tao ở đây và chơi với mày những thằng khác phải tránh đấy.

– Vâng ạ. Em biết ơn anh lắm.

– Lại khuôn phép rồi. Tao có nói là mày ngoan ngoãn với tao đâu.

– Thế là gì ạ?

– Mày có nhìn thấy cái này không?

Người bạn tù vén tay áo lên. Thật hiếm lại có môt người nằm tù mấy năm lại có những cơ bắp còn chắc đến thế.

– Sức mạnh của tao đấy.

– Dạ em thấy đúng thế ạ.

– Lại một thằng ngố nữa. Thái độ của mày ngố lắm. Tao bắt đầu nghi ngờ rồi đấy.

– Không ạ. Em không dám.

– Tao có nói nghi ngờ cái sự “ngoan ngoãn” của mày đâu. Tao nghi ngờ cái khác kia.

– Dạ. Em đâu có.

– Thôi mày cứ lo chuyện con bọ ngựa của mày đi. Tao còn theo dõi tiếp. Khi nào thật chắc tao sẽ cho mày biết.

Người bạn tù quay đi. Ông ta cảm thấy đã phí thời gian khi đứng nói chuyện với ông Thanh. Ông ta lảng ra một góc sân và ngồi xuống. Ngồi khoanh chân bằng trên nền sân. Hai bàn tay ông tay đặt ngửa chồng lên nhau. Dáng ngồi thẳng. Mắt nhắm lại. Toàn bộ thân hình ông ta tập trung vào sự thu hút khí trời. Với ông ta thì thời gian lúc này chẳng gì quý hơn là tranh thủ hít thở bầu không khí thật sự. Lát nữa vào trong kia chỉ còn ngửi thấy mùi thân thể của những người tù lâu ngày không được tắm rửa cẩn thận, nó hôi mù mù đến lợm giọng.

Ông Thanh ngần ngừ liếc nhìn trộm người bạn tù đang ngồi như người ngồi thiền cánh đó không xa, ông chưa dám làm công việc của mình. Câu nói của người bạn tù làm ông chợt hai hãi như sắp phải chịu một thứ gì đó. Người này thật lạ? Ban đêm là ôm diết lấy người mình một cách hùng hục như làm chuyện ấy với vợ vậy. Đến sáng thì lại dửng dưng như chưa hề có chuyện gì xẩy ra. Hôm nay ông ta nói “nghi ngờ” là nghĩa làm sao? Tuy mải chăm sóc cho con bọ ngựa nhưng lòng dạ ông Thanh thấy rối bời. Những tưởng đã qua nỗi ám ảnh về những ngày ông bị triệu lên công an huyện thẩm vấn. Những tưởng đã qua nỗi lo lắng về những trận đòn do bạn tù gây ra. Ông Thanh lo sợ điều gì sẽ xẩy ra nên vội vàng đẩy đẩy ngón tay cố lùa con bọ ngựa chui trở lại vào trong chiếc vỏ lon bia. Thật lạ lùng. Con bọ ngựa ngúc ngoắc đôi kiếm càng rồi giương lên như chống đối. Con bọ ngựa lui lui những chiếc chân gai cào tỏ ý không muốn vào trong chiếc vỏ lon. Nó ngơ ngơ đôi mắt to tròn và trong như giọt sương nhìn thẳng vào mắt ông Thanh. Rất lạ lùng. Ông Thanh hơi hốt mà dừng ngón tay đang run run lại.

– Không có gì phải sợ.

Không tưởng tượng được điều gì đã và đang xẩy ra. Ông Thanh ú ớ, mắt mờ dại đi. Nắng sau mưa sáng rực rỡ khiến ánh nhìn của ông cũng bị nhòe đi. Con bọ ngựa thôi nhìn vào đôi mắt của ông Thanh. Nó quay đôi kiếm càng khua khua lên trời như thách thức những làn gió đang thổi sát mặt đất. Ở trên triền đồi gió thổi luôn cọ sát mặt đất, thổi làm bay dạt những chiếc lá cỏ non. Như sợ không kịp, ông Thanh vơ tay bứt bứt những chiếc lá cỏ non nhất nhét vội vào trong chiếc vỏ lon bia. Hàng tuần ông đều bứt cỏ cho vào đó. Khẩu phần ăn của con bọ ngựa từ hôm nay cho tới sáng lần sau ông mới được ra ngoài sân.

Giọng nói không biết từ đâu đưa tới đó ông Thanh đã từng nghe. Chỉ khác ông đã từng nghe vào lúc ban đêm. Lúc đó trong buồng giam chỉ vang lên thứ âm thanh duy nhất là những tiếng ngáy như sấm rền của những người bạn tù. Đêm đầu tiên xin được nuôi con bọ ngựa ông đã cẩn thận đặt chiếc vỏ lon bia ngay sát bên cạnh gối. Ông chỉ sợ ngủ quên ngộ nhỡ người bạn tù nằm bên cạnh ôm diết lấy mình mà đè bẹp chiếc vỏ lon bia thì con bọ ngựa sẽ chết lòi ruột. Ông đặt nó bên cạnh gối những phía trên gần đỉnh đầu. Cẩn thận vẫn hơn vì nếu ông bị người bạn tù đó lại ôm diết thì chiếc vỏ lon cũng không sao.

Nửa đêm im ắng, ông Thanh vẫn chưa ngủ được. Tự dưng có con bọ ngựa khiến ông thấy bồn chồn. Thấy mình phải có trách nhiệm nuôi giữ nó. Đó là niềm an ủi đối với ông cho qua ngày đoạn tháng. Đêm chìm sâu trong tiếng ngáy của những người bạn tù. Ông Thanh nhẹ nhàng tranh thủ lúc người bạn tù hay ôm diết lấy người mình giờ đã lăn ra ngủ mới dón dén kéo chiếc vỏ lon bia lại. Ông hơi nghiêng nghiêng vỏ lon bia nghe ngóng. Trong chiếc vỏ lon bia, con bọ ngựa chừng như biết chủ nhân của mình đang có ý kiểm tra bèn gài gại nhè nhẹ những chiếc chân gai cào của mình. Kê sát bên tai, tiếng gài gại chân của con bọ ngựa đủ để ông Thanh biết rằng con bọ ngựa vẫn còn sống. Ông hé mắt nhìn qua chỗ giật nắp bia hy vọng nhìn thấy rõ con bọ ngựa. Trong đó tối mù mù.

Bất chợt thoảng xa vời một giọng nói chỉ mình ông nghe thấy. Giọng nói khẽ khàng đủ cho ông biết là có âm thanh đang vọng từ trong chiếc vỏ lon bia ra nhưng ông không thể nghe được giọng nói ấy đang nói gì. Một chút hồ nghi lẫn lộn làm ông thấy lạnh lưng. “Có lẽ mình tưởng ra thế”. Ông Thanh tự vẫn và ngủ thiếp đi.

Vài ngày rồi vài tháng. Hễ đêm xuống sâu là ông Thanh lại tỉnh dậy. Ông dón dén kéo chiếc vỏ lon bia lại sát đầu mình. Thời gian hình như cũng dần định hình. Thứ âm thanh ban đầu mà ông Thanh ngỡ là tiếng chân con bọ ngựa gài gại vào thành vỏ lon cũng đã rõ ràng. Nó gài gại như thứ âm thanh nghe quen quen. Cố nặn óc để nhớ, cuối cùng ông Thanh cũng nhớ ra đó là tiếng rào rào của đoàn bộ đội hôm nào hành quân dưới mưa mà ông đã thấy. Lần này mắt không nhìn được những tiếng rào rào của nước mưa rơi bồm bộp lên những tấm vải mưa. Tiếng rào rào của những bước chân lép nhép cất từng bước nặng nhọc ngược lên đỉnh dốc. Tiếng rào rào của những hơi thở gắng gượng. Đoàn bộ đội đã tới đỉnh dốc. Ông Thanh đã nhìn thấy cha mình. Cha của ông quay mặt lại phía ông giơ giơ ngón tay như đang vẫy.

Hốt hoảng, ông Thanh chồm bật dậy. Thì ra ông vừa nằm mơ. Nhưng thực là lạ. Chỉ từ hôm ông nuôi con bọ ngựa trong chiếc vỏ lon bia thì những âm thanh nghe quen quen kia mới trở lại. Thực là lạ, những âm thanh đó chỉ vọng lên mỗi mình ông nghe thấy

***

Người bạn tù nằm cạnh ông Thanh thì ra cũng tuổi Sửu như ông. Đó là một người có bản tính khác hẳn với ông Thanh. Ông ta không âu sầu như ông Thanh. Ông ta không có nỗi sợ hãi lẩn quất như ông Thanh. Một người luôn tỏ ra có bản lĩnh trong mỗi hành động. Những ngày tháng nằm bên người bạn tù ấy tự nhiên ông Thanh thấy như có “chỗ dựa”. Không phải vì những cái ôm diết tới nóng bỏng sau lưng mà có một điều gì đó từ ông ta truyền tới. Nhưng sáng nay ông ta nói “nghi ngờ” là nghĩa làm sao? Ông Thanh chưa ngủ được. Câu nói tưởng chơi chơi vậy mà nó làm ông phải bận tâm. Hình như người này đọc được suy nghĩ của người khác? Hình như người này biết được sự thật mà chính ông không nghĩ ra.

Đêm rất sâu. Ngoài khoảng sân trước cửa buồng giam hương hoa vải luồn theo gió tới chỗ ông nằm đem theo cảm giác thân thuộc làm ông Thanh thấy nhơ nhớ như đang nhớ một điều gì mà ông không nhớ nổi. Ở trại giam Hoàng TIến này ban giám thị trại đã bắt buộc những người tù thụ án thấp, những người tù phạm tội không phải là tội trọng hoặc những người tù cải tạo tốt, vào công việc lao động hàng ngày như một liệu pháp cho công tác cải tạo, lại đồng thời cải thiện đời sống cả trại. Chính khu đồi đầy bạch bàn cao vút sau lưng các buồng giam là công sức của những người tù. Chính những gốc vải được trồng thành từng dẫy thẳng đẹp trong khu vườn trước mặt mỗi buồng giam cũng là công sức của những người tù. Ông Thanh đã vài lần được phép ra ngoài và được tham gia vào công việc chăm sóc những thứ cây đó. Thu năm ngoái, dẫy vải cho lứa bói quả dầu tiên. Những người tù như ông dĩ nhiên đã được hưởng đôi chút thành quả đó. Đang mơ màng tận hưởng hương hoa vải trong đêm bỗng người bạn tù nằm bên cạnh khẽ cựa mình. Ông Thanh cảnh giác nhưng trong bụng đã sẵn sàng đón nhận những vòng tay ôm diết lấy người mình như mọi đêm.

– Mày không ngủ à?

Tiếng hỏi làm ông chột dạ. Vẫn nằm ngửa, hai tay chắp trên bụng, người bạn tù lại cất tiếng hỏi.

– Tao biết mày không phải thế.

Một câu hỏi nhỏ nhưng giọng từ tốn không hề làm phiền những người tù khác cùng buồng giam cũng đủ cho ông Thanh biết người bạn tù đó đang hỏi mình. Ông cẩn thận hỏi lại.

– Anh bảo sao cơ?

– Trông cái tướng nhát chết của mày, trông cái mắt ngơ hiền của mày và nhất là nhìn thái độ chăm chút của mày với con bọ ngựa, tao biết mày không phải như thế.

– Em không hiểu.

– Mày không hiểu là phải.

Thoáng dừng vài giây người bạn tù lại nói tiếp.

– Nếu mày biết thì mày không thế.

Ông Thanh vẫn chưa hiểu. Nín lặng để suy nghĩ nhưng càng nín lặng ông lại càng lâm vào ngõ cụt.

– Mày có giết người ta đâu mà nhận.

Hoảng sợ thực sự. Năm năm rồi ông Thanh đã ngỡ quên được câu chuyện đó không ngờ đêm nay người bạn tù này lại khơi lại. Trong tù đã có luật bất thành văn là những người tù chẳng bao giờ tự nhắc lại chuyện mình đã làm và chẳng khi nào hỏi han nhau về quá khứ. Đó là điều cấm kỵ bởi hễ những ai đã vào đây thì chẳng có ai là người tốt đẹp cả. Câu nói đầy tính khẳng định của người bạn tù trong đêm nay khiến ông hoảng sợ. Ông sợ phải nhớ lại và sợ phải nói lại chuyện cũ.

– Thôi mày ngủ đi. Ngủ say vào.

Người bạn tù quay mặt đi ngủ tiếp. Ông ta thật dễ ngủ. Vừa quay đi đã cất tiếng ngáy ầm ầm làm ông càng thấy phân vân. Câu nói của ông ta khiến ông bắt đầu nghi ngờ lại chính mình. Nghi ngờ tất cả những gì ông đã tin là thật.

Ômg Thanh nghi ngại nhưng thuận tay kéo lon bia lại gần đầu mình. Tiếng gài gại quen quen lại vọng ra nhưng lần này tiếng gài gại như thúc giục hơn. Tiếng gài gại nho nhỏ nhưng rõ ràng là đang định bày tỏ điều gì. Ông Thanh ghé mắt nhìn qua lỗ giật nắp lon. Không thấy gì sất, bên trong lon bia tối om om.

– Mày vẫn không ngủ được à?

Người bạn tù bỗng hỏi lại. Câu hỏi của ông ta lần này khá thân tình.

– Mày dại lắm.

– Anh bảo ai dại.

– Mày.

– Em không hiểu.

– Tao có nghề nên tao biết.

– Anh biết.

– Ừ.

– Nhưng….

– Mình cùng tuổi sửu. Cái tuổi con trâu cày vất vả nhưng chỉ được người ta cho ăn cỏ thôi. Mà cỏ thì cũng lắm loại. Tao được ăn thứ cỏ ngon còn mày được ăn thứ cỏ dại.

– Cỏ dại.

– Mày ăn cỏ dại nên mày mới dại. Tao ăn cỏ ngon nên tao mới tưởng ngon. Tưởng ngon mà hóa ra cũng dại chẳng khác gì mày.

– Anh cũng như em á?

– Không. Mày khác, tao khác. Chỉ giống nhau là bây giờ cùng nằm ở đây thôi.

Người bạn tù thở dài ngao ngán. Ông ta lại quay mặt đi ngủ tiếp. Người đâu thật lạ? Ngủ rồi thức. Thức rồi ngủ. Nói chuyện hỏi han rồi ngủ. Ngủ tưởng say lại quay ra nói chuyện hỏi han. Ông ta cứ như ma ấy? Một con ma còn sống nằm sờ sờ ngay bên cạnh mình? Ông Thanh thấy muốn vùng dậy chạy ra ngoài nhưng ông biết là không thể làm thế được.

Trân trân nhìn lên trần buồng giam. Mắt ông không thể nhìn thấy được gì ngoài một màu mông lung chập chờn trước mặt. Người bạn tù đã ngủ say. Lần này ông ta ngủ say thật sự. Bằng chứng là chờ mãi ông Thanh cũng không thấy người này quay mặt lại và hỏi tiếp. Không có gì là sự thật và không có gì là không phải là sự thật. Trước mắt là khoảng mông lung chẳng rõ ràng. Trước mắt là những băn  khoăn kèm nỗi sợ khi người bạn tù bỗng dưng nói những câu nói làm ông khó hiểu. Đêm sâu như giấu kín. Ông Thanh nằm ngửa, hai tay vòng ra sau gáy làm gối. Đôi mắt trong trong không muốn nhắm. Ông sợ nếu bây giờ nhắm mắt và ngủ đi thì những câu nói của người bạn tù ban nãy sẽ tan biến.

Thực ra những câu nói của người bạn tù đã làm ông Thanh thấy bận tâm. Nhưng là cái bận tâm để lắng nghe chứ không phải là cái bận tâm lo sợ ban đầu. Cái bận tâm của suy xét.

Ông Thanh giơ tay đẩy mạnh cánh cửa. Cánh cửa như chưa hề khóa chốt bật mở tung và giang rộng ra. Cô Thoan không hề giật mình hay hốt hoảng. Cô vẫn đứng trước tấm gương treo trên vách. Ông Thanh chựng lại vài giây. Căn nhà trống vắng không có lấy một chiếc ghế. Ngần ngừ định quay ra nhưng tấm lưng để trần của cô Thoan làm ông thấy tiếc rẻ. Hình như cô Thoan này cô ấy đang chờ đợi? Ông Thanh nín một hơi thở dài rồi từ từ tiến lại gần cô Thoan hơn. Đứng ở đây ông đã cảm thấy hơi nóng từ thân thể cô đang tỏa về phía mình. Cái hơi nóng của người đàn bà đang độ cho con bú còn ngây ngất mùi thơm của sữa. Ông Thanh lại hít một hơi thở dài. Ông hít cái mùi thơm da thịt đàn bà đang như khỏa trần trước mắt mình. Dừng lại hay bước tiếp? thoáng phân vân và thoáng thấy chuyện tội lỗi sắp xẩy ra làm ông Thanh lúng túng. Nhưng cái mùi thơm da thịt cùng mùi sữa ngầy ngậy cứ hút lấy hai lỗ mũi của ông. Ông Thanh dón dén bước thêm hai bước chân nữa. Từ đây chỉ cần với tay là ông đã có thể chạm tới da thịt của người đàn bà hơ hớ thân hình đang đứng trước mặt. Cô ấy có chờ đợi như mình đã nghĩ không? Cô ấy có mong được như mình đã nghĩ không? Một loạt các câu hỏi lần lượt xuất hiện trong đầu khiến ông Thanh như ù hết cả đầu. Bước thêm một bước chân nữa là ông đã tới sát người cô Thoan. Bước thêm một bước chân nữa là ông đã chạm tới điều mà ba buổi chiều hôm nay ông đứng ngoài cửa lén nhìn qua khe cửa. Bước thêm một bước chân nữa là ông đã có thể thảo được niềm khao khát bấy nay. Bước thêm một bước chân nữa là ông đã…..

– Không!

Bất chợt ông Thanh hét lên rất to. Tiếng hét làm cả buồng giam cùng ồn ào như tổ ong vỡ. Ông vùng ngồi dậy, mắt hoảng loạn nhìn khoảng mông lung đang kín đặc trong buồng giam.

– Không phải tôi!

Vẫn hoảng loạn như chưa dứt ra khỏi dòng cảm xúc ông Thanh lại hét lên. Người bạn tù nằm bên cạnh tỏ ra rất có kinh nghiệm với những trường hợp một người tù nào đó tự dưng sinh hoảng loạn, ông ta đã ôm chặt lấy người ông. Vẫn ôm và giữ như vậy ông ta nói bằng thứ giọng đầy quyền uy của mình.

– Mọi người ngủ tiếp đi. Thằng này mê sảng đấy mà.

Buồng giam trật tự trở lại. Hơn nữa những người tù ở đây chẳng lạ gì những chuyện xẩy ra như cơm bữa như vậy. Một người tù mới tới còn chưa hết bàng hoàng tỉnh dậy giữa đêm la hét là chuyện vặt. Một người tù nhớ vợ nửa đêm mò dậy khua khoắng loạn xạ là chuyện thường tình. Một người tù quá dằn vặt với những tội lỗi mà mình gây ra đêm đêm thức dậy ngồi ôm đầu bịt tai rồi la hét chẳng có gì mới. Một người tù cảm thấy lạc lõng hoặc u sầu đêm không dám ngủ nói lảm nhảm cũng là chuyện thường thấy. Đám người tù cùng buồng sau khi đã buông vô số câu chửi thề rồi lại lăn ra ngủ tiếp. Nếu như không có người bạn tù nằm bên cạnh luôn có sức mạnh lạ lùng và uy quyền thì có lẽ đêm nay thế nào ông Thanh cũng bị những người đã bị ông vô tình quấy rầy kia chùm chăn đánh cho một trận nhừ đòn. Trong tù thường cũng là như vậy, kẻ nào làm người khác cảm thấy bị quấy rầy nếu không phải ăn đòn ngay trong đêm thì hôm sau cũng phải chịu hình phạt. Thứ hình phạt rất tùy hứng do người được gọi là “buồng trưởng” nghĩ ra. Án phạt hết sức đơn giản. Đổ phân cho cả buồng một tháng tròn.

Khéo léo vừa ôm vừa đỡ ông Thanh nằm xuống. Người bạn tù nằm bên cạnh vẫn giữ chặt ông Thanh trong vòng tay mình vừa dỗ dành hệt như một bà mẹ dỗ dành đứa con mình thôi khóc. Ông Thanh ngắc ngứ đầu vì bị ôm chặt tới ngột thở. Ông cựa quậy cố lấy hơi thở dồn dập như vừa trải qua một việc vô cùng cực nhọc. Tiếng thở dồn dập cũng dần dần nhỏ lại.

– Mày bình tĩnh lại chưa?

– Em bị làm sao à?

– Lại còn hỏi nữa. Thôi để tao ôm cho mà ngủ.

– Em thấy lạ lắm. Em không thế.

– Tao cũng biết như thế. Sao mày lại chịu.

– Em cũng không biết nữa. Nhưng…

– Nhưng gì?

– Hình như đúng là như thế.

– Nẫu quá. Mày đi tù là phải.

Đúng là không có người bạn tù nằm bên cạnh thì ông Thanh chắc không thoát đòn. Người đàn ông này thực sự có uy quyền trong buồng giam này cho dù ông ta không làm “buồng trưởng” hay đại loại như một thứ “đại ca” trong tù. Cánh tay săn chắc đầy cơ bắp của người bạn tù đã cho ông Thanh một vòng ôm chặt cứng. Ông cứ nằm nguyên trong vòng tay ấy mà lịm thiếp đi. Ông mơ mơ như đã tới một nơi nào đó. Nơi đó ông chưa hề tới bao giờ.

Ông Thanh đã đi tới một vạt đồi rộng mênh mông nhưng trơ trọi không có lấy một mầm cây nào gọi là sống. Chỉ chĩa thẳng lên trời vô số những mỏm cây cụt thân, cụt đầu trơ trơ màu than đen. Không gian đặc sặc một mùi khét cháy đến khó thở. Đâu đây thi thoảng lại bật lên tiếng lửa cháy sèo sèo, tiếng nổ lép bép. Lửa vẫn âm ỉ cháy trên mặt đất. Chân không có giầy, không có dép, ông Thanh chân trần lò dò đi trên những vạt đồi đang cháy nham nhở đó. Nhưng thật lạ là ông không hề thấy bỏng gan bàn chân hay bàn chân bị bỏng rộp. Vạt đồi mênh mông quá và không một bóng người. Ông Thanh lo ngại cất tiếng gọi to. Từ phía dẫy núi xa xa đằng trước mặt vọng lại thành chùm âm thanh nghe rờn rợn. Lúng túng không biết là làm thế nào mà mình đến được nơi đây nhưng quay về thì ông cũng không thể  nhận ra được lối. Hình như có một cơn gió vô hình nào đã đưa ông tới đây. Bộ quần áo tù với những sọc dọc màu đen bản rộng khiến ông như một cái cây sắp bén lửa. Hoảng sợ ông lại cất tiếng gọi. Không có tiếng nào đáp trả. Vạt đồi lại bật lên tiếng lửa cháy sèo sèo, tiếng củi cháy nổ lép bép. “”Đây là đâu?”. Ông Thanh đành tự hỏi và không thể tự trả lời câu hỏi của mình được. Vòm trời đọng khói tạo thnahg đám mây mù  giăng kín không cho con mắt của ông có thể nhận dạng đây là xứ sở nào. Bỗng đâu đưa tới mùi thịt cháy. Thứ mùi ban đầu khen khét như mùi thịt nướng rồi chuyển sang thành thứ mùi như mùi người chết. Không gian đậm đặc mùi tử khí lờm lợm.

Ông Thanh thất kinh. Hình như ông lạc tới một nơi vừa xẩy ra những cái chết. Bằng chứng là mùi tử khí ngày thêm nồng nặc. Chới với tay giơ về phía trước như tìm chỗ bấu víu. Không có gì. Đôi tay ông càng chới với thì người ông như bị kéo gục xuống mặt đất. “Mình sẽ nằm cùng những xác chết ư?”. Hoảng sợ lên tới tột đỉnh thì tự nhiên ông nghe thoảng bên tai tiếng gì rất nhỏ. Mùi tử khí cũng bay đâu mất. Vạt đồi mênh mông chỉ còn lại những tiếng lửa cháy sèo sèo cùng tiếng củi nổ lép bép. Tiếng lạ lùng thoảng bên tai lại dội lên. Lần này thì ông nghe rõ đó là tiếng đập cánh của con bọ ngựa. Mừng hơn bắt được của, ông Thanh quýnh lên định chạy. Tiếng đập cánh của con bọ ngựa nghe lượn bên tai. Ông Thanh ngẩng nhìn lên. Phía trước mặt ông con bọ ngựa không biết bằng cách nào đã thoát ra khỏi chiếc vỏ lon bia. Nó không đập cánh để bay nữa mà hạ xuống mặt đồi âm ỉ cháy nhảy choi choi, nó nhảy choi choi đằng trước mặt ông Thanh như một kẻ làm nhiệm vụ dẫn đường. Nó nhảy choi choi trên vạt đồi nóng rẫy lên vì lửa cháy. “Nó chết cháy mất?”. Ông Thanh vội nhao theo con bọ ngựa hy vọng đỡ nó lên nhưng hễ ông nhao gần tới chỗ nó thì nó lại bật đôi kiếm càng nhảy ra xa cách ông một đoạn. Nó nhảy ra xa và tiếp tục dụ dẫn ông đi theo nó.

Không biết ông đã đi theo con bọ ngựa được bao lâu nhưng rõ ràng là ông và con bọ ngựa đã đi gần hết vạt đồi cháy. Sắp tới một con suối cạn, ông Thanh đoán là vậy. Thấp thoáng đằng trước hiện rõ một cái bãi sâu và dài, ở đó thấy vô vàn những viên đá mồ côi hình tròn, hòn to như cái cối đá, hòn nhỏ cũng bằng quả bưởi. Đá mồ côi nằm chòng chọc, nằm lổm nhổm, cơ man là đá mồ côi nằm đè lên nhau chứng tỏ cũng lâu rồi con suối này không có nước chảy qua.

Con bọ ngựa vẫn nhảy choi choi chưa có dấu hiệu nó sẽ dừng lại hoặc là ông có thể với tay chạm tới nó. Ông Thanh đã nản vì mỏi và vì thấy mình đã thua trong cuộc dượt đuổi này. Bỗng bên tai ông vọng lên tiếng ai đó thủ thỉ.

– Cố lên con.

– Ai vừa nói đấy?

– Cố lên con.

– Ai nói đấy?

– Con không nhận ra ai ư?

– Không ạ.

– Cố lên. Cố lên rồi hẵng tin và hẵng khẳng định là không phải là mình.

– Sao không phải là mình?

– Thì chính con đã hét lên như vậy sao.

– Không!

Ông Thanh hét lên. Tiếng hét to và vang làm dẫy núi phía xa xa vọng lại hàng trăm hàng vạn tiếng “Không”.

Con bọ nhựa dừng lại cách ông Thanh tầm tay với. Nhưng nó không biểu hiện cho thấy nó muốn ông Thanh với tay bắt lấy nó. Ông Thanh cũng thôi ý định bắt con bọ ngựa trở lại. Ông không có chiếc vỏ lon bia trong tay. Con bọ ngựa dừng lại nghênh đôi kiếm càng lên như chỉ trỏ. Nó chỉ trỏ rất quyết liệt như bắt buộc ông Thanh phải để ý theo hường chỉ của nó. Thận trọng và hơi chần chừ, ông Thanh nhìn chăm chú về phía hướng chỉ của con bọ ngựa. Đôi kiếm càng của con bọ ngựa lại chỉ quyết liệt hơn. Bây giờ thì ông Thanh thấy mạnh dạn hẳn, ông dò dẫm đôi bàn chân không giầy không dép trên đất bỏng tiến tới bên con suối cạn.

Trong lòng con suối cạn cơ man là đá mồ côi lớn nhỏ nằm chồng đè lên nhau ấy ông Thanh bỗng thất kinh nhận ra, dải dác và nằm lẫn bên những hòn đá mồ côi là những hộp sọ người. Những chiếc hộp sọ người màu sáng ngà nhìn nổi bật, nằm dải dác, những chiếc hộp sọ người phơi ngửa lên nhìn bầu trời qua hai hốc mắt to tròn như hai con ốc nhồi đen hoắm. Ông Thanh co dúm người lại không dám bước tiếp nữa. Cảnh tượng hãi hùng làm ông cứng đờ đôi chân. Ánh mắt ông bỗng chạm vào một vật lạ còn mơi mới và có vẻ như không hề hấn gì qua thời gian và qua lửa cháy. Dưới mặt đất, ngay trước mắt ông, ngay trên nền đồi cháy bỏng có một chiếc mũ mềm, chiếc mũ bộ đội màu xanh lá lúa như ánh tươi lên và độc lạ giữa bao la chết chóc. Ông Thanh không tài nào hiểu nổi bởi sự thật lạ lùng là chiếc mũ vải mềm nằm rơi trên đất đang âm ỉ cháy mà nó vẫn còn nguyên vẹn. Ông Thanh sờ sợ nhưng không cưỡng được bèn cúi xuống nhặt chiếc mũ lên. “Mũ của bố”. Ông kêu lên hốt hoảng nhưng lóe lên sự trông đợi. “Mũ của bố”. Không còn nghi ngờ gì nữa. Chiếc mũ trên tay ông đúng thật là chiếc mũ vải mềm mà hơn bốn mươi năm trước ông đã được cha mình cho đội thử một lần. Ông mừng rú lên, cuống cuồng chạy bổ về phía con suối cạn. “Bố nấp ở đâu thế? Bố ra với con đi. Con không nhìn thấy bố đâu cả?

Ông Thanh cứ hét gọi như vậy. Chiếc mũ rõ ràng là ông đã cầm nắm rất chặt bỗng nhiên buông đâu và biến mất. Trên tay ông chỉ là một nắm đất cháy đen.

***

– Ông cụ mộng báo như vậy chắc là ông cụ rất muốn về đấy.

– Bố em muốn về?

– Đúng.

– Nhưng thân em tù tội như thế này thì đón ông cụ về bằng cách nào? Hơn nữa nếu ông cụ mà về thấy em như vầy chắc cụ lại muốn đi thôi.

– Ông cụ không tin mày làm nên tội.

– Nhưng ….nhưng đúng thế mà.

– Còn vợ con mày chứ. Nói vợ con đi đón ông cụ về.

– Anh nói em mới nhớ ra đấy.

– Mày nhớ cái gì?

– Tháng trước vợ em lên trại thăm nuôi. Vợ em hình như cũng nói như anh.

– Tao đã bảo mà. Nói thật nhé. Tao cũng là con liệt sĩ nên tao biết.

– Anh ….mà cũng…cũng là con liệt sĩ?

– Đúng. Nhưng chuyện ấy nói sau, giờ nói chuyện tìm cách đi đón ông cụ về. Này, không phải nhà nào cũng đi đón được liệt sĩ đâu nhé. Không phải liệt sĩ nào cũng muốn về đâu nhé.

– Em không hiểu.

– Nhiều nhà cậy nhờ thày này thợ kia tới nhà làm lễ cúng gọi hồn, có nhà còn bỏ ra cả đống tiền để thuê ngoại cảm mà có tìm và đón được liệt sĩ đâu. Tao cũng là con liệt sĩ nên tao biết. Chẳng tin cái bọn lường gạt đó được. Liệt sĩ là chuyện tâm linh. Mà chuyện tâm linh không phải hễ muốn là ứng báo được. Ông cụ nhà mày đã ứng báo thế là ông cụ linh lắm. Phải những người thực sự muốn về mới mộng về ứng báo.

– Em tưởng.

– Mày cứ tưởng, thế nên mày cũng đáng phải học bài học.

– Anh nói tiếp đi.

– Có nhà vợ chồng con cái lục đục. Anh em tỵ nạnh chẳng thèm ngó mặt nhau, có nhà anh em tranh giành nhau mà đâm ra mất hết tình thân. Liệt sĩ về mà làm gì cho khổ tâm. Lại có nhà có người chuyên làm chuyện mất nhân tâm, ví dụ như cướp của giết người hay tham ô hoặc luồn lách tìm cách thăng quan tiến chức mà giẫm đạp lên nhau, giẫm đạp lên cương thường đạo lý chẳng hạn. Liệt sĩ về làm gì cho xấu mặt.

– Em…

– Mày từ từ đã. Tao đã nói hết đâu. Liệt sĩ là chuyện tâm linh. Mà tâm linh tức là chuyện của cái tâm. Cái tâm sống ở trên đời của con cháu có sống tốt, có ăn hiền ở lành, liệt sĩ mới mộng báo đón về. Cái tâm đục, cái tâm ác thì có đem cả núi tiền mời thầy mời thợ, liệt sĩ cũng cạch mặt. Mày biết không. Người chết đi là chết cái thân xác, còn linh hồn thì không mất. Linh hồn bay đâu đó nhưng những người trần như tao với mày làm gì đúng hay sai linh hồn nhìn thấy hết. Chỉ ác nỗi linh hồn đâu phải là con người nên linh hồn chỉ thấy chứ không ngăn cản hay đồng tình được. Linh hồn trông thấy hết nên chuyện có muốn về hay không muốn về đều là do linh hồn quyết định. Người sống không làm thay không quyết định được.

– Anh nói hay quá. Nhưng em…

– Mày còn cấn cá chuyện của mày chứ gì?

– Vâng.

– Linh hồn thấy hết.

Người bạn tù không nói tiếp nữa. Ông Thanh thấy hoang mang nhưng cũng bắt chước cách ngồi như người bạn tù. Ông ngồi xếp bằng, hai lòng bàn tay để ngửa đặt chồng lên nhau. Đó là cách tốt nhất để ông và ông Dương, tên của người bạn tù nằm bên cạnh ông, trao đổi mà không làm ai để ý, không làm phiền ai và nhất là không ai được biết họ trao đổi gì. Sáng nay nắng vắng, vòm trời âm u báo hiệu sắp có mưa. Đó cũng là biểu hiện có tính thất thường của thời tiết buổi giao thời cuối xuân chuyển sang đầu hạ.

– Anh cũng là con liệt sĩ thật à?

– Tao với mày có nhiều thứ giống nhau lắm.

Ông Dương vẫn chăm chú ngồi như ngồi thiền mà tranh thủ hít thở không khí. Vẫn không nhúc nhích người, ông Dương thong dong đáp.

– Tao với mày giống nhau trước hết là hai thằng cùng tuổi sửu, thứ nữa là cùng là con liệt sĩ, cùng vào tù bởi cái tội liên quan đến người. Nhưng lại khác…

Ông Dương lại im lặng. Trên trời một đám mây xám lững lững trôi qua khiến mặt đất cũng tối sầm lại.

– Anh nói em không hiểu.

– Đấy khác nhau là ở chỗ đó. Mày dại quanh năm.Tao dại một lần. Nhưng tao nhìn mặt mày, tao thấy mày còn có cơ, còn tao thì mất. Mất vĩnh viễn. Mất không bao giờ lấy lại được.

– Em không hiểu.

– Số mày như có đám mây xám trôi qua. Mây trôi qua trời trong trở lại. Số tao thì khác. Mày vào tù vì tội “giết người” còn tao ở ngục vì tội “giúp người thân”.

– Giúp người thân mà phải vào tù? Anh nói thế em chịu.

– Mày dại do là mày mù quáng mà sinh ngộ nhận. Mày ngộ nhận nhưng còn có linh hồn che chở. Tao khác mày chỗ đó. Là vì tao cũng ngộ nhận. Nhưng tao ngộ nhận về sức mạnh của bản thân. Mày biết sức mạnh của bản thân là gì không?

– Em chịu.

– Sức mạnh của bản thân chính là quyền lực ở đời. Tao tin tao có quyền lực, tao tin tao có chức có quyền và hơn nữa tao lại quá tin vào những người có thể che chở cho tao. Hóa ra nhầm, làm gì ở đời này làm gì có chuyện người ngoài máu mủ lại dại dột đi che chở hay hứng cho mình.

– Em chịu.

– Mày chịu là phải. Tao nói thật nhé. Hóa ra ở đời cứ thường dân như mày lại sướng.

– Em mà sướng á? Em sướng đâu nỗi thế này.

– Mày sướng vì mày không có chức có quyền. Chức quyền như tấm áo mặc. Áo mặc dù đẹp dù tốt đến đâu cũng còn có ngày rách ngày phải thay, huống hồ chức quyền chỉ như thứ phù du. Mà đã là thứ phù du thì người ta vứt bỏ hay không thèm ngó ngàng cũng là chuyện thường ở đời.

– Như em thì sướng. Lạ thật đấy.

– Chứ sao.

Lại lặng im như để những câu nói nhấm vào trong dạ. Ông Dương vừa tỏ ra hiểu biết vừa tỏ ra chẳng hiểu gì cả. Ông Thanh thấy mừng bởi ông Dương xem ra cũng chẳng hơn gì mình. Cũng dại đấy thôi.

– Người tính chẳng bằng trời định.

– Đúng. Do trời định hết. Con người ta có số thật mày ạ. Khôn hay dại cũng đều có số. Chẳng ai cưỡng được cái số nên ráng mà chịu. Đấy là tao nói chung chung thế. Tao khuyên mày đừng tin vào số. Không ai cưỡng được số nhưng không lẽ cứ chấp nhận cái số không dưng quàng vào mình.

Ông Thanh sững sờ không tin. Ông đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Thì ra ông Dương này cũng rất đặc biệt. Thế mới biết tại sao trong trại giam này, trong buồng giam này, tuy ông Dương không phải loại “đầu gấu” hay “buồng trưởng” vậy mà tất thẩy người tù và kể cả cán bộ quản giáo của trại cũng tỏ ra tôn trọng. Một con người không dữ tợn trong tù hay bất hảo ngoài đời vậy mà ai cũng vị nể. Thì ra ông Dương vốn là một sĩ quan cấp cao công an thành phố H. Một cán bộ công an từng nổi tiếng với những chiến công đánh án táo bạo. Một người từng khiến bao kẻ giang hồ đất cảng phải xanh mắt.

– Tao cũng vì tình thân mà dại một lần. Ở đời, mà nhất là đã làm con người không thì đơn giản như mày nghĩ đâu.

– Dạ.

– Mày có cam tâm nhìn người thân của mình sắp nguy khốn không? Không chứ gì. Mày có cam tâm thấy người thân của mình sắp chết mà không giang tay ra đỡ không? Không chứ gì. Nhìn mặt mày tao biết mày còn có cơ đấy.

– Em chưa hiểu lắm.

– Mấy lần vợ mày lên thăm nuôi mày tao nhìn là biết ngay.

– Anh biết gì?

– Tao biết vợ mày rất tin mày. Vợ mày không chịu cam tâm nhìn cảnh mày lao ngục đâu.

– Vợ em á. Bà ấy làm thế nào?

– Vợ mày làm thế nào tao không biết được và cũng không nói vào được. Nhưng mắt vợ mày luôn ẩn giấu một điều gì muốn làm cho mày. Miễn là bà ấy không làm cái điều dại dột như tao đã làm ấy.

Ông Dương từng là một cán bộ cao cấp trong ngành công an. Ông vào tù vì tội “Tổ chức đưa người phạm pháp trốn đi nước ngoài”. Mà người kia đâu xa lạ, người ấy chính là anh ruột ông. Đúng là không nỡ cam tâm nhưng không phải hành động nào cũng đáng ngợi khen cả. Ông Thanh thấy những điều ông Dương nói với mình nó cứ như một linh cảm mơ hồ. Đêm hôm qua, trong giấc mơ ông đã tới một nơi xa vắng đầy chết chóc. Hình như ông đã được gặp cha mình mà ông không tài nào thấy mặt được. Không lẽ người chết đi rồi nhưng linh hồn còn lẩn khuất đâu đây? Không lẽ cha ông đã hiểu tường tận. Nhưng tận sâu trong lòng mình ông Thanh vẫn còn nghi hoặc chính bản thân mình. Nghi hoặc mà ông không thể lý giải được. Chính ban nãy ông Dương có nói: “Người có dã tâm ác độc nhìn mắt là thấy ngay. Những người ấy đôi mắt nhìn ngược lên thấy tròng con người trắng rã. Người khác nhìn vào tự dưng thấy chùn tay. Người ngay lòng thẳng dạ tròng con người có màu nâu nhẹ. Mắt mày nâu nhẹ thấy biết ngay là người dễ bị kẻ khác bắt nạt”.

Ông Dương ể oải đứng lên.

– Mày tin những điều tao vừa nói đi.

– Thế anh có đón được ông cụ nhà anh về không?

– Tao đùa đấy. Mà này, ở đời làm gì có chuyện người dưng đỡ đần nhau. Họ sẵn lòng hại nhau chứ nói gì đến việc đi làm gì đấy giúp nhau. Chỉ có người thân thôi. Người thân biết dại cũng cố giúp, huống hồ người thân của mình biết mình mắc hàm oan.

Ông Thanh cũng vội vã đứng lên theo. Hai mươi phút ra ngoài sân phơi nắng đã hết. Theo bản năng và cũng là theo thói quen, con bọ ngựa sau cái gẩy ngón tay nhẹ của ông Thanh đã tự giác rồi ngoan ngoãn chui vào trong chiếc vỏ lon bia. Ông Thanh nhấc chiếc vỏ lon bia lên. Không ghé mắt nhìn qua lỗ giật nắp lon n hư mọi lần mà lần này ông nâng dí chiếc vỏ lon bia lên sát tận tai. Từ trong chiếc vỏ lon bia những chiếc chân gai cào của con bọ ngựa đang gài gại. Thứ âm thanh thủ thỉ và an ủi ông suốt bao tháng ngày qua cứ âm thầm vọng ra.

NGUYỄN TRỌNG VĂN

(Còn tiếp)

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 1

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 2

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 3

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 4

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 5

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 6

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *