Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Tiểu thuyết Nguyễn Trọng Văn – Kỳ 2

HAI

VHSG- Đoạn dốc ngắn và thấp nằm trên con đường liên thôn nối làng Me với thôn Chằm thôn Chạ cùng xã chính là dấu tích còn lại của gò sấu. Theo những người cao tuổi trong làng kể lại thì, thuở xa xưa gò sấu được hình thành như một chứng tích của lịch sử, bởi nơi đây chính là một chiến địa nơi diễn ra những trận chiến dữ dội. Trận giao tranh giữa nghĩa quân Lê Lợi với quân cứu viện của nhà Minh do Đô đốc Thôi Tụ cầm đầu đã diễn ra rất quyết liệt ở đây. Về lai lịch của gò sấu thì sử sách tuy không chép lại nhưng người dân làng Me, tên gọi sau này của ngôi làng, đời nọ truyền đời kia đều như chép đã nói rất rõ. Từ cuối năm 1426, nghĩa quân Lê Lợi trong thế thắng chẻ tre đã giam chân đại quân nhà Minh trong thành Đông Quan. Cảm thấy thế đã cùng, lực đã kiệt và đã bị dồn tới thế bị tiêu diệt hoàn toàn nhưng giặc Minh vẫn ngoan cố, một mặt chúng viết thư cho Lê Lợi xin giảng hòa để rút về nước nhưng một mặt còn vì nghi ngờ thiện chí của nghĩa quân nên chúng cầu quân cứu viện từ chính quốc tới.

Quân cứu viện nhà Minh sau khi vượt Ải Nam Quan đã bị nghĩa quân ta chặn đánh quyết liệt, bị chia cắt khiến chúng không liên kết được với nhau. Một bộ phận lớn quân cứu viện nhà Minh sang đã phải dừng chân và đóng trại trên một cánh đồng có tên gọi là Xương Giang, cánh đồng này nằm bên bờ bắc sông Thương. Nhưng cũng chính tại đây quân cứu viện của Minh trong thế cô lập đã bị nghĩa quân Lê Lợi vây đánh, chúng nhanh chóng tỏ ra yếu ớt, chống đỡ một cách vô vọng và cuối cùng bị nghĩa quân Lê Lợi tiêu diệt. Chủ tướng Thôi Tụ của bộ phận quân cứu viện nhà Minh này phải lê gối dâng tờ tạ tội mới thoát khỏi tội chết.

Đó lại cũng là những ngày cuối thu đầu đông của năm 1427. Xác quân cứu viện nhà Minh nằm ngổn ngang khắp cánh đồng Xương Giang. Xác chết nằm dồn chất đống bên nhau, khiến mùi tanh hôi lan xa hàng dặm. Chỉ sau một đêm cả cánh đồng hoang vu cỏ lác thành một cái mả khổng lồ. Cái mả khổng lồ ấy qua thời gian bị mối xông mối đùn đã hóa thành đất tạo nên một cái gò cao. Không hiểu sau này ai đó đã đem trồng lên cái gò vốn là cái mả khổng lồ chôn xác giặc Minh đó những cây sấu, một loại cây dáng cao, lá rậm. Những cây sấu đó lớn rất nhanh và tỏa bóng lá xanh rì che rợp khắp cả gò sấu, những cây sấu cao to đã biến cái gò vốn là mả giặc đầy ma muội lại càng trở nên ma muội. Từ đó cái mả khổng lồ chôn xác giặc Minh được người dân quanh vùng gọi là gò sấu. Một cái gò đất um tùm lá sấu giữa vùng đất bằng phẳng bên sông Thương.

Nhà văn Nguyễn Trọng Văn

Giặc dã đã tan những người dân bảo nhau trở về cánh đồng Xương Giang lập lại làng. Ngôi làng nhỏ ban đầu hình thành cách gò sấu không xa nên mọi người gọi là làng Sấu. Làng Sấu có lẽ được ra đời từ đó. Nhưng cái tên “Sấu” nghe không đẹp không chữ nghĩa chút nào nên người dân làng Sấu gọi chệch tên làng mình thành “làng Me”. Đại loại me hay sấu cũng đều ám chỉ loại cây sinh ra thứ quả chua chua mà thôi. Làng Me chính là quê hương của ông Thành.

Gò sấu ngày trước là một cái đống màu xanh lớn, nhìn nổi trội giữa cánh đồng Xương Giang và um tùm cây sấu cũng nhỏ dần và thấp dần theo thời gian thành một gò nhỏ tương đối bằng phẳng như ngày nay. Nhưng theo những người già trong làng Me kể lại thì chính cái gò này từ hồi chưa mọc lên những cây sấu ấy, nghĩa là ngay cái hồi xác quân cứu viện nhà Minh còn phơi chất đống, còn phơi nắng phơi sương ấy. Xác quân cứu viện nhà Minh nằm chết trương phềnh, thối rinh đã lôi kéo cơ man nào là lũ quạ đen, lũ chim lợn về ăn xác thối. Người già còn kể, ban ngày lũ quạ đen bay rợp đất, chúng sà xuống bu thành đám để ăn xác chết, chúng kêu đập cánh quàng quạc kêu inh ỏi cả một vùng. Còn vào đêm đêm lũ chim lợn bay về kêu “éc” như nơi đây có trăm ngàn con lợn thi nhau giành mồi ăn. Tiếng kêu của bầy chim lợn nghe ghê rợn, nghe còn khủng khiếp hơn tiếng binh khí, tiếng người rên la than khóc ngày diễn ra trận giao tranh quyết liệt. Từng bầy chim lợn ùn ùn bay về náo loạn khắp vùng, làm quấy đảo mọi sinh hoạt của người dân quanh vùng. Những ngày náo loạn đó vùng này bỗng trở nên hoang vu và nẻo khuất đến khủng khiếp, không một ai dám bén mảng đến. Rồi cho đến một ngày không biết là ai đã đem trồng chính nơi dồn đống xác quân cứu viện nhà Minh đó những cây sấu. Loài cây sấu thật hiếm, nó như gặp đất bỗng trở nên tươi tốt. Cũng tại bởi lâu ngày nên xác chết quân cứu viện nhà Minh dần hóa thành bùn thành đất. Một thứ đất cho cây sấu lớn nhanh, mọc um tùm thành gò trên cái mả khổng lồ. Những cây sấu qua năm tháng đã tự nhiên mà góp phần phục hóa đất đai làm phai nhạt đi nỗi khiếp sợ cho mọi người. Gò sấu bỗng trở thành nơi trú ngụ cho những con quạ đen, cho những con chim lợn. Người già trong làng kể lại, chim lợn cứ đêm là bay vụt ra từ những tán lá cấy sấu um tùm. Chim lợn bay đi săn chuột đồng thay cho việc ăn xác thối. Mỗi khi đâu đó có người chết là lũ chim lợn cất tiếng kêu báo hiệu làm hãi hùng khắp làng trên xóm dưới.

Làng Me là nơi ông Thanh đã sinh ra và lớn lên ở đó. Ngày biết thế nào là sợ thì gò sấu cùng bầy chim lợn và lũ quạ đen chỉ còn trong những câu chuyện kể mỗi khi người lớn muốn mắng mỏ bọn trẻ con nghịch ngợm. Người dân đến lập làng cũng góp phần làm cảnh hoang vu ghê rợn dần sao nhạt. Lũ quạ đen không còn nơi trú ngụ đã bay đi đâu đó, chỉ còn lại dăm ba con chim lợn ban ngày rúc đầu vào tán lá sấu ngủ im lìm, thi thoảng lắm chúng mới có cơ hội cất tiếng kêu quen thuộc của loài chim đặc biệt này. Nhưng trong tâm trí của chú bé Thanh, rồi sau này là ông Thanh, thì tiếng kêu “éc” khô khốc lại đanh rợn trong đêm cứ ám ảnh mãi. Người ta thường nói, điều gì hễ còn ám ảnh là nó sẽ vận vào người sau này.

Gò sấu bây giờ bị san lấp dần để lấy chỗ cho người dân làm nhà. Làng Me thuở ban đầu đã quá nhỏ, nó không còn đủ chỗ cho những cư dân mới ngày một thêm nhiều lên. Người làng Me lân la đến sát chân gò sấu hơn. Lân la gạt đất san nền dựng nhà. Xác quân cứu viện  nhà Minh không còn là những thây ma nữa, xác đã biến thành bùn thành đất. Thời gian đã xóa đi mọi ký ức hãi hùng. Tiếng kêu của lũ chim lợn cũng thưa nhưng với ông Thanh nỗi ám ảnh có từ ngày bé còn chưa nguôi. Thằng bé Thanh rất sợ ngồi nhà một mình, nó ngồi nhà một mình mà trong đầu trong óc lại tưởng tượng ra tiếng con chim lợn kêu đánh “éc” báo hiệu ai đó trong làng vừa chết. Có người chết là có hồn ma, hồn ma chuyên đi bắt nạt trẻ con, bắt nạt người yếu bóng vía, người lớn thường dọa trẻ con như vậy. Thằng Thanh cũng tin như vậy. Thành thử nếu không may mà lại có một đêm nào đó nó chợt nghe được tiếng con chim lợn kêu thì thế nào thằng Thanh cũng len lén túm vạt áo mẹ đòi ngủ cùng. Nó sợ cảnh người chết, sợ những hồn ma lảng vảng trong bóng tối, hồn ma lượn lờ trên những con đường hay lối ngõ vắng vẻ tìm cách bắt nạt trẻ con.

Tiếng kêu “éc” của chim lợn bám diết tâm tưởng thằng Thanh cho tới tận cái ngày mà nó trở thành một người đàn ông chững chạc, trở thành một người chủ gánh vác vai trò trụ cột của một gia đình đủ có con trai lẫn con gái. Tiếng kêu “éc” theo đến một ngày ông Thanh cảm thấy có chuyện gì đấy đã xẩy ra.

***

Người làng Me có những cách lý giải của riêng mình. Những cách lý giải bắt đầu bằng việc kể những câu chuyện tưởng chừng xưa cũ, tưởng chừng đã quên, tưởng chừng mông lung với trẻ con. Và dĩ nhiên nó trở thành bài giáo huấn mà mỗi ông bố hay bà mẹ nào khi kể chuyện làng ngày xưa cho con cái mình. Ngày vừa tròn bảy tuổi, chú bé Nguyễn Hữu Thanh lần đầu tiên được cha mình là bác Nguyễn Hữu Tiến lý giải chuyện ngày xửa ngày xưa. Trong trí nhớ của thằng Thanh thì mỗi câu chuyện kể của cha mình như là mỗi trận đánh ác liệt đang diễn ra ngay trước mắt. Đôi mắt nó mở tròn, tận trong đáy mắt của nó hình như đang có một cuốn phim được quay chậm lại. Cuốn phim quay chậm với những âm thanh nghe ầm vang, đó là tiếng hô, tiếng thét vang trời đất. Đó là tiếng binh khí va chạm vào nhau kêu loạng xoạng. Đó là tiếng người bị thương đang rên gào đau đớn. Cuốn phim kết thúc bằng chiến thắng bao giờ cũng dành cho người chiến thắng.

Tự hào lắm con ạ. Cha thằng Thanh nhắc đi nhắc lại độc câu nói như vậy khi hai cha con nó đã sóng hàng ngang nhau và cùng đi xuôi trên con đường mòn màu đỏ son như dải lụa ai đó trải phơi trên mặt con đê chạy ôm lấy bìa làng. Từ trong làng Me muốn đi lên con đê, hai cha con phải đi qua gò sấu. Nắng chiều hắt ngiêng, soi ngả bóng những cây sấu cổ thụ cao lớn. Bóng cây sấu ngả xuống che rợp con đường liên thôn. Con đường liên thôn bây giờ thoáng rộng chứ ngày đó mới chỉ là con đường mòn nhỏ chạy vòng vòng quanh những thửa ruộng rồi men dưới chân gò sấu và nó rất nhỏ, nhỏ chỉ đủ cho một chiếc xe cút kít có độc mỗi một bánh xe bằng gỗ chở lúa về sân kho hợp tác. Bóng cây sấu rủ xuống làm mát cả con đường. Một màu nâu xám nhìn mát lịm in đậm giữa ran ran màu nắng. Hôm đó là một buổi chiều mùa hè năm 1968. Về chiều nhưng nắng còn nồng nã. Về chiều mà ánh nắng còn soi vàng cả cánh đồng. Lúc đi qua ngang qua gò sấu, hai cha con thằng Thanh đứng dừng lại. Thực ra là bác Tiến muốn cho thằng Thanh được dừng nghỉ nơi có bóng mát để nó thở. Cho nó lấy lại hơi sức sau khi nó đã cố dảo những bước chân ngắn cũn cho theo kịp những bước chân sải dài đều đặn, những bước chân đi đều giống các chú bộ đội tập đội ngũ của cha nó. Thằng Thanh chưa bao giờ được cùng cha nó đi chơi khi mà ngoài trời còn nắng rát như thế này. Từ đây nhìn sâu lên gò sấu chỉ thấy rậm rạp và tối u u bí ẩn.

– Trên gò sấu có ma hả bố?

Thằng Thanh mắt nửa nhắm nửa mở. Nó có vẻ sờ sợ, đứng nép sát vào người cha mình, hướng câu hỏi lên gò sấu nó hỏi thì thầm nhưng câu hỏi nghe rất quan trọng.

– Làm gì có ma. Trên đó chỉ có những con chim lợn đang ngủ thôi.

– Sao chim lợn lại ngủ ban ngày?

Bác Tiến không trả lời ngay và cũng không cúi người nhìn xuống đôi mắt vừa lén mở to của thằng con trai đang ngước lên. Bác Tiến biết, nếu cúi xuống và nhìn vào đôi mắt nửa nhắm nửa mở của thằng Thanh lúc này sẽ làm nó ngờ vực. Không nhìn tức là dửng dưng. Dửng dưng tức là không có gì đang ngại, coi như chẳng có chuyện gì phải hãi cả.

– Chim lợn ngày ngủ, tối bay đi săn chuột.

– Ban đêm tối thế làm sao chim lợn nhìn được chuột mà săn chuột hả bố?

– Chim lợn nhìn được trong bóng đêm.

– Như mắt con ma ấy á?

– Ai bảo con thế?

– Con không nhớ. Nhưng chỉ có ma mới nhìn được mới đi lang thang trong bóng đêm. Chim lợn bay trong bóng đêm được tức là chúng nhìn được.

Ăn nói lập luận hơi lý sự nhưng câu nói của thằng Thanh cũng làm ông Tiến phải ngập ngừng. Quả là câu hỏi kiêm luôn cách giải thích này cũng làm người lớn phải bí. Bác Tiến ngập ngừng chưa tìm được câu trả lời nào đủ để cho thằng Thanh vừa không sợ vừa hài lòng cái tò mò trẻ con của nó. Tít trong sâu tít trên gò sấu thoảng vọng xuống tiếng gì nghe vu vu, nghe rờn rợn. Một thoáng băn khoăn làm bác Tiến nửa muốn thôi câu chuyện ma quỷ này, nửa lại muốn giải thích cho thằng con trai. Trẻ con đầu óc non nớt. Nói thật chúng ít tin. Nói đùa chúng tin nhiều.

– Không có ma. Người ta đùa thôi.

Bác Tiến nói khẳng định. Đôi mắt chú bé Thanh chưa thôi ngờ vực bởi tiếng vu vu vọng xuống nghe như có tiếng thổi gió của ai đó đang thổi vào mang tai. Ban đêm mà tự dưng có ai dón dén lại sau lưng và thổi một luồng gió vào mang tai kể cũng rùng mình. Thằng Thanh đã đôi lần bị dọa trêu cái trò trêu đùa dọa ma ấy. Nó thêm sợ hãi đứng nép chặt hơn nữa vào sườn cha mình. Luồng gió lành lạnh cũng từ trong tít gò sấu bung tỏa xuống chỗ hai cha con đứng khiến người dũng cảm nhất cũng sởn gai ốc. Thằng Thanh nói lí nhí.

– Có ma thật đấy bố ạ.

– Những người dũng cảm không sợ ma. Con có dũng cảm không?

– Dũng cảm là gì hả bố?

– Dũng cảm là không sợ…sợ ma ấy.

– Như các chú bộ đội á?

– Đúng. Các chú bộ đội không sợ ma.

– Bố là “chú bộ đội”, bố cũng dũng cảm.

– Sao con biết?

– Vì đã là “chú bộ đội” thì đều dũng cảm.

Đó là buổi đi chơi đầu tiên chỉ có hai cha con. Một buổi đi chơi mà mãi sau này thằng Thanh vẫn còn nhớ. Tâm trí trẻ con tuy nông cạn nhưng những gì đã in đậm thì lại nhớ rất sâu. Chuyện được đi bên cạnh cha đàng hoàng như hai người lớn với nhau là một ký ức sâu đậm. Hôm đó cha nó đã cùng nó đi lên con đê làng. Con đê sững sừng chắn dòng nước sông Thương, mùa này nước sông Thương đỏ ngầu vỗ oàm oạp vào mạn đê. Chiều hè ran ran nắng. Nắng soi vàng mặt đê nhưng nắng lại làm dòng nước sông Thương đã đỏ lại thêm thêm óng ánh.

– Con biết không?

– Dạ.

– Mai bố đi chiến đấu.

– Như chuyện ngày xưa nghĩa quân giết giặc Minh chứ gì?

– Con biết giết giặc là để làm gì không?

– Nhưng con sợ lại có nhiều ….

– Con sợ có nhiều gì?

– Sợ sẽ có nhiều người chết. Lại có nhiều ma nữa. Bố ơi, thế bố đi chiến đấu bố có bị chết không?

– Sao con lại nói thế?

– Chiến đấu giết giặc chắc sẽ có nhiều tên giặc bị chết. Có người chết là sẽ có ma bố ạ. Bố chết bố sẽ hóa thành ma nhưng ma bố đừng về dọa con nhé. Con muốn ma bố là con ma tốt. Con ma tốt đi giúp người ấy.

Câu chuyện được chú bé Thanh chuyển hướng. Thực ra trong tâm trí của chú là cứ ở đâu hễ có đánh trận, có giết giặc là ở đó sẽ có người chết và hễ có người chết là có lũ quạ đen cùng bày chim lợn bay về ăn xác thối. Tức là sẽ có ma vậy.

– Bố sẽ không chết. Bố sẽ sống để trở về với con.

– Bố hứa nhé?

– Bố hứa….

Bác Tiến nói hơi ngập ngừng. Bác kéo thằng Thanh lại sát người mình hơn. Câu nói thật thà và còn ngô nghê của thằng con trai lên bảy làm bác chùng xuống, bác khẽ nhăn mặt để xua đi câu nói ấy trong đầu mình. Những tia nắng lọt qua tán lá sấu bất chợt làm gò sấu bừng sáng. Vẻ thâm u lạnh gáy thoáng chốc biến mất.

***

Ông Thanh ngước nhanh lên ô thoáng. Nắng chiều đang chiếu xiên khoai, nắng xiên khoai đã vô tình làm lọt một tia sáng vào trong buồng giam. Tia sáng in dài xuống nền buồng giam đang vẽ một dải ánh sáng trên cái nền xi măng thâm nâu và bóng trơn. Nhìn hình ảnh đó ông Thanh lại buông tiếng thở dài. Vậy là mình đã ngồi trong này được đúng bốn năm. Bốn năm ngồi tù sao dài đến vậy. Bốn năm ngày nào ông cũng đều đặn vào các tầm sáng, chiều và tối ngước mắt nhìn lên ô thoáng. Nhưng hôm nay như có gì đó lạ lắm. Từ sáng tới giờ ông Thanh luôn có tâm trạng bồn chồn. Từ sáng đến giờ ông Thanh luôn ngẩn ngơ. Ông tự phá cái lệ hàng ngày của mình. Ông đã không nhớ từ sáng đến giờ mình đã nhìn lên ô thoáng kia bao nhiêu lần. Lần nhìn này lên ô thoáng ông Thanh đã thấy có một vệt nắng lọt tới như một câu chuyện mới chợt lóe lên.

Giật mình với ánh sáng của câu chuyện mới đang lóe lên tình cờ, ông Thanh thẫn thờ trở lại trong cảm xúc thường ngày. Cảm xúc buồn trống buồn chếnh và buồn tắt lịm mọi hy vọng. Ông tự hỏi trong mung lung, tự hỏi trong  lẫn lộn giữa thực và mơ. Sao lại có những sự trùng hợp đến kỳ lạ như vậy? Sao tự dưng hôm nay ông lại nhớ về kỷ niệm của đúng bốn mươi năm về trước? Sao trong đời mình lại có những con số bốn đầy tính liên tưởng? Bốn tức là tứ. Mà tứ đọc chệch có nghĩa là tử. Tử nghĩa là con nhưng tử cũng có nghĩa là chết. Con số bốn. Chữ “tứ” và chữ “tử” sao lại đi kèm bên nhau như sự hiệu báo của số phận?

Bốn mươi năm trước, cũng vào ngày này, lần đầu tiên ông Thanh được cha mình dẫn đi chơi trên con đê chạy ôm lấy bìa làng Me. Sông Thương từ nguồn đổ về đến đoạn sắp chảy qua Phủ Lạng Thương thì con sông chợt uốn vòng như chính dòng sông ấy muốn ôm trọn cái làng nhỏ đơn sơ có cái tên giản dị được đọc chệch đi từ một cái tên không đẹp đẽ. Lần đi chơi đầu tiên chỉ có hai cha con không ngờ lại là lần đi chơi cuối cùng. Lần ấy cha ông được cấp trên cho về nghỉ tranh thủ đột xuất. Đợt nghỉ phép ngắn ngủi và không hẹn trước chỉ diễn ra đúng bốn ngày. Bốn ngày ông được cha mình dẫn đi chơi khắp làng. Như có gì đấy rất kỳ lạ mà lúc này ông Thanh mới tạm cắt nghĩa được. Bốn ngày nghỉ phép ngắn ngủi là bốn ngày cha ông dẫn ông đi chơi khắp chốn. Hình như cha ông muốn nói câu gì đó trong đợt nghỉ phép ngắn ngủi này. Hình như cha ông có linh cảm về sự ra đi mãi mãi của mình mà bốn ngày nghỉ phép ngày nào cha ông cũng đi quanh làng, gặp ai cha ông cũng chào hỏi thân thiết, đến chỗ nào cha ông cũng đứng dừng lại ngắm nghía hồi lâu. Đôi lúc cha ông đứng lại, người thẫn thờ như vừa đánh mất thứ gì. Ngày đó thằng Thanh còn quá nhỏ để hiểu chuyện linh cảm, mà thực ra sự linh cảm là một cái gì đó vô hình nên ai nào đoán định. Thằng Thanh chỉ tung tăng đôi chân để cố theo kịp bước chân của cha, nó đang sướng rơn lên vì được đi chơi cùng cha. Từ ngày cha nó đi bộ đội, nhà nó luôn vắng hình bóng của cha nó, bởi vậy dịp này nó sướng rơn cũng phải, nó sướng như người bắt được của. Hơn nữa nó lại được cha nó dẫn đi chơi như hai người lớn với nhau vậy. Hình như cha nó muốn dặn dò nó điều gì mà ông không thể nói ra. Thi thoảng nó lại thấy cha nó quay đầu nhìn ngiêng sang phía nó chằm chằm. Đôi mắt cha nó lạ lắm, rất lạ. Từ trong ánh nhìn của đôi mắt cha nó có những tia sáng ấm áp. Từ trong ánh nhìn của đôi mắt của cha nó có những lời thủ thỉ. Cha nó lại lắc đầu quay sang nhìn lảng ánh đi hướng khác. Lần này cha nó nhìn ra xa, cha nó nhìn xa tít sang bờ bên kia của sông Thương. Thằng Thanh cũng nhìn nhưng nó không nhìn sang bên kia sông. Nó nhìn xuống bến sông với một lối mòn chạy từ trên đên xuống. Giờ này bến đò sang sông thưa khách. Dưới bến chỉ có mỗi con đò được níu buộc vào chiếc cọc cắm trên bờ. Không có người chèo đò, không có ai đứng dưới bến chờ đò. Thằng Thanh ngước mắt lên giật giật tay cha nó. Cha nó không đáp lại, cha nó vẫn nhìn sang bên kia sông. Cha nó nhìn như người đang ngóng đò vậy. Rồi cha nó quay hẳn người nhìn về phía cánh đồng làng. Thằng Thanh cũng hóng đôi mắt nhìn theo. Nó chỉ thấy nắng chang chang, chỉ thấy toàn những thứ nó đã nhìn thấy, ngày nào nó cũng nhìn thấy nên chẳng có gì là lạ cả. Sao ánh mắt của cha nó cứ nhìn đăm đắm? Chiều đang nguội ngày. Trên đê gió đã chuyển mát. Hai cha con đi sóng ngang hàng nhau như hai người bạn. Họ đã đi như một cuộc dạo chơi cuối cùng?

Đúng là cuộc đi chơi cuối cùng. Buổi sáng hôm, sau tức là sau buổi chiều hai cha con đi xuôi trên con đường mòn như dải lụa phơi trên mặt đê, sáng hôm sau khi ngủ dậy thằng Thanh đã không thấy cha mình đâu nữa. Nó chạy ra sau nhà gọi toáng lên, không thấy cha đâu. Nó chạy tút ra ngoài bìa làng gọi toáng lên, cũng không có cha nó đứng ở ngoài đó nhìn xa xăm khắp cánh đồng. Nó chạy cắm cúi đến gần gò sấu, bước chạy của nó chậm lại, mắt nó nhìn len lén lên gò sấu vì chỉ sợ bất chợt trong tán lá sấu rậm xanh rì bay vọt ra một con chim lợn. Cũng không có cha nó đứng đó chờ dắt tay nó. Thằng Thanh nhắm mắt cắm cổ chạy qua gò sấu, nó lao một mạch lên mặt đê, không có cha nó đứng đó mỉm cười xoa xoa đầu nó. Chiều hôm trước, khi đứng trên mặt đê lộng gió cha thằng Thanh đã gỡ chiếc mũ tai bèo đang đội xuống, cha nó đã đội lên đầu nó. Chiếc mũ này thằng Thanh đã mấy lần mân mê ngắm nhìn cha nó đội, mấy lần nó chỉ nhăm nhăm chực đòi đội thử mà không dám lên tiếng, trong suy nghĩ của thằng Thanh thì hễ những ai đã được đội chiếc mũ đó phải là những người như cha nó, nghĩa là người ấy phải cao lớn, người ấy phải biết nhiều chuyện và nhất là người ấy phải không sợ  ma. Chiều ấy nó sướng còn hơn được quà. Nó đã được cha nó cho đội thử chiếc mũ tai bèo. Thằng Thanh sướng quá, nó chạy ra mép nước, nó nghiêng bên trái, nó xoay bên phải, dưới mặt nước dập dờn cái đầu bé tẹo của nó đang ngất ngư chiếc mũ. Nó khoái đến phởn chí quên phắt cha nó đang đứng trên đê nhìn từng cử chỉ của nó. Mái tóc của cha nó đang bay tung tóa trước một cơn gió thổi từ dưới mặt sông lên. Nhưng nó chợt buồn vì bây giờ mặt đê vắng ngắt không một bóng dáng người, không có ai trông thấy nó đội chiếc mũ bộ đội của cha nó cả. Giá kể lúc này mà có thằng bạn nào của nó trông thấy thì nó vênh mặt lắm. Làng này đã có thằng trẻ con nào được như nó đâu?

Thằng Thanh cố đưa mắt nhìn quanh quất như thể nó không bỏ sót một chỗ nào trên đê. Dòng sông Thương lấp lóa nở ngàn vạn ánh vàng ánh bạc đẹp lung linh dưới nắng và cũng không thấy một bóng đò. Nhưng lúc này nó đâu có tâm chí ngắm ngàn vạn ánh vàng ánh bạc đó. Nó tìm cha nó nhưng không thấy. Thằng Thanh sợ hãi gọi toáng lên. Chỉ có dòng sông Thương chảy đỏ ngầu ngoài kia cất tiếng oàm oạp vào mạn bờ là đáp lời nó.

Thằng Thanh nháo nhào cắm mặt chạy bổ về nhà. Mẹ nó đang ngồi bên giường, mắt của mẹ nó rân rấn nước. Nó đã hiểu, cha nó sáng sớm nay đã trở lại đơn vị. Trước khi rời khỏi nhà cha nó đã đứng rất lâu bên giường nhìn nó ngủ. Mẹ nó giọng còn chưa nguôi thổn thức nói vậy. Cha nó đã không đánh thức nó dậy. Cha cúi xuống vỗ vỗ vào đôi má nó. Cái vỗ vỗ êm êm đã vô tình ru thêm cho nó vùi đầu vào gối và ngủ tiếp.

– Bố đi rồi hả mẹ?

– Bố đi chiến đấu rồi.

– Sao bố không cho con đi cùng?

– Con còn nhỏ. Muốn đi chiến đấu thì phải lớn lên đã.

– Không có con ở bên bố. Con sợ…

– Sợ gì?

– Sợ bố sẽ chết.

Mẹ thằng Thanh im lặng. Mẹ nó nghe nó nói những câu khó nghe nhưng cũng không mắng nó ăn nói gở miệng. Mẹ nó kéo nó lại gần, ôm chặt lấy nó như chính trong thâm tâm của mẹ nó cũng đang sợ hãi cái điều như thằng Thanh vừa nói. Mẹ nó khẽ tát yêu vào má nó. Mẹ nó cúi đầu, những giọt nước mắt chảy xuống đầu thằng Thanh nóng hổi.

***

Ông Thanh run lên như người đang sốt. Không ngờ câu nói trẻ con thơ ngây ngày nào của mình lại ứng báo. Lần về phép ngắn ngủi ấy là lần về nhà cuối cùng của cha ông. “Chú bộ đội” có cái tên là Nguyễn Hữu Tiến được cấp trên cho về nghỉ tranh thủ đột xuất đã không bao giờ trở về lại nhà được nữa. Người cha ấy đã không bao giờ thực hiện được lời hứa sẽ trở về với thằng con trai lên bảy của mình được nữa. Người chiến sĩ ấy đã hy sinh sau lần về phép thăm nhà cũng đúng bốn năm sau. Hè năm 1972, ông Tiến hy sinh, giấy báo tử gửi về cho gia đình ghi vẻn vẹn dòng chữ “Được an táng tại nghĩa trang mặt trận phía Nam”.

Ngước mắt nhìn trân trân lên ô thoáng. Ông Thanh luôn tự dằn vặt mình, luôn tự cho mình là kẻ đã gây nên cái chết của cha mình vì đã nói câu xui gở. Lòng băn khoăn của một người mắc lỗi làm ông Thanh thêm run rẩy trong mặc cảm. Hôm nay đúng vào ngày giỗ của cha ông. Ngày giỗ quan trọng vậy mà ông không có ở nhà, ông không làm được nghĩa vụ báo hiếu cho cha mình. Con số bốn linh ứng đã trở về cũng đúng vào cái ngày của bốn mươi năm về trước, ngày hai cha con ông gặp nhau lần cuối cùng. Câu hỏi ngây ngô nhưng đầy lo sợ của trẻ thơ đã ứng. Cha ông đã chết. Một thoáng thất thần hiện trên nét mặt. Nhưng cái chết của cha ông năm nào đã giúp ông thoát khỏi tội chết. Cha ông đã dùng cái chết của mình để cứu sống ông sau bản án nghiêm khắc được tuyên cho tội “Giết người”. Cái tội của ông. Đấy chính là tình tiết giảm nhẹ, một đặc ân mà tòa đã xem xét khi công bố các tội danh.

Vì mình là con liệt sĩ nên mình mới thoát chết ư? Vì mình là con liệt sĩ nên mình mới thoát chết ư? Đã bao lần ông Thanh hỏi vậy và mỗi lần cất tiếng thầm hỏi ông lại ai oán chính mình. Cha ơi. Cha đã cứu con thoát chết liệu cha có cứu con ra khỏi nơi này không? Ông Thanh cúi gằm mặt nức nở. Ông khóc thực sự như một đứa trẻ.

Nắng chiều làm nóng bỏng những bức tường buồng giam. Không khí oi nồng đến tức thở. Đưa tay lên ghìm đỡ ngực để cố nuốt miếng nước bọt đang ứ đầy trong miệng, ông Thanh cảm thấy ngột ngạt tưởng đứt hơi. Buồng giam chiều nay khá tĩnh lặng. Chỉ có tiếng nắng soi lách tách những chiếc lá bạch đàn ngoài kia đưa vào. Nắng đang hong cháy những chiếc lá bạch đàn. Không gian như trầm lại. Một không gian trầm đủ khiến những người vô tâm nhất cũng phải bắt đầu suy nghĩ.

Bốn có nghĩa là tứ. Tứ chệch nghĩa là tử. Tử có nghĩa là con và tử cũng có nghĩa là chết. Những lập luận liên tiếp đưa tâm trí ông Thanh vào trận u mê. Kỷ niệm về một thắng bé ngây thơ bên người cha từ bốn mươi năm trước không ngờ lại trở về trọn vẹn như nó vừa mới xẩy ra. Không hiểu sao cái chết cứ đeo đẳng vào người mình thế này? Không lẽ chuyện đời mình luôn gắn với cái chết. Không hiểu sao con số bốn lại gắn với đời mình như một định mệnh vậy?

Ông Thanh rầu rầu nhớ lại. Vào đúng cái ngày bố ông hy sinh ở mặt trận Tây Nguyên như tờ giấy báo tử đã ghi. Tờ giấy báo tử chỉ nhỏ bằng hai bàn tay người lớn, mặt trái tờ giấy sờ tay hơi ram ráp, mặt phải có vẻ nhẵn hơn được viết những dòng chữ nhập nhòa. Tờ giấy có màu giống màu của gốc rạ khô đã được mẹ ông thong thả gấp làm tư, bà cất kỹ tận đáy hòm quần áo. Hồi còn sống, vào ngày 24 tháng 5 hàng năm là mẹ ông lại mang tờ giấy ố vàng đó ra. Bà cẩn thận vuôn vuốt tờ giấy cho phẳng lại rồi trịnh trọng đặt lên bàn thờ. Hôm đó là ngày giỗ của liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến. Thằng Thanh tò mò đứng nép bên cột nhà theo dõi từng cử chỉ của mẹ.

Hôm đó, tức là ngày 24 tháng 5 năm 1972, cái ngày ghi trên giấy báo tử nói về sự hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến ấy, thằng Thanh như thấy có điềm báo (chuyện này đến giờ ông Thanh mới nhận ra). Nó đang nằm thiu thiu ngủ trên giường chợt nghe như có tiếng ai lay gọi. Tiếng gọi nghe thoảng xa như tiếng gió thổi. Tiếng gió thổi giữa trưa hè nghe oa oa như tiếng trẻ con khóc. Thằng Thanh vội bật dậy, nó ngóng mắt trông ra cửa. Đôi mắt của nó nhìn trân trân như thể đang có ai đó đứng trước cửa. Thằng Thanh dụi mắt nhìn kỹ hơn, ngoài sân nhà nắng chang chang. Cái bóng người mà thằng Thanh hình như vừa nhìn thấy đứng trước cửa có nét hao hao giống cha nó. Dáng gày gày, mặt xương xương, nước da xanh tái, mái tóc lòa xòa vài sợi vương trên trán. Cha nó nhoẻn miệng cười để lộ hàm răng bám vàng khói thuốc lào. Đó là một chú bộ đội. Rõ ràng là một chú bộ đội. Bộ quân phục rung rúc nhưng xem ra còn tươm tất. Chiếc mũ tai bèo đội trên đầu bị gió thổi hất ngược làm lộ vầng trán với những nếp nhăn. Chú bộ đội trông giống người cha của thằng Thanh của buổi chiều bốn năm trước, người ấy đang đứng thẫn thờ bên bậu cửa, người ấy nhìn xoáy vào người thằng Thanh rồi vụt lảng bay đi. Hoảng hốt và bị kích động, thằng Thanh nhao vội theo.

Nó lao một mạch lên triền đê. Nó đã chạy tới đúng chỗ có lối mòn dẫn xuống bến đò. Chỗ ấy nó và cha nó đã dừng lại. Nắng như rang như đảo. Mồ hôi tứa ra ướt đầm lưng áo nhưng thằng Thanh không ngại. Nó hăm hở đuổi theo cái bóng người cứ lảng vảng, cứ chập chờn ngay đằng trước mặt. Trên triền đê lộng gió. Những cơn gió thổi từ mặt sông Thương lên mang theo hơi nước làm man mát da mặt. Hơi nước làm man mát cái lưng đang ướt đẫm mồ hôi. Một cảm giác se se từ đâu ùa tới làm thằng Thanh rùng mình liên tục.

Không có chú bộ đội nào ở trên đê cả. Bến sông trưa nay cũng vắng. Con đò đang nằm mãi ở bên kia sông. Chỉ có dòng nước sông Thương đỏ ngầu chảy mải miết vỗ vào mạn bờ oàm oạp. Thoáng sợ hãi thằng Thanh toan co chân chạy về nhà nói chuyện với mẹ. Đôi mắt nó chợt bắt gặp ngay sườn đê cạnh bên lối mòn dẫn xuống bến đò một dáng người nhỏ tí tẹo đang ngồi ôm mặt khóc nức nở. Thằng Thanh đã trấn tĩnh lại, nó quên luôn chuyện bóng hình chú bộ đội bảng lảng vừa xa vừa gần đang như gọi nó. Tiếng khóc nức nở hiện hữu chứ không hề mờ ảo. Nhưng rất dón dén, thằng Thanh xuống gần tiếng khóc nức nở. Tưởng ai hóa ra lại là con bé Chiên, con bé cùng làng Me với nó nhưng kém nó hai tuổi đang ngồi bệt mà ôm mặt khóc.

– Mày làm sao mà khóc thế hả Chiên?

– Em sợ lắm.

– Mày trốn nhà đi đâu để ra đây ngồi khóc?

– Em đi đón mẹ.

– Mẹ mày đi đâu?

– Mẹ sang bên sông đi chợ mãi không về.

– Mày về nhà đi. Thảo nào mẹ mày cũng về. Chưa biết chừng mày ngồi đây khóc thì mẹ mày đã ở nhà rồi.

– Nhưng em không về được.

– Sao. Mày bị đau chân à?

– Không.

– Thế thì sao?

– Em sợ.

– Mày nói nhanh lên không tao về đây.

– Em sợ cái anh kia lắm.

Theo tay chỉ của con bé Chiên bấy giờ chú bé Thanh mới nhìn thấy thằng Thủ người thôn Chằm đang đứng trên mặt đê cánh đó không xa. Thằng Thủ đang cười nhăn nhăn. Thằng Thủ này ai còn lạ gì nó. Nó cùng học trường cấp 2 với thằng Thanh nhưng lại cùng khối bởi nó bị đúp ngay năm đầu vào cấp học. Cái thằng mà chẳng buổi sáng thứ hai chào cờ nào mà không bị bêu tên toàn trường. Một thằng con trai hơn tuổi thằng Thanh và nó to con và nhỉnh hơn thằng Thanh dễ tới một cái đầu. Thằng Thủ đứng cách đó đoạn ngắn cười nhăn nhăn, trông rất đáng ghét.

– E thằng Thanh còi kia. Mày động vào tao đánh cả mày đấy.

– Tao động vào cái gì?

– Mày động bênh con bé kia xem sao. Tao đánh ngay.

– Sao mày lại đi bắt nạt con gái?

– Việc gì tới mày. Tại nó đứng chắn đường tao đi.

– Nó mà chắn được đường mày?

– Chính nó.

– Có mày bắt nạt con gái thì có.

– E, thằng còi. Mày xéo đi.

– Mày phải nói với tao tại sao mày đánh nó.

– Thì tao đánh nó đấy. Tao còn đánh cả mày nữa.

– Mày dám không?

Chưa bao giờ chú bé Thanh lại dũng cảm đến vậy. Nhớ lại chuyện này ông Thanh bất giác cười một mình. Một nụ cười phải mất tới bốn năm mới có dịp trở lại trên môi ông nhưng đấy lại là nụ cười khi nhớ lại chuyện ngày xưa. Trưa hôm ấy lần đầu tiên thằng Thanh dám dũng cảm một mình đứng đôi co với thằng Thủ người thôn Chằm ở ngay trên đoạn đê trống vắng. Hú hồn hôm ấy không hiểu sao thằng Thủ chỉ gân mặt lại. Nó đứng như trời trồng khi bất ngờ thằng Thanh dám lên tiếng bảo nó bắt nạt con gái là thằng hèn. Nó bất ngờ vì xưa nay có thằng con trai nào cỡ tuổi như vậy lại dám cãi lại nó và đứng ra bênh vực cho một đứa con gái. Nó bất ngờ vì tình huống diễn ra xưa nay chưa hề có. Thằng Thủ Chằm đứng gân mặt, mắt gờm gờm, bàn tay nó nắm lại thành quả đấm nhưng nó không động thủ. Thằng Thủ Chằm chỉ gờm gờm rồi quay phắt bỏ đi, nó vừa bỏ đi vừa hát ê ê “Lêu lêu. Thằng Thanh con Chiên là hai vợ chồng. Lêu lêu. Hai vợ chồng, chống vợ hai. Lấy lá gai cài lá mít. Lấy lá mít dít vào mông. Lấy lá hồng chồng lá gai. Lấy lá gai gài lá mít….”

Những ai ở thôn Chằm và cả ở làng Me đều không lạ gì thằng Thủ này. Một thằng con trai mới mười hai tuổi nhưng đã nổi danh. Nổi danh với biệt danh “Thủ Chằm” nghĩa là thằng Thủ người thôn Chằm. Cái biệt danh ấy người làng Me, người thôn Chằm ngỡ đã chấm hết nghe thấy khi hai năm sau nó cùng gia đình chuyển đi nơi khác sinh sống.

Nghe tên nó những thằng con trai hơn nó vài tuổi cũng ngại bởi vì thằng Thủ Chằm vô cùng liều lĩnh. Thằng nào lơ mơ dám đấu chọi với nó coi như ăn chắc thua. Da đen như con dế trũi, đầu húi cua, cặp mắt ti hí và đôi tay chắc như cua gạch, thằng Thủ Chằm hễ đã muốn làm gì là nó làm bằng được. Ví dụ như nó đi ngang qua thấy nhà nào sơ sẩy quen gài cửa thảo nào nó cũng mò vào. Không có ai thì nó thấy gì nẫng nấy. Có người thì nó gờm gờm quay ra coi như chẳng có chuyện gì xẩy ra. Hễ ai mắng mỏ hay quát đuổi thì nó gân mặt chửi rả. Hễ có thằng nào định đấu với nó thì nó nắm tay lại lao vào đấm đá tới tấp. Thằng này liều lĩnh có mả. Thằng này đã nói là làm. Vậy mà trưa hôm đó nó lại quay đi mới lạ. Thằng Thủ Chằm sau khi ê a hát thì quay mặt lại nói rõ to “Rồi có ngày tao cho mày biết tay thằng Thanh còi kia”. Câu nói răn đe ấy không ngờ ba mươi mốt năm sau thằng Thủ Chằm đem ra làm thật.

***

Hay là cha đã về cứu con, cha che chở cho con, cha đã ngáng không cho thằng Thủ Chằm hành động. Ông Thanh bồi hồi thầm nghĩ. Trưa hôm đó linh cảm về một điều hệ trọng xẩy ra với gia đình mình mà thằng Thanh vùng dậy nhao lên đê. Thôi đúng rồi. Ông Thanh rớt nước mắt. Vào đúng thời khắc cha ông trúng đạn ngã xuống nơi chiến trường cũng là lúc thằng Thủ Chằm nắm chặt hai bàn tay thành hai quả đấm. Thằng Thủ Chằm ban đầu định gân mặt nắm tay kiểu dọa nạt hay dằn mặt đối thủ trước xem thái độ của đối thủ chấp nhận đến đâu rồi mới ra tay hành động. Hình như chính thời khắc ấy linh hồn liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến đã kịp thời có mặt và ngăn nó lại. Bằng chứng là thằng Thủ đột ngột chững người lại, nó đột nhiên hiền  lành, nó từ từ thả lỏng hai rồi mở hai bàn tay ra, mặt nó bỗng trông tím bặm đầy hung tợn nhưng nó lại không hành động, nó quay đi. Một điều lạ chưa từng có trong ý thức liều lĩnh và tợn mình của cái thằng nổi danh bất hảo người thôn Chằm ấy.

Thôi đúng rồi. Linh hồn cha mình đã kịp thời xuất hiện. Linh hồn tức là ma ấy. Ma thì ai nhìn được, ai mà trông thấy được. Người không nhìn thấy ma những ma lại nhìn thấy hết mọi hành động của người. Hình như ma còn nhìn được thấu cả những suy nghĩ của người nữa. Ông Thanh thở giãn ra. Lại một nụ cười nữa hiện trên đôi môi khô quắt. Đã bốn năm trôi qua không hiểu sao những hôm như hôm nay ông lại chợt nhớ về những kỷ niệm xa xưa. Trưa hôm ấy sau khi thằng Thủ Chằm quay đầu bỏ đi, thằng Thanh đã lại bên con bé Chiên. Khổ thân con bé, nó sợ quá chỉ còn biết ngồi ôm mặt khó nức nở. Hình như trong thâm tâm con bé lúc nó cúi đầu ngồi ôm mặt như vậy cốt là để hứng đòn của thằng Thủ Chằm cho đỡ đau hơn. Những thằng con trai, những đứa con gái làng Me hay thôn Chằm mỗi khi thấy thằng Thủ Chằm nóng mắt lên và nắm hai bàn tay lại chỉ còn nước cúi đầu chịu trận. Con bé Chiên chắc nghĩ vậy. Nó cúi đầu nhẫn chờ đợi mà chịu trận đòn của thằng Thủ Chằm.

Con bé Chiên không ngờ trưa hôm đó lại có thằng Thanh xuất hiện. Nó càng không dám nghĩ tới sao hôm nay lại có một thằng con trai dũng cảm đến vậy. Cái thằng con trai dáng còi cọc, nét mặt luôn tư lự lại có thể giang tay che chở cho nó. Cái thằng bé con như vậy bỗng trở nên mạnh mẽ trong suy nghĩ của con bé Chiên. Con bé Chiên ngước mắt nhìn lên. Nó nhìn thẳng vào hai con mắt lúc này đang lãng đãng trông xa ngoài dòng nước. Hình như bên tai thằng Thanh lại vừa nghe thấy tiếng gì như tiếng nói vỗ về. Nó chạy vội ra sát mép nước. Dòng nước đỏ ngầu chảy mải miết va vào mạn bờ oàm oạp. Tiếng nước vỗ đều đều giống như tiếng người đang thầm thì đang thủ thỉ. Đôi mắt thằng Thanh bỗng ngời sáng. Nó hướng ra xa và cũng cất tiếng thầm thì.

– Anh nói chuyện với ai à?

– Ừ. À không.

– Sao em thấy mồm anh đang mấp máy.

– Mình về làng đi.

– Anh đừng mách mẹ em nhé.

– Mách gì?

– Mách em bị thằng Thủ Chằm bắt nạt ấy.

Thằng Thanh lúc này lại ớ ra. Thì ra vừa nãy nó đã lãng luôn chuyện con bé Chiên ngồi khóc ngay dốc đê. Thì ra vừa nãy nó lãng luôn chuyện tự dưng nó bỗng tỏ ra dũng cảm không ngờ, nó dám cự nự với thằng Thủ Chằm.

***

Làng Me chỉ cách con đê sông Thương chừng một quãng đồng đất bối. Quãng đồng còn che khuất làng bởi cái gò sấu um um cây lá. Chỉ vì cái gò um um cây lá đó nên quãng đường từ trong làng đi lên đê vốn chỉ là một quãng không xa lắm bỗng nhiên lại dài ra. Thường ngày chẳng có đứa trẻ con nào dám một mình chạy lên đê chơi. Trong thâm tâm của chúng thì, chuyện phải đi qua gò sấu một mình cho dù là giữa ban ngày ban mặt đi chăng nữa cũng là một sự mạo hiểm chưa đứa nào dám. Không hiểu sao con bé Chiên lại một mình chạy lên đê chờ mẹ. Không hiểu sao thằng Thanh lại một mình nhao lên đê tìm cha. Hai đứa trẻ. Một đứa ra bờ sông chờ mẹ và một đứa chạy đi tìm cha cùng tình cờ lên mặt đê trông ngóng. Với chúng dòng sông Thương chảy ôm lấy bìa làng chính là sự chia cắt.

Thực ra làng Me là ngôi làng vốn nhỏ và lại là ngôi làng nằm gần đê nên làng không đông đúc lắm. Không đông đúc nên làng không có chợ. Người làng Me muốn đi chợ đều phải xuống đò qua bên kia sông. Bên kia sông, con bé Chiên chưa từng được qua. Bên kia sông thằng Thanh cũng chưa được một lần bước chân xuống đò. Người làng Me ít ỏi và sống khá thầm kín như chính sự dựa vào thân đê của ngôi làng. Người làng Me hiền lành chứ không đáo để như người thôn Chằm. Thôn Chằm tuy cùng xã với làng Me nhưng lại nằm cách xa sông Thương một cánh đồng khá rộng và nhất là thôn ấy lại nằm gần đường quốc lộ số 1. Người thôn Chằm quen sự ồn ã bởi xe cộ chạy suốt ngày còn người làng Me sống quen với thiệt thòi bởi đò giang cách trở. Người làng Me sống khuôn hẹp nên họ ít giao tiếp. Ít giao tiếp nên người làng Me hiếm bạn bè. Hơn nữa chuyện ngày xửa ngày xưa vùng đất bên bờ bắc sông Thương từng là chiến địa nên làng Me cũng đồng nghĩa với một làng quê được gây dựng trên những xác chết. Đất ấy khó ở và hễ ai đã ở đấy đều là những người nghèo hèn và yếu đuối. Chẳng biết từ khi nào nhưng chuyện nghèo hèn và yếu đuối đã vận vào người làng Me. Thực hư chưa biết đâu nhưng quả tình người làng Me đúng là còn nghèo còn hèn và yếu đuối thật. Chính vì thế cho nên mặc dù con bé Chiên nằng nặc đòi thằng Thanh phải kín miệng nhưng chính nó lại là đứa nói ra câu chuyện xẩy ra ở trên đê trưa đó. Thằng Thanh nhanh chóng được bọn trẻ trong làng Me kính nể. Thằng Thanh dám cự lại với thằng Thủ khác nào như là một sự kiện. Chuyện bọn trẻ con kính nể nhau đơn giản lắm. Chúng thập thò nhìn sau lưng mỗi khi thằng Thanh đi qua. Nhìn sau lưng và chúng lẽ lưỡi thán phục. Có đứa cao hứng nhưng chỉ mạnh mồm nói, sợ gì thằng Thủ, có gì gọi thằng Thanh là xong béng.

Con đê sông Thương đoạn chạy ôm lấy làng Me có bờ đất rất cao. Về chiều bóng đê ngả che rợp nhìn mát lịm. Cỏ bám thân đê xanh mướt là chỗ cho bọn trẻ con thả trâu. Nhưng chúng chỉ dám thả trâu khi ít nhất có hai đứa chăn trâu và có hai con trâu trở lên. Đố đứa nào dám một mình thả trâu ăn cỏ cho dù cha mẹ chúng có mắng mỏ hay quát tháo thế nào đi chăng nữa. Đứng hay ngồi bên sườn đê kiểu gì con mắt của lũ trẻ đều phải nhìn thẳng vào gò sấu. Gò sấu um tùm cành lá ken nhau, tối rì rì, thi thoảng lại bay vút lên một hai ba con quạ đen. Quạ đen đập cánh bay vút lên không trung để lại trong suy nghĩ của lũ trẻ hình ảnh ở đâu đó có ai mới chết. Nhất là từ dạo máy bay Mỹ bay vào ném bom khói bốc kín trời. Có đêm thì máy bay Mỹ thả bom đằng sân bay hay ngoài ga Kép. Có đêm thì chúng bổ nhao như sắp sửa đâm gẫy mấy cái cột ống khói bên nhà máy phân đạm. Chớp bom lóe nhập nhằng khía vào màn trời đêm như những vết cứa trên da thịt. Sau những trận đánh phá của máy bay Mỹ là có những người chết vì bom. Người mới chết bốc lên thứ mùi không tả được nhưng cái mùi ấy lại có sức thu hút những con chim lợn. Con chim lợn từ trong lùm sấu bay vút đi, kêu đánh “éc” làm lũ trẻ dù ngồi trong hầm cũng xanh mắt, run lẩy bẩy, dáo dác dựa vào nhau sợ hãi thành thử chuyện đem trâu lên sườn đê chăn thả chẳng mấy đứa trẻ đoái hoái.

Con đê sông Thương, đoạn chạy ôm lấy làng Me, dĩ nhiên trở thành nơi cho trẻ con làng Me thử thách sức mình, thử thách lòng dũng cảm của mình. Thằng Thanh và con Chiên là hai đứa trẻ dám một mình chạy lên đê nên cái tên của hai đứa vô tình cặp đôi với nhau. Hễ nói đứa nào dũng cảm nhất làng Me là bọn trẻ đồng thanh hô to “Thanh Chiên”. Hễ nói đứa nào có sức khỏe chạy một mạch lên đê là bọn trẻ đồng thanh chỉ tay “Chiên Thanh”. Đại loại cặp tên “Thanh Chiên” hay “Chiên Thanh” trở thành câu nói cửa miệng của bọn trẻ con làng Me. Ban đầu nghe réo tên cặp đôi như vậy thằng Thanh với con Chiên cũng cảm thấy khoai khoái, mặt mũi hai đứa nở căng như hai quả thị chín. Mùi thị chín thơm ngòn ngọt làm nước bọt mấy đứa trẻ con ứa ra chảy cả xuống cằm. Hai đứa như hai quả thị chín làm bọn trẻ chỉ nghe réo tên đã thèm giỏ rãi. Chúng là niềm tự hào của bọn trẻ cơ mà. Nhưng cứ réo mãi hai cái tên “Thanh Chiên” cùng lúc cũng thấy phiền. Nghe mãi hai cái tên “Chiên Thanh” như dính vào nhau mãi cũng ngại. Con Chiên là người đầu tiên phát hiện ra điều ngại ngùng và phiền hà ấy. Nó là con gái mà, hễ đã là con gái thì thường nhậy cảm sớm hơn con trai. Con Chiên đâm ra tìm cách trách mặt thằng Thanh hoặc chí ít nếu nó thấy thằng Thanh đang đi lại phía mình là thảo nào nó cũng vòng qua ngõ khác. Hai đứa trở nên ít giáp mặt từ đó.

Trẻ con làng Me ít có trò chơi nên chúng túm ngay lấy chuyện hai đứa tìm cách tránh mặt nhau. Chúng đã nghĩ ngay ra một trò chơi mới. Chúng chơi trò chế cặp đôi con Chiên với thằng Thanh. Những đứa con gái khéo tay ngắt những bông hoa dâm bụt nở đỏ chót kết thành bó to. Những thằng con trai tinh nghịch chạy vòng vòng quanh làng vừa chạy vừa hát câu hát hôm trước thằng Thủ đã hát. Chúng ỉ a rất đồng thanh “Thằng Thanh con Chiên là hai vợ chồng. Con Chiên thằng Thanh là hai chồng vợ. Hai vợ chồng chống vợ hai. Hai vợ chồng chống vợ hai chúng mày ơi”. Đám trẻ con chạy vòng vòng, bọn con gái kéo tay con Chiên lôi nó xềnh xệch về phía thằng Thanh. Bọn con trai đẩy lưng áo thằng Thanh, dí người nó vào sát người con Chiên. Bó hoa dâm bụt được bọn con gái đặt vào tay thằng Thanh, rồi chúng lại đồng thanh hét rinh ngõ “Chồng trao hoa vợ đi. Vợ nhận hoa của chồng đi”. Tiếng vỗ tay rào rào bên tiếng hét inh ỏi. Đang giữa mùa hè, lại được nghỉ học nên trò chơi này ngày nào bọn trẻ cũng rủ nhau cùng chơi trò chơi làm đám cưới. Chúng làm “đám cưới” cho thằng Thanh với con Chiên. Xem ra đúng là chúng chẳng có trò chơi nào khác thật. Thằng Thanh xấu hổ đỏ chín mặt. Nó ngoắc ngư người, cựa quậy giữa vòng vây của mấy thằng con trai hòng thoát ra ngoài. Nó càng cựa quậy vòng vây của bọn con trai càng xiết chặt hơn. Cái vòng vây xê dịch xê dịch đã ẩn thằng Thanh xô dúi vào người con Chiên. Hai đứa ngã đè lên nhau, lúng túng mãi không dậy nổi. Bọn trẻ con đồng thanh hát râm ran, chúng lượn thành vòng quanh chỗ hai đứa ngã đè lên nhau.

“Cây tre xanh không bao giờ gãy ngọn

Giờ phút này kén chọn làm chi

Thanh ơi cứ lấy Chiên đi

Bao giờ Chiên đẻ Thanh về bế con”.

Bọn trẻ lại hát to hơn, lần này chúng đua nhau gào lên trong tiếng cười nắc nẻ.

“Cây tre xanh hi hi không bao giờ gãy ngọn

Giờ phút này kén chọn làm chi. Hi hi

Thanh ơi cứ lấy Chiên đi

Bao giờ Chiên đẻ hi hi  bao giờ Chiên đẻ Thanh về hi hi bế con

Hi hi hi hi….”

Bọn trẻ con làng Me mải chơi trò làm “đám cưới”, chúng đùa  dai như trâu đái. Thằng Thanh ban đầu là xấu hổ. Nó đỏ dừ cả mặt nhưng nó càng xấu hổ bọn trẻ càng không buông tha. Giả sử có trưa nào đó mà thằng Thanh nằm chốn trong nhà bọn chúng cũng mò vào tận nhà tìm lôi ra bằng được. Chúng lôi thằng Thanh ra đầu ngõ, mấy thằng sợ thằng Thanh bỏ chạy còn buộc dây thừng ngang lưng nó. Bọn trẻ dong “chú rể” sang nhà con Chiên để “rước dâu”. Dong như dong thằng giặc lái Mỹ bị dân quân bắt vậy. Thằng Thanh vừa bị dong đi vừa khóc rấm rức, nó nghĩ rằng nó không đáng bị dong như thế. Bọn trẻ lại đồng thanh “Chú rể khóc nhè. Chú rể khóc nhè. Ề ề ề”.

“Đám cưới” đi dong dong khắp làng. Bọn trẻ lại dong “đám cưới” ra tới chân gò sấu. Chúng bỏ con Chiên với thằng Thanh lại đấy rồi co chân chạy tán loạn. Con Chiên ngồi phệt xuống đất, nó không muốn bỏ chạy theo bọn trẻ. Nó ngước đôi mắt nhìn thằng Thanh vẫn còn chưa thôi mếu máo, cái nhìn của con Chiên thể như nó sắp hỏi “Anh Thanh có chạy đi, anh có bỏ em ở đây một mình không?”.

NGUYỄN TRỌNG VĂN

(Còn tiếp)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *