Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Tiểu thuyết Nguyễn Trọng Văn – Kỳ 9

CHÍN

VHSG- Bà Chiên đã sắp xong mâm cơm cúng.

Chưa tới trưa mà nắng đã như hun như đúc, khí nóng phả hầm hập. “Không hiểu sao năm 2013 này nắng nóng sớm thế? từ đầu năm tới giờ đợt này đã là đợt thứ ba rồi. Đợt nắng nóng này chẳng biết còn bao lâu?”. Lẩm nhẩm như người mới học được điều mới mẻ, bà Chiên xoay xoay sửa lại cho mâm cơm cúng được đặt ngay ngắn trên ban thờ. Bà cũng không quên đặt bên tấm ảnh chân dung liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến ba “linh vật” mà bà đã cùng thằng Lợi mang từ điểm cao 875 về. Đó là chiếc ăng gô bộ đội, mảnh tăng ni lông và chiếc mũ tai bèo. Ba “linh vật” này cứ đến ngày giỗ liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến là bà lại cung kính đặt lên ban thờ.

Hẵng còn sớm. Thằng Lợi nghe mẹ nhắc bèn vụt đi, nó chạy sang xóm bên mời ông trưởng thôn. Nhà có mỗi hai mẹ con, mâm cơm cúng cũng đủ đầy, mời thêm ông ấy sang dự cho ấm cúng. Coi như tiện thể được cám ơn ông ấy. Hơn nữa ông trưởng thôn làng Me này đâu phải người xa lạ. Họ hàng làng xóm đỡ đần nhau khi có công có việc đã đành nhưng việc ông ấy đứng ra lo liệu việc đón liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến về làng trang trọng quá làm bà Chiên cứ ơn mãi mà chưa có dịp bầy tỏ.

     Nhà văn Nguyễn Trọng Văn

Loanh quanh một nhoáng đã xong hết mọi việc, bà Chiên thấy chân tay trở nên thừa thãi. Nắng chói chang thổi những luồng hơi nóng khiến không gian như dồn lại. Chật hẹn và thiêu đốt. Chốc chốc lại nghe tiếng “tách” của viên ngói nứt. Chốc chốc lại giật nẩy mình bởi tiếng nổ đánh “bốp” của ống tre nào đấy trên nóc nhà. Những âm thanh tuy không mới lạ nhưng nó kêu trong hoàn cảnh vắng vẻ này làm bà Chiên thấy ngài ngại. Ngước mắt nhìn lên ban thờ. Tấm ảnh liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến đang mở to nhìn xuống vẻ hài lòng.

“Vậy là ông cụ về đồng làng đã được bốn năm”. Bốn năm qua trong lòng  trong dạ bà Chiên tuy có đôi chút thanh thản nhưng nỗi trống vắng và mặc cảm thì chưa khi nào nguôi dứt. Bốn năm qua là bốn năm bà trông chờ vào sự linh ứng của vong linh liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến. Nhưng cũng đã đi qua bốn năm mà bà chưa nhận được một tín hiệu nào gọi là khả dĩ. Làng mạc vẫn thế. Nghĩa là vẫn nhìn mẹ con bà bằng những ánh mắt dị nghị. Làng mạc vẫn thế. Nghĩa là dư luận đàm tiếu quanh chuyện cũ thi thoảng lại dấy lên làm bà không yên trong dạ. Những con mắt xa lánh, tránh như tránh hủi càng khiến mẹ con bà thấy khó sống. Trầy trật qua ngày lắm lúc chỉ muốn đi quách đâu cho nhẹ. Đấy là bà Chiên nghĩ thế chứ đi đâu ở đâu bây giờ. Làng mình sờ sờ ra đấy còn khó nói gì tới một nơi chốn mới lạ.

Hè này ông Thanh cũng đã xa nhà được chín năm bảy tháng. Thời gian quả là một thử thách ghê gớm. Thời gian cứ ngày này qua ngày khác bào xói tâm can bà. Nó cứ làm bà nhức nhối đêm đêm. “Cứ thế này không khéo ông ấy chết rục trong tù cũng nên”. Bà Chiên rùng mình nghĩ đến một hôm nào đó, sẽ cũng lại là bà với thằng Lợi, tới trại giam Hoàng Tiến để nhận xác ông Thanh. Nghĩ thế tuy biết là nghĩ quẩn nhưng mù mịt thế này biết làm sao được.

Mắt ngóng ra ngoài đầu ngõ. “Sao chưa thấy ông trưởng thôn tới nhỉ?”. Bà Chiên vẻ sốt ruột. Cơm canh đợi lâu nguội ngắt ăn kém ngon đi. Đã mấy bận bà đánh tiếng ngỏ ý muốn được cám ơn ông trưởng thôn cho chu tất nhưng ông ấy cứ gạt phắt. Bữa nay làm mâm cơm cúng ngày giỗ liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến, bà phải nói mãi ông ấy mới nhận lời. “Hay là ông ấy lại giữ ý?”.

Buổi sáng cách đây bốn năm, hôm bà cùng thằng Lợi ở trong Tây Nguyên về tới đầu tỉnh, bà mới gọi điện báo cho ông trưởng thôn biết. Vậy mà bà không ngờ mọi việc lại diễn ra ngoài sức tưởng tượng khiến bà xúc động. Xe mới vừa rẽ vào đầu con đường dẫn vào làng đã thấy ông trưởng thôn đứng đợi. Ông trưởng thôn sáng nay ăn mặc khác hẳn với mọi ngày. Mọi ngày ông ấy ăn mặc xềnh xoàng như sắp sửa đi cày ruộng. Sáng nay ông trưởng thôn chỉn chu trong chiếc áo vét màu đen không biết mượn của ai đó. Chiếc áo vét rộng thùng thình và vẻ mặt ngường ngượng của ông trưởng thôn lúc ấy làm thằng Lợi phì cười. Bọn trẻ, nhất là bọn mới lớn thường không biết che giấu cảm xúc. Chúng thấy sao là nói vậy. Ông trưởng thôn cười hề hề, thái độ chân thành và cử chỉ nhiệt tình. Ông xăng xái lại bên hai mẹ con bà cứ như ông đang làm việc nhà ông ấy vậy. Bà Chiên thở nhẹ, như trút được nỗi lo lắng trong người, cảm giác mệt mỏi đường xa biến mất. Xe chạy tới nhà văn hóa của làng Me thì dừng lại. Bà Chiên bỗng thấy nghẹn ngào pha chút bối rối. Trước mắt bà, gần như cả làng Me, gần như cả xã Ngọc Hùng cùng ra đón di hài liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến. Ông chủ tịch xã cũng có mặt. Bà Chiên có nằm mơ cũng không dám mơ tới quang cảnh long trọng và uy nghiêm này.

Chiếc tiểu sành đựng trong đó vuông lụa đỏ bọc ba xẻng đất đen, gọi là di hài của liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến, được chuyển ra khỏi xe. Rất nhanh chóng chiếc tiểu sành được phủ một lá cờ đỏ. Có những người cựu chiến binh của làng, của xã ăn vận như những người chiến sĩ thực thụ. Quần áo đồng loạt như nhau, đều là bộ quân phục màu trắng. Mũ kê pi cũng màu trắng, vành mũ gắn ngôi sao vàng, đội ngay ngắn trên đầu. Trông đoàn người ra đón cứ như họ chuẩn bị đi dự lễ giao quân đầu năm vậy. Bà Chiên quá sững sờ trước những gì đã thấy, bà quá xúc động mà bật khóc. Đoàn cựu chiến binh tản ra thành hàng đôi, trật tự nhưng nét mặt thì biểu lộ vẻ đầy phấn khởi, đi sau di hài liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến; di hài do đích thân ông chủ tịch xã, ông trưởng thôn và hai cựu chiến binh làng Me ghé tay đỡ bước đi, tiếp đó là dòng người già trẻ lớn bé trai gái. Ai ai cũng chậm rãi cất từng bước chân một. Họ cẩn trọng rước di hài liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến về nhà. Rất trang nghiêm và xúc động trong âm thanh réo rắt bi ai của tiếng kèn thổi, trong âm thanh ỉ a não buồn của tiếng nhị kéo, trong âm thanh trầm chắc rắn rỏi của tiếng trống đánh, tất cả đều do “phường bát âm” của xã bên thể hiện.

Từ lối ngõ rẽ vào tới tận sân nhà là những lá cờ chuối màu đỏ được cắm dọc hai bên. Sáng nay nắng đẹp nên màu đỏ của những lá cờ chuối thêm rực đỏ. Trong sân nhà một chiếc bàn độc được phủ vải trắng kê chính giữa. Chiếc bàn độc đã được bầy biện đầy đủ những thứ lễ nghĩa của một buổi viếng người quá cố. Di hài liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến được đặt trên chiếc kệ vững chắc ngay phía dưới chiếc bàn lễ. Âm thanh xúc động do phường bát âm trình tấu tạm ngừng khi lễ truy điệu chính thức bắt đầu, ông chủ tịch xã đọc bài điếu văn ngắn gọn. Không biết ai đó đã kịp choàng lên người bà Chiên, choàng lên người thằng Lợi bộ quần áo vải xô trắng, họ cũng đã kịp thắt giúp vành khăn tang trắng. Hai mẹ con bà lúc này hoàn toàn quên hẳn chuyện mệt mỏi đường xa, đứng chắp tay cám  ơn bà con làng xóm.

“Vậy là ông cụ nhà mình đã mồ yên mả đẹp trong nghĩa trang liệt sĩ”. Thế mà trên đường trở về, ngồi trên xe bụng dạ bà Chiên cứ lo canh cánh. Lo không biết đón ông cụ về làng làng sẽ đối xử ra sao? Lo không biết chính quyền xã có làm khó dễ không? Lo chỉ có hai mẹ con biết xoay xở công việc thế nào? Còn bao thứ lo khác mà bà chưa nghĩ ra. “Không có tay ông trưởng thôn ghé vào giúp thì không biết ra sao” Thầm cám ơn ông trưởng thôn lần nữa, bà Chiên lại ngóng mắt nhìn ra đầu ngõ. Nắng trải trắng trên từng ngọn cây.

Chờ đợi sinh rỗi việc. Bà Chiên ngồi thừ trên ghế. Mắt lúc ngóng ra đầu ngõ, lúc ngước nhìn ban thờ. Tuần hương mới cháy được một phần ba. Chắc còn đợi thêm ít nữa. Đằng nào cũng phải đợi hương cháy hết thì mới bưng mâm xuống rồi sau đó mới thụ lộc được. Những tiếng nổ “tách’ những tiếng nổ “bốp” ran ran khiến căn nhà tưởng như đang có nhiều người quây tụ. Vậy là vui rồi. Con Lanh mới gọi điện về sáng hôm qua, giọng nó hồ hởi lắm. Những năm năm hơn rồi còn gì nữa. Nó xa nhà chừng bấy năm là cũng chừng bấy năm bà Chiên luôn canh cánh thương phận đứa con gái sớm phải gánh gian truân. “Quả tình nếu như không có mấy món tiền con Lanh gửi về thì có lẽ mình cũng chịu”.

Bìa sách “Tiếng con chim lợn kêu ngang qua” – Tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Văn

Lần vào Tây Nguyên đón ông cụ cách đây bốn năm, bà Chiên đã nẩy sinh suy tính. Bà ấp ủ suy tính đó chờ dịp nào thuận thì mới đem ra bàn. Sáng nay con Lanh gọi điện về nhà, bà mới chỉ nói nhắc nó thu xếp chuyện ở bên đó để về nhà sơm sớm. “Đợi nó về rồi bàn tính hay cứ nói trước xem ý thằng Lợi ra sao? Chả có gì để nghĩ, bà Chiên lại sực nhớ tới suy tính hôm nào. Nắng nóng gay gắt ngồi trong nhà vẫn thấy ngột ngạt. Trên ban thờ khói hương chậm tỏa đang  luẩn quẩn những vệt khói vừa thanh vừa mỏng. Mùi hương nồng thơm nhẹ tỏa xuống chỗ bà Chiên đang ngồi.

“Trong đó đất đai màu mỡ. Người dân tộc tốt bụng lại chan hòa”. Bà Chiên bồi hồi nhớ lại. Bà nhớ những vạt đồi nương cà phê ngút ngát nối nhau tưởng không dứt. Bà nhớ cái ông người Giẻ Triêng người thì chân chất, tuy ít nói nhưng việc đâu ra đấy. “Trong ấy người ta cư xử tốt. Mình tới ở chắc họ cũng không làm phiền”. Nghĩ tới đây thì những suy tính mới gọi là manh nha chợt như thúc giục. “Phải rồi. Có lẽ nhân bữa cơm giỗ này cứ thử thăm dò ý tứ ông trưởng thôn xem sao, cứ thử bàn sơ sơ chuyện bán căn nhà này đi lấy ít vốn, cộng với tiền con Lanh gửi về nữa. Vào trong đó sinh sống”.

Trước mắt bà Chiên đang vẽ ra hình ảnh gia đình bà đang sinh sống trong Tây Nguyên. Nhà bà cũng sẽ có những vạt đồi nương cà phê mùa xuân nở ngàn hoa trắng muốt. Nhà bà cũng sẽ có những người hàng xóm vui tính và tốt bụng. “Phải rồi. Con Lanh đã hăm nhăm hăm sáu tuổi”. Tuổi ấy ở làng này, người bình thường đã chẳng có thằng con trai nào đánh tiếng dạm hỏi về làm vợ, huống hồ con Lanh lại là con ai. Ở làng Me đã bao năm nay thành tục, con gái chỉ hăm mốt hăm hai đã con bồng con bế. Có khi phải vào trong đó sinh sống may ra con Lanh nhà mình mới lấy được chồng. Là cha là mẹ ai mà chẳng muốn con cái lớn khôn có nơi có chốn. Nhà có con gái tuổi cưng cứng như trong nhà có họa rình sẵn.

“Phải rời làng vào Tây Nguyên sinh sống thôi”. Ý nghĩ rất cương quyết làm bà Chiên như sắp tháo được gánh nặng. Vào trong đó, lạ người lạ nước, ai biết chuyện ra sao đâu mà dị nghị. Vào sống trong đó có khi dễ thở mình lại đỡ hẳn đau yếu. “Chốc nữa ông trưởng thôn tới mình cứ thử nói. Chí ít thì ông ấy cũng là trưởng thôn, là người có trách nhiệm với làng với xóm”. Ngóng mắt lần nữa ra ngoài đầu ngõ, bà Chiên đinh ninh trong đầu “kiểu gì ngồi ăn bữa cơm trưa nay sẽ nói”.

Tiếng kêu “tách” của viên ngói nứt trên mái nhà khiến bà thấy bàng hoàng cứ như việc đã định xong xuôi vậy. Không được, bỏ làng đi như vậy khác nào chạy trốn? Ông Thanh ở tù chẳng biết có ngày về. Mình còn ở làng nghĩa là còn dăm tháng nửa năm cũng có được một lần lên trại thăm nuôi ông ấy. Mình còn ở làng tức còn trông chờ phận may biết đâu ông ấy lại có khi sớm về nhà? Vào trong đó, đường xá xa xôi, thời gian cách trở, không có điều kiện thăm nuôi khác nào bỏ mặc ông ấy. Bỏ mặc ông ấy là có tội. “Một ngày nên nghĩa vợ chồng kia mà”. Ông ấy dù sao cũng là với bà ngần bấy năm. Con cái lớn khôn dễ gì chúng cũng theo mẹ mà bỏ mặc bố nó.

Thấy như vừa mắc tội, bà Chiên bùi ngùi vén vạt áo lên lau nước mắt. Vô tình khi ngước lên mắt bà bắt gặp cái nhìn của liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến, cái nhìn từ trong tấm ảnh trên ban thờ nhìn xuống bà bằng vẻ mặt trách móc. “Không được. Ông cụ mới về làng chưa được bao lâu. Mình cùng các con bỏ vào trong đó biết lấy ai hương khói, biết lấy ai chăm nom ngôi mộ cho ông cụ”. Buồn phiền thêm buồn phiền, bà Chiên mặt thừ ra tội nghiệp

Khói hương trên ban thờ chậm tỏa, khói ngưng quền quện, khắp ba gian nhà đọng một mùi thơm ngây ngây. Bà Chiên lại ngóng mắt nhìn ra ngoài đầu ngõ, nắng soi nhoang nhoáng như có bóng ai đó vừa ngang qua. Bóng người quen quen, dập dình ngoài đầu ngõ rồi quay đi vội vã. Nắng chang trắng mặt sân nhà như những ảo hình lay động. Cảm giác khi ngồi nhìn nắng chờ đợi một mình đúng là dễ tạo ảo giác và gây buồn ngủ. Bà Chiên hơi thiu thiu. Đầu nghẹo nghiêng vào bên thành ghế, mắt lơ mơ, những tiếng nổ “tách” hay “bốp” trên nóc nhà không làm bà bận tậm nữa. Cơn buồn ngủ kéo đến cũng làm bà thôi nghĩ ngợi. Căn nhà im ắng vắng. Thứ im ắng vắng trong mùi hương đang chậm trôi.

***

Từ thị xã Ninh Hòa, bà Chiên bắt chuyến xe khách lên thành phố Buôn Mê Thuột. Đấy là đích đến của chuyến xe, chứ còn bà, bà không đi lên tới tận Buôn Mê Thuột. Chuyến xe đã xếp đủ khách nổ máy rù rù chuyển bánh. Nó bắt đầu hành trình lên cao nguyên theo đường quốc lộ số 26. Cũng như đường quốc lộ số 14 của chuyến đi lên cao nguyên bốn năm về trước, đường quốc lộ số 26 trải dài như dải lụa đen mới nhuộm, uốn lượn men theo các triền đồi. Trên xe đã râm ran câu chuyện. Xe chở khách có khác, mấy chục con người đủ mọi lứa tuổi đã kịp làm quen với nhau. Những vị khách người dân tộc ăn vận như đi hội. Người dân tộc hình như bao giờ cũng như đi hội vậy? Bà Chiên thầm đoán. Đã quen với hình ảnh người dân tộc Tây Nguyên nên bà Chiên không tò mò. Bà cúi người luồn tay đẩy chiếc túi đeo vai, hành lý mang theo, xuống gầm ghế và chậm rãi ngắm nhìn cảnh vật hai bên đường. Đang giữa hè nên nắng chói chang làm những chiếc lá cây ánh lên vàng vàng.

Lần đi này bà Chiên đi có một mình. Thằng Lợi phải ở nhà trông coi nhà cửa. Hơn nữa chuyến đi này bà không hề nói rõ sự thực đi để làm gì cho thằng Lợi biết. Nói cho thằng Lợi biết nó lại cười cho. Thanh niên bây giờ làm gì có đứa nào tin vào chuyện cũ nói lại, tin vào sự ứng báo mộng mị. Thằng Lợi  còn trẻ người non dạ, nói cho nó nghe không khéo nó can ngăn lại làm hỏng chuyện. Cũng vả lại đã đâu vào đâu đâu. Lần đi này trong lòng bà có những cảm xúc lẫn lộn. Hy vọng mơ hồ và mong manh như đốt lửa tìm kim trên rừng. Có thể đúng và có thể sai.

Đúng hai tuần sau hôm làm giỗ cúng cha chồng, bà Chiên khăn gói vào Tây Nguyên. Bà không nói với ông trưởng thôn là đi đâu và làm gì, bà chỉ nói với thằng Lợi là bà đi chơi như kiểu đi cho khuây khủa vậy. Thằng Lợi hỏi đi đâu bà cũng mập mờ nói tránh. Nói thế nhưng nào giấu được nên bà cũng phải vòng vo cái ý định đưa cả nhà vào Tây Nguyên lập nghiệp. Thằng Lợi mới đầu nghe mẹ nói chuyện rời làng vào Tây Nguyên thì mừng ra mặt. Thanh niên mới lớn thường thích bay nhảy mà. Nó tưng tửng mặt. Nhìn cái mặt của nó ai không biết cứ ngỡ ngày nay ngày mai là nó cùng mẹ nó đã rời làng rồi. Thằng Lợi đi đi lại lại chân tay vung vẩy. Nó tưng tửng phác ra ôi bao là dự định. Nào là nhà mình cũng sẽ có những nương cà phê nở hoa trắng muốt. Nào là nhà mình cũng sẽ có những chiếc xe ô tô loại bán tải chạy ngoằn nghèo khắp các vạt đồi. “Nhà mình giàu đến nơi rồi!”. Thằng Lợi phấn khích nói oang oang làm bà Chiên phải bật dậy giơ tay bịt mồm nó lại.

Bà Chiên vào Tây Nguyên lần này có một mình. Bà đâu có ý định đưa cả nhà vào trong đó lập nghiệp. Cái ý nghĩ đó bà đã gạt phắt trước khi thằng Lợi mời được ông trưởng thôn sang dự bữa cơm giỗ liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến. Cũng may là bà đã gạt phắt nên cuộc ăn không bàn gì tới chuyện rậm rình bỏ làng. Bữa ăn chỉ nói về sắp tới đây phải lo việc gì làm cho thằng Lợi. Ông trưởng thôn tỏ ra thông cảm nên nói hứa sẽ tìm việc gì đó. Ngặt nỗi thằng Lợi bỏ học từ cấp 2 nên lo việc gì cũng thấy khó. Thời buổi bây giờ học xong cấp 3 hẳn hoi cũng chẳng xin nổi một chân phụ hồ nói chi mới đầu cấp 2 đã nghỉ học. Biết thế nhưng ông trưởng thôn cũng động viên. “Thiếu gì việc. Không làm xa thì làm gần. Ở ngay làng cũng làm giàu được cháu ạ”. Thực ra ông trưởng thôn không nói chiều lòng. Ông ấy nói cũng có cái đúng. Nuôi gà nuôi lợn đấy thôi. Làm kinh tế là phải biết mạnh dạn mà đầu tư. Ở làng nuôi gà nuôi lợn cũng khối nhà khấm khá. Đợi con Lanh về, hai chị em nó làm kinh tế hộ như ông trưởng thôn nói cũng tốt. Bà Chiên an ủi thằng Lợi.

Xe gừ gừ leo dốc. Tư thế ngồi chợt hơi ngả ra cùng chặng đường đi cũng đã dài dài làm mấy người ghế trước, ghế sau chập chờn ngủ. Chẳng còn nghe những tiếng nói chuyện râm ran ban đầu nữa. Bà Chiên che mồm ngáp rõ dài tưởng sái quai hàm. Suốt hai ngày qua toàn ngồi tàu, bà đâu có ngủ được giấc nào cho ra giấc. Tiếng bánh tàu hỏa nghiến ray sình sịch chẳng giây nào ngớt, những toa tàu chốc chốc lại giật giật va nhau kêu loảng xoảng làm bà khó ngủ. Hai ngày ngồi gà gật trên ghế trong những âm thanh khó chịu. Giờ ngồi trong ghế xe khách êm êm, tiếng xe chạy đều đều nghe rù rù như những lời ru rỉ khiến hai mắt bà nhíp lại.

“Con đi theo đường quốc lộ số 26, tới thì trấn Ea Kar, cách Buôn Mê Thuột chừng năm mươi cây số thì xuống xe”. Mắt vẫn nhắm cho đỡ mỏi, miệng lẩm nhẩm, bà Chiên cố căng đầu ra để nhớ. Mình mà ngủ quên thì lỡ. Đinh ninh như vậy nhưng cơn buồn ngủ nào có buông tha. Nắng chiếu gay gắt qua cửa xe. Nắng soi nóng bỏng những tấm kính chắn gió, ngồi trong xe mà mồ hôi nhễ nhại như người đi làm đồng vừa về. Bà Chiên thấy ngột ngạt. Chính cơn ngột ngạt đã giúp bà tỉnh lại.

Hôm ông trưởng thôn sang nhà dự bữa giỗ, bà Chiên đã bóng gió nói tới việc bà không tin tội lỗi là do ông Thanh gây ra. Hình như ông trưởng thôn cũng đồng tình. Những là cách đồng tình kiểu an ủi chứ nói ra lấy đâu căn cứ. Chuyện rõ ràng mười mươi như vậy nói làm sao khác được. Nhưng tính nết của ông Thanh thì ông trưởng thôn còn lạ gì. “Ông Thanh nhà bà nhát như cáy ấy. Người vậy làm chuyện ác không được”. Được câu nói mát cả ruột, bà Chiên rưng rưng. Hóa ra ông trưởng thôn cũng là người hiểu biết. Ông ấy có hiểu biết nên ông ấy còn biết động viên. Chứ cứ như những người khác thì chỉ còn nước bán cả nhà đi nơi khác may ra mới sống được. Người ta có thể chịu đựng được khó khăn, chịu được bệnh tật những chẳng thể chịu được điều tiếng, chịu được búa dìu dư luận. Đã bao lần bà Chiên muốn gieo mình xuống sông Thương chết đi cho rảnh. Nhưng nghĩ tới thằng Lợi gnhĩ tới con Lanh sẽ bơ vơ bà lại thôi ngay ý nghĩ. Cha nó đang tù tội. Mẹ muốn chết khác nào đem con bỏ chợ.

Ông trưởng thôn là người hiểu biết. Không có ông ấy thi thoảng động viên hay giúp đỡ thì gần mười năm qua bà chẳng biết dựa vào đâu. Bây giờ khó nhất là chuyện phải lo việc gì cho thằng Lợi, cho con Lanh. Chúng nó sống tinh thần đã khổ không lẽ để chúng nó khổ cả vật chất.

Quay quay đầu, vặn vẹo người cho đỡ mỏi. Bà Chiên đưa mắt nhìn qua cửa kính của xe. Cũng những vạt đồi cà phê nối nhau tưởng không bao giờ dứt. Trong này đất tốt thật đấy. Kể không vào trong này sinh sống cũng thấy tiếc. Giá mà không có chuyện gì xẩy ra nhà mình vào cả đây có hay không? Giá mà ông Thanh không lâm vào cảnh tù tội có hay không? Nhưng nói đi thì phải có nói lại. Không có “chuyện” của ông ấy chắc gì mình có được chuyến đi này? Đúng là con người thật. Có cái này lại ước cái khác. Thôi lo chuyện cho ông ấy xong xuôi đã. Tính lúc nào mà chẳng được.

“Tới thị trấn Ea Kar con hỏi đường về xã Ea Kmút, thôn Đoàn Kết. Nhớ đừng hỏi lầm đường đấy”. Bà Chiên lại lẩm nhẩm. Từ đây tới thị trấn còn chưa đầy  mười cây số nữa. Chú phụ xe vừa cho mình biết mà. Tự dưng bụng dạ bà Chiên thấy nôn nao. Gần mười cây số nữa là bà sẽ xuống xe. Gần mười cây số nữa bà sẽ đi tới một nơi của tia hy vọng cuối. Bụng dạ nôn nao nhưng là cái nôn nao của tâm trạng bồn chồn. Hy vọng có. Sợ thất vọng có. Không hiểu có đúng như mình được biết không? Không hiểu khi mình tìm tới đúng nơi đó liệu có được những gì mình mong muốn không? Không hiểu một mình mình có làm được điều gì không? Có bao nhiêu khó khăn bầy ra trước mắt ngay từ khi còn chưa tới nơi định đến.

Thằng Lợi ban đầu nghe mẹ nói sẽ trở vào Tây Nguyên lần nữa đã không tin vào tai mình. Nó ngỡ bà Chiên nói vui. Nó ngỡ bà nhớ phong cảnh trong đó đẹp như tranh vẽ mà nói cho vui. Cũng có thể mẹ nó thử xem ý tứ của nó ra sao? Thằng Lợi đứng phắt dậy khi bà Chiên nói xong câu thứ nhất. Nó há to miệng thể hiện sự vui mừng của mình. Nhưng cuối cùng thì nó ỉu xìu mặt, ngồi phịch xuống mép giường khi bà Chiên nói cho nó biết, bà vào Tây Nguyên một mình thôi. Vào thử xem xem thế nào. Biết đâu thuận thì trở ra rồi tính sau. Cũng phải đợi chị Lanh nó về nhà nữa chứ. Vả lại bây giờ mà bỏ đi vắng hết người làng lại thêm lời dị nghị. Lần trước nói đi đón ông cụ thì không sao. Bây giờ nói đi đâu và làm gì là có chuyện dị nghị ngay. Làng Me bé như lòng bàn tay. Chuyện trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã tường mà. Được giải thích như vậy nên thằng Lợi im lặng. Nó không nghe lời mẹ thì nghe lời ai. Với nó chuyện mẹ nó vào Tây Nguyên lần này là chuyến đi tính chuyện làm ăn. Ai mà chẳng phải làm ăn. Không làm chết đói nhăn răng cũng chẳng ai cho.

Xuống xe ở thị trấn Ea Kar, hỏi đường về xã Ea Kmút nhưng bà Chiên không gọi xe ôm. Mặc dù mấy bác xe ôm vừa thấy chuyến xe khách chạy tà tà rồi dừng đỗ bên lề đường là ùa ra chào mới rối rít, có bác xe ôm còn nhiệt tình giằng cầm hộ túi đồ như bắt chẹt phải ngồi lên xe. Bà Chiên tay giữ chặt chiếc túi, xua xua, lắc lắc từ chối mọi lời mời mọc của mấy bác xe ôm, bà quyết định đi bộ. Không vội vàng được. Bà nghĩ thế và quyết định đi bộ để vừa đi vừa nghĩ. Nghĩ làm thế nào tới được đúng địa chỉ. Nghĩ làm thế nào để công việc không bị hỏng. “Con cẩn thận. Chỉ dò la manh mối thôi đừng dò hỏi kỹ. Dò hỏi kỹ quá sinh động là hỏng việc đấy”. Đang giữa trưa nắng đổ gắt, con đường liên xã như được nhuộm thêm màu đỏ. Con đường xuyên qua những nương cà phê ngút ngát. Có lúc con đường lại trằn mình ra không gì che chắn mặc cho nắng chiếu nóng ran mặt đường. Càng đi càng thấy mệt. Nắng cao nguyên thật khó chịu. Những ánh nắng nóng thổi khô khốc, thổi táp héo cỏ cây. Đã bắt đầu vào mùa mưa ở Tây Nguyên nhưng năm nay không hiểu sao nắng nóng vẫn còn kéo dài tới cuối tháng năm sang đầu tháng sáu mà chưa dứt. Mặt mũi bà Chiên đỏ phừng phừng, mồ hôi thấm đẫm lưng áo, bà cố bước từng bước chân nặng nhọc. “Con nhớ nhé. Thôn Đoàn Kết”. Lại lẩm nhẩm như học sinh không học thuộc bài, bà Chiên cắm cúi bước đi.

***

Thôn Đoàn Kết hóa ra lại là một thôn không khó tìm, những căn nhà cất dọc hai bên con đường đất đỏ hình thành nên thôn, con đường trong thôn chạy thông với con đường liên xã. Làng của người Tây Nguyên không giống làng của người miền Bắc? Những căn nhà đủ kiểu lô nhô không bám hẳn mặt đường mà tách xa ẩn khuất trong những khu vườn cà phê. Trong thôn, nhà của người Kinh, dân đi kinh tế mới, thường là nhà xây. Nhà nào khấm khá thì bốn năm gian, đổ mái bằng. Nhà nào vừa phải thì làm ba gian, mái lợp tôn màu đỏ. Những căn nhà người Kinh bao giờ cũng có khoảng sân trước cửa. Nhà của người dân tộc, những căn nhà của hộ định cư vẫn mang dang dấp phong cách truyền thống, nhà có sàn thấp và xây gạch chứ không làm bằng gỗ. Nhưng đều là nhà xây dựng kiểu đồng loạt giống hệt nhau. Đó là những căn nhà do nhà nước đầu tư nhằm khuyến khích bà con định cư được ổn định đời sống và xây dựng nếp sống mới.

Bà Chiên thấy hồi hộp, bà đã đi tới giữa làng, tim đập thình thịch như trống trận. Có gì đấy làm bà ngập ngừng dừng chân. Những hồ nghi dồn dập khiến bà thấy tưng tức trong lồng ngực. Đè tay chẹn nhịp tim đang dồn dập bà Chiên chợt phân vân. Mình có đường đột không? Mọi lý lẽ đều là giả thiết và đều do bà được ứng báo. Ngộ nhỡ không phải thì đáng trách lắm? Ngộ nhỡ mình ngộ nhận thì ăn nói ra sao?

Vịn tay vào một thân cây to bên đường để thở. Nắng gay gắt cộng với chặng đường đi bộ dưới nắng giữa trưa cùng trạng thái hồi hộp làm mặt bà đỏ bầm. Cảm giác nghẹt thở làm bà hoa mày chóng mặt. Người như kẻ ốm dở vậy? Bà Chiên tự an ủi và cố vịn tay vào thân cây. Bà run run lảo đảo đầu óc quay cuồng, chân tay chới với.

– Bà gì ơi! Bà làm sao thế?

Giọng con gái nghe ngọt thừ chợt vang lên, câu hỏi thảng thốt cùng tiếng chân chạy lại. Bà Chiên cũng chỉ nghe được có thế. Bà ngã khuỵu xuống ngay dưới chân gốc cây. Bàn tay của bà không còn đủ vững để vịn đỡ vào thân cây được nữa.

– Thôi chết. Bà này. À không, cô này bị say nắng rồi.

Vẫn cáo giọng con gái ngọt thừ lay gọi làm bà Chiên muốn trả lời mà không tài nào cất nổi một câu nói. Bóng người con gái vừa chạy tới cúi xuống xốc hai nách bà lên. Đứng lên rồi lại khuỵu xuống. Phải ba bốn lần như vậy bà Chiên mới lê lết chân theo cô gái vào nhà. Khổ thân cô gái, sức người mỏng mảnh mà lại vừa xốc nách vừa dìu người bà đi nên cô cũng thở to thành tiếng. Hai người dìu nhau vào được bên trong nhà.

– Cô bị say nắng rồi ha. Cô ngồi tạm đây, để cháu cởi bớt chiếc áo, quạt mát một chốc là dịu ngay ấy ha.

– May quá. Nếu không gặp cháu thì.

– Cô ở ngoài bắc mới vô ha?

– Sao cháu biết?

– Cô nói giọng bắc ha. Ở làng này cũng có nhiều người miền bắc vô nhưng ở lâu lâu họ cũng nói theo cách trong này. Cô vô đúng ngày nóng nhất đấy.

– Vậy à cháu?

– Dạ.

Cô gái quay đi. Quả tình được ngồi thở trong nhà, được cởi bớt áo và được quạt mát nên bà Chiên cũng nhanh hồi sức. Thực ra bà là dân lao động nên chuyện như hôm nay rất hiếm. Hiếm nhưng còn có sức vóc nên cũng nhanh hồi. Cô gái đã quay lại. Được cốc nước mát cảm thấy nhẹ đi đến tám chín phần.

– Cô đi có một mình ha?

– Ừ. Cô đi có một mình. Cháu cũng ở một mình à?

– Dạ không. Chồng cháu ảnh kêu lên Buôn Mê Thuột có chút công việc. Cháu mới đi gửi cơm cho con nhỏ nhà cháu về. Cháu về vậy mà kịp thời ha.

Bà Chiên suýt bật cười. Cô gái này ăn nói nghe thật ngọt, mát cả lòng. Lại còn cái âm “ha” nhấn nhá ở cuối mỗi câu nói nữa chứ. Đúng là con gái trong này ngoan hiền thật. Thằng Lợi nhà mình vào đây mà lấy được gái trong này chắc nhà mình vui lắm. Bà Chiên đã tinh tỉnh đôi chút. Nỗi mong ước có con dâu lại dội về làm bà thấy nhẹ hẳn người. Cô gái này dáng người thanh mảnh. Người thanh mảnh là chịu khó lắm. Bấy giờ bà Chiên mới để ý tới cô gái. Cô chừng chạc tuổi thằng Lợi hoặc ít hơn một hai tuổi. Nhưng chắc là bằng tuổi. Chính cô ấy vừa nói qua bên hàng xóm gửi cơm cho đứa con nhỏ đấy thôi.

– Cô còn mệt ha. Hay là cô ở tạm nhà cháu với hai mẹ con cháu. Chồng cháu đi vắng chưa biết khi nào về. Có cô nhà thêm vui chứ một mình cháu buồn thấy mồ ha.

Rất tự nhiên và chân thành, cô gái không ngần ngại giữ bà Chiên nghỉ lại. “Mình ở lại nhờ nhà cô gái này ít hôm cũng được. Tiện thể còn dò la”. Bà Chiên vẻ trong lòng đã đồng ý nhưng vẫn nói từ chối.

– Cô ở lại có tiện không?

– Tiện mà cô ha. Chồng cháu cũng người ngoài bắc. Cháu là con dâu ngoài đó. Có cô mới vô ở lại nói thêm câu chuyện ngoài mình, cô ha.

– Cháu có con trai hay con gái?

– Dạ bé gái cô ha.

– Hay đón nó về bà cháu chơi với nhau.

– Dạ.

Cô gái thấy mừng vội chạy ào ra ngoài đường. Người trong này chân thật và tốt tính thật. Tự dưng cái suy tính rời làng vào Tây Nguyên hôm nào lại réo giục. Bà Chiên bần người ra nghĩ ngợi. “ Con không được dò hỏi mà chỉ quan sát rồi tính lựa chuyện thôi. Dò hỏi sinh động không khéo không được việc”.

– Con vô nhà chào bà đi.

– Dạ. Con chào bà …chào bà ngoại bắc.

Con bé chừng lên hai. Khuôn mặt tròn tròn đứng khoanh tay chào. Nó còn “con chào bà ngoại bắc nữa chứ”. Bà Chiên thấy vui lây. Với trẻ con cứ hễ ai là bà thì đều là bà ngoại cả. Bà ngoại yêu bé nhiều hơn mà.

Chiều đang xuống. Căn nhà tuy mới xây nhưng xem ra nó còn tềnh toàng lắm. Chững tỏ cặp vợ chồng trẻ này mới ở riêng chưa lâu. Bà Chiên đã khỏe hẳn. Nắng chiều cao nguyên dịu đi trông thấy. Gió rừng thổi tới làm không khí dễ chịu hẳn. Mát và sảng khoái. Có trẻ con nên trong nhà líu lo. Con bé có vẻ bện bà Chiên, bằng chứng là nó bám bà suốt. Cũng có thể nó ít khi được gặp bà ngoại thật của nó nên nó bám mình? Bà Chiên thầm nghĩ. Cô gái này sao tốt tính thế nhỉ? hình như người trong này rất tin người? Không tin người mà họ dám đặt vấn đề giữ mình nghỉ lại? Không tin người mà sao họ chẳng có lấy một chút phân vân.

– Cô vô làm gì vậy ha?

– À. À…cô vào xem sao. Cô tính chuyển nhà vào cả trong này sinh sống cháu ạ.

Không ngờ bà Chiên kịp biến báo. May mà bà con kịp nói như vậy. Chứ nói vào đây để tìm người thì hỏng bét.

– Thế thì cô may rồi đấy ha.

– Cháu nói may là nghĩa làm sao?

– Dạ. Ở trong này cũng có nhiều người muốn bán rừng bán nương lắm cô ha.

– Sao họ lại muốn bán.

– Dạ. Người dân tộc không quen trồng cà phê. Họ chỉ thích đốt rẫy thôi. Cùng lắm là làm thuê cũng được. Thôn này có mấy nhà bà con tính chuyện bán lại nương đấy cô. Cô muốn mua để hôm nào chồng cháu về. Chồng cháu biết những ai muốn bán.

– Người dân tộc không thích trồng cà phê à?

– Dạ. Họ không quen thôi. Hơn nữa trồng cà phê lại đòi hỏi nhiều vốn. Bà con lấy đâu vốn. Bán lại rồi đi làm thuê còn lợi hơn ha.

***

Một buổi chiều và đêm được nghỉ ngơi đủ để bà Chiên hồi phục hoàn toàn. Một ngày mới đã tới. Thong dong bước ra trước sân nhà để hít thở không khí sớm mai, bỗng bà Chiên rùng mình ngoái vội vào trong nhà. “Khi nào vào thôn thấy một cây cẩm lại to đứng đơn độc chắn trước cửa nhà là con đã tới đúng nhà ấy”. Trước mắt bà là một cây cẩm lai cao chừng hai mươi nhăm ba mươi mét, cây cẩm lại đang mở xòe tán lá hình chiếc ô. Không hiểu sao giữa những vạt đồi chỉ toàn cây cà phê đang trĩu quả đỏ quả xanh này lại có một cây cẩm lại đứng sừng sững một mình.

Bà Chiên hốt hoảng lại ngó vội vào trong nhà lần nữa. Hóa ra như một sự sắp đặt, trưa hôm qua bà đã tới đúng cái nhà của con người mà bà muốn tìm để lôi ra sự thật thì  bà bị say nắng. “Không lẽ cô gái ngoan hiền kia lại là vợ của thằng ấy?”. Bà Chiên lúng túng. “Tìm được thằng ấy là ra mọi chuyện”. Câu nói bâng quơ của bà Thìn làm bà thấy lo âu. Cả đêm qua bà đã ngủ ở trong căn nhà đó. Cả chiều qua, cả đêm qua bà đã rất vui vẻ với vợ con của thằng ấy? Trời đất như quay cuồng. Sao ở đời lại có những éo le đến vậy? Cô gái kia sao lại dây vào mối duyên phận oan nghiệt thế? Bà Chiên bỗng không biết phải làm gì lúc này. Quay vào nhà và tiếp tục vui cùng đứa con của thằng ấy? Hay bỏ đi như trốn chạy? Không được. Bà vào đây là để tìm cách lôi ra ánh sáng kẻ thủ ác đích thực chứ đâu phải vào đây để rồi bỏ đi? Một loạt những băn khoăn làm bà rối bời. Cô gái này tốt và ngoan quá.

– Chồng cháu tên là gì?

– Dạ. Ảnh tên Lý. Nguyễn Chung Lý mà cô. Nhưng sao cô lại hỏi vậy?

– Cô hỏi để biết thôi. Mà này…

– Dạ.

– Chồng cháu người ngoài bắc à?

– Dạ. Ảnh người ngoài bắc.

– Có phải làng Me không?

– Dạ. Nhưng sao cô biết?

– À không. Cô tình cờ hỏi hú họa vậy thôi. Ngoài bắc người ta hay đặt tên làng đại loại như Me như Mận. Con nhỏ đâu rồi cháu?

– Cháu cho nó sang bên hàng xóm. Cô chưa khỏe hẳn, nó quấy chơi lại làm cô mệt thêm. Vả lại, cô còn đi đâu đó thăm làng chứ.

– Bao giờ chồng cháu về nhà?

– Cháu không rõ.

– Liệu chồng cháu hôm nay có về không?

–  Ảnh nói ảnh đi xong công việc thì về. Mà sao cô lại muốn hỏi chồng cháu.

– Là cô hỏi thăm thế thôi.

– Cô ơi. Cháu cứ thấy lạ là không hiểu sao chúng cháu lấy nhau mà chồng cháu không cho cháu hay gì về gia đình nhà ảnh cả. Cũng chẳng thấy có ai từ ngoài bắc hỏi han cháu. Làm dâu như cháu nghĩ tủi thấy mồ cô ha.

Bà Chiên im lặng. Cô gái cũng im lặng. Mỗi người theo đuổi một suy nghĩ. Vậy là mình đã tìm đúng nơi đúng chỗ. “Thằng Lý, thằng con riêng của chồng bà Thìn? Đúng là nó rồi”. Ở làng Me ai mà không biết bà Thìn. Một người đàn bà chạc tuổi bà Chiên nhưng luống tuổi mới xây dựng gia đình. Chồng của bà Thìn nghe đâu người mãi tận Lạng Sơn kia. Ông ấy góa vợ. Không hiểu do ai manh mối mà về tận làng Me hỏi lấy bà Thìn làm vợ. Lấy bà Thìn rồi ông ấy ở luôn lại làng cùng với thằng Lý con riêng của mình. Thằng Lý đâu như hơn tuổi thằng Lợi lẫn cả con Lanh. Tính khí nó lì lợm lại chẳng chơi thân với đứa trẻ nào. Chắc là nó ở nơi khác tới nên ít bạn bè. Ít chơi bời với trẻ con trong làng.

Từ ngày thằng Lý con riêng của bà Thìn bỏ đi đâu biệt tăm, người ta thấy ngôi nhà củavợ chồng bà Thìn kín đáo hẳn. Ông chồng của bà Thìn là người Sán Dìu, lại về quê vợ ở rể nên cũng chẳng mấy giao du nhưng từ sau hôm thằng Lý bỏ nhà đi ông ấy chẳng biết làm gì mà cả ngày ở sau vườn đào đào bới bới. Có người đã thấy ông ấy hì hụi đào một chiếc hố dài dài, đã đùa. “Ông tìm vàng hay đào hố chôn mình đấy?”. Thằng Lý bỏ đi, đâu như cũng trùng với dịp ông Thanh bị bắt đi? Trẻ con lạ làng, lạ bạn, lại chắc không ở được với dì ghẻ nên bỏ về quê trên Lạng Sơn ở với họ hàng? Gì thì giọt máu đào hơn ao nước lã mà. Con cháu nhà người ta người ta cưu mang. Mong gì ở thứ dì ghẻ, lại là thứ dì ghẻ không đẻ đái sinh con. Đàn bà không có con khác nào cái giỏ không có hom.  Có gì đưa vào tuột ra hết. Cũng có lẽ vì vậy nên từ khi thằng Lý bỏ đi vợ chồng bà Thìn đâm lánh mọi người. Họ mặc cảm chuyện riêng tư chuyện gia đình ấy mà.

Mấy tháng lại đây tự dưng bà Thìn hay tình cờ đảo qua ngõ nhà bà Chiên. Ánh mắt bà Thìn nhìn rất nhanh vào nhà, vẻ mặt lấm lét như người mắc lỗi. Thực ra tuy cùng làng nhưng hai bà ít quan hệ. Thời trẻ bà Thìn đi công nhân lâm trường mãi trên Sơn Động. Đi công nhân lâm trường mãi nên muộn chồng? Chắc thế nên khi bỏ lâm trường về lại làng bà Thìn không quan hệ chơi bời với ai cho dù bà ấy cũng cùng tuổi với bà Chiên. Thực ra bà Thìn về làng và lấy chồng chưa được bao lâu thì xẩy ra “chuyện ông Thanh”. Chuyện xẩy ra ấy cả làng Me đều xa lánh nhà bà Chiên chứ đâu có mỗi bà Thìn xa lánh. Nghĩ vậy nên bà Chiên cũng bỏ qua. Người ta xa lánh cũng có lý đúng của người ta. Mình thích hay không cũng không được.

Bà Thìn như tình cờ đi ngang qua và dừng lại trước ngõ, bà nhìn trước ngó sau chừng như không thấy ai thì nói bâng quơ. Giọng nói gấp gáp và thái độ thì sợ sệt. Câu nói vọng vào nhà đủ cho bà Chiên nghe được. “Tìm được thằng ấy là ra mọi chuyện”. Ban đầu nghe câu nói vọng vào bà Chiên thấy dửng dửng. Chẳng biết bà Thìn nói thằng nào? Chẳng biết bà Thìn nói ám chỉ cái gì? Nhà mình đã lắm chuyện lắm rồi nghĩ làm gì câu nói bâng quơ của người qua đường. Nhưng bà Thìn đâu chỉ tình cờ ngang qua một lần, bà ấy đâu có nói bâng quơ một lần. Chết nỗi bà Chiên đâu có để tâm. Người làng hay nói điều dị nghị ấy mà.

“Kẻ giết người là một thằng còn trẻ. Nó bỏ làng Me trốn đi rồi”. Bà Chiên giật bắn mình. Ba gian nhà vẫn vắng lặng. Ông trưởng thôn và thằng Lợi chưa thấy đâu. Trên ban thờ hình như vừa vọng xuống tiếng nói ban nãy. Bà Chiên cuống cuồng chắp tay khấn vái. “Con nam mô a di đà phật, con lạy cha. Nếu đúng như cha vừa chỉ con xin cha dẫn đường cho con đi tìm kẻ đã làm gia đình con tan nát. Con xin cha nói cho con biết kẻ rắc họa vào nhà con đang ở đâu? Con xin cha thương vợ chồng con, xin cha thương hai cháu”.

Không gian vắng lặng như chưa hề có chuyện gì xẩy ra. Khói hương đã cháy gần hết. Từng đụn khói không bay tỏa hết mà quền quện như không muốn bỏ đi. Mùi hương trầm thơm ngát nồng nồng làm ba gian nhà ấm cúng hẳn. Bà Chiên vẫn ngơ ngác như chưa tỉnh lại. Ánh mắt bà vẫn nhìn lên tấm chân dung liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến như cố van nài. Không có âm thanh nào đáp lại. Chỉ chi thoảng dội từ trên nóc nhà xuống tiếng “tách” của viên ngói nứt. Chỉ thi thoảng dội từ trên nóc nhà xuống tiếng “bốp” của gióng tre nổ. Bấy giờ bà Chiên mới mang câu nói vọng vào nhà của bà Thìn để đối chứng. Vậy là linh tính mách bảo hay chính vong linh của ông cụ mách bảo trùng với câu nói của bà Thìn. Bà ấy biết chuyện nhưng giấu suốt. Tại sao bà Thìn lại đi giấu chuyện kia chứ? hay là bà ấy bị ông chồng người dân tộc Sán Dìu của mình bỏ bùa mê thuốc lú bây giờ mới tỉnh? Hay là bà ấy vì sợ quá mà mắc bệnh cấm khẩu?

– Cô đang nghĩ gì vậy ha?

– Không. Cô xin phép đi quanh thôn một lát.

– Trưa cô nhớ về ăn cơm, cô ha.

Cô gái nói với theo. Vẫn cái giọng ngọt thừ ấy nhưng bà Chiên thấy ngài ngại. Bà cảm thấy sờ sợ.

***

Nhẩn nha từ đầu làng tới cuối thôn cũng vừa đẫy một buổi sáng. Thảo nào mà người ta lại gọi thôn này là “Thôn Đoàn Kết”. Một thôn mới lập bao gồm cả người Kinh lẫn người dân tộc, Ba Na có, Ê Đê có. Những căn nhà xinh xinh nhìn thích mắt, lấp ló giữa những vườn cà phê. Những căn nhà nhìn lạ lẫm với những ánh mắt ngồi trên sàn ngó xuống nhìn người đàn bà xa lạ đang đi dọc con đường màu đỏ mịn. Sáng nay nắng lên sớm. Ánh nắng soi cao thêm gốc cây cẩm lai đứng chơ vơ. “Con nên cẩn thận. Thằng ấy nó dễ manh động”. Bà Chiên vừa đi vừa chắp mối lại các hiện tượng cùng những câu nói.

Đầu tiên là bà Thìn. Bà ấy chắc biết chuyện ngay từ đầu nhưng sao lại giấu suốt? Giấu những gần mười năm còn gì? Đã giấu kỹ vậy sao tự dưng bà ấy lại nói ra? Cũng có thể lương tâm bà Thìn day dứt. Thôi đúng rồi. Làng Me còn lan truyền, còn dặn lại nhau đời này qua đời khác. “Những ai đã ăn, đã uống nước giếng Bà Cô mà không trung thực sẽ bị đầy đọa mà không sống nổi”. Lời nguyền mắc họa khi đem nước giếng cô làm hàng hóa cùng với lời thề độc về sự không trung thực đã giúp người làng Me bao đời nay sống với nhau tình thân như ruột thịt. Làng Me tuy bé nhỏ nhưng những người làng lớn bên cạnh có bao giờ bắt nạt được đâu. Tuy bé nhỏ nhưng được cái biết bảo ban nhau, biết giúp đỡ nhau. Thảo nào gia cảnh bên nhà bà Thìn mấy năm nay như rối loạn. Nghe đâu thằng con trai lớn của ông chồng Sán Dìu của bà Thìn làm ăn chẳng biết ăn chia thế nào để bạn hàng đâm chết. Rồi thằng Lý bỏ đi. Rồi nhà ấy cửa giả luôn im ỉm như buôn hàng cấm. Bà Thìn nói ra cũng có nghĩa như tháo được ách, được cùm. Cởi được lòng cho nhẹ vợi. Cũng có khi bà Thìn ban đầu không biết chuyện. Nếu biết chuyện chắc không giấu được. Đàn bà dù kín đáo đến đâu cũng chỉ “sâu sắc như cơi đựng trầu”. Hay là bà ấy bị ông chồng người Sán Dìu khống chế. Có thể lắm. Bà ấy chỉ như tình cờ ngang qua nhà mình thôi mà. Bà ấy chỉ nói bâng quơ thôi mà.

Rồi ông cụ nhà mình hiện về ứng báo đúng ngày giỗ nữa chứ. Vong linh ông cụ thiêng nên biết chọn dịp nào thích hợp để ứng báo. Vậy mà mình đã trót có lời trách ông cụ chần chừ mãi. Bà Chiên suỵt sùi ngân ngấn nước mắt. Vong linh dù có thiêng đến đâu cũng chỉ là cái vong vô hình vô ảnh. Trách hờn cái vô hình vô ảnh khác nào mình đi trách linh tinh. Vong linh có thể nhìn thấy được chuyện trần gian nhưng vong linh không làm gì để ngăn cản được. Ông cụ là vong linh nên ông cụ kín kẽ và cẩn thận. Mỗi lời nói của vong linh là lời nói độc đùa làm sao được. Bà Chiên chắp tay như khấn vái. Tự đáy lòng bà biết mình có lỗi với vong linh cha chồng. Bà Chiên nhớ lại chuyện ông cụ ứng báo cho bà và thằng Lợi đi đón về làng. Chỉ riêng chuyện chiếc mũ tai bèo thôi cũng đủ cho bà mối khi nhớ lại rùng mình thành tâm. Ông cụ đã ứng báo là không trật được.

Giời đất run rủi thế nào để mình đến đúng cửa nhà thằng Lý ở thì say nắng. Say nắng rồi để cô gái xinh ngoan là vợ của “thằng ấy” lại rước mình vào nhà nghĩ dưỡng. Run rủi như định mệnh vậy. Lại còn đứa con gái lên hai nữa. Nó mới lên hai tuổi, tức là còn quá nhỏ để ăn nói lượn lờ theo kiểu người lớn. Nó khoanh tay “Con chào bà ngoại bắc chắc là có lý do gì chứ?”. bà Chiên phân vân, con bé chào như vậy cũng có nghĩa là trong đầu óc non nớt của nó không có hai từ “bà nội”. Có thể cha nó, tức thằng Lý ấy không bao giờ nói chuyện với vợ với con về người mẹ của mình. Thằng Lý không công nhận bà Thìn là mẹ đã đi một nhẽ nhưng nó không nhắc hai từ “bà nội” với con chứng tỏ thằng Lý còn đang giấu vợ giấu con chuyện gia đình nhà mình  ở ngoài bắc.

Thằng Lý muốn giấu tiệt chuyện nó đã làm, tức là nó đã biết ngần bấy năm tội lỗi do chính nó gây ra đã có người chịu thay. Tội lỗi của nó qua ngần bấy năm chắc đã chôn vào quên lãng. Mấy ai còn cất công tìm lại chuyện cũ mà chuyện cũ lại không hề có một căn cứ gì để lần ra. Chẳng có một căn cứ gì để kết luận nó là thằng gây án. Bà Chiên bất giác lo âu. Ngần bấy năm thằng Lý giấu kín tung tích. Cũng ngần bấy năm chuyện tày trời đã khép lại. Bây giờ mình đường đột đến và gặp nó. Gặp nó rồi nói với nó rằng: “Mày là thằng tội phạm” thì có khác nào câu nói hàm hồ. Không khéo nó nổi sung lên thì hỏng thêm nhiều việc. Mình chờ nó về để gặp nó và chỉ với chứng cứ là câu nói bâng quơ của bà Thìn, bà mẹ ghẻ của nó, nó sẽ cười và trả lời, chắc do bà dì ghẻ cay nghiệt với con chồng nên đặt điều vu khống. Hơn nữa câu nói bâng quơ của bà Thìn chẳng có gì là chứng cớ. Bảo nó tự giác nhận tội ư? Họa là nói chuyện bảo nó lên trời.

Đấy ông Thanh nhà mình đấy. Ông ấy ra tòa một mực kêu oan mà có ai thèm nghe. Ông ấy ra tòa còn có cả ông luật sư cũng nói có dấu hiệu oan sai mà tòa có thấu. Bà Chiên bùi ngùi nhớ lại. Hôm tòa xử, ông Thanh với đầy đủ chứng cứ không thể chối cãi. Nào là có mỗi mình ông ấy có mặt tại hiện trường. Nào là trên tay ông ấy còn con dao dính máu. Nào là khắp người cô Thoan toàn vết tay vết chân của ông Thanh. Như thế là tội mười mươi rồi còn gì. Khổ thân ông Thanh, cả đời chưa bước chân ra khỏi làng Me thì nói gì không bị người ta bắt nạt. Đàn ông đàn ang gì mà lành hiền quá. Ra tòa, tòa đổ diệt cho cũng chấp nhận. Sau lần này, nếu như được thế, không hiểu ông ấy có sáng lên tí nào không.

Ngay mình nữa. Trách chồng thì hãy trách mình trước. Ông Thanh bị dồn đẩy đến mu muội đã đành, đằng này mình đường đường chính chính mà cũng có khá hơn đâu. Mỗi năm một lá đơn kêu oan cho chồng. Vị chi mười năm đủ mười lá đơn mà đơn kêu có tới nơi đâu. Cũng tại mình là người nhà quê. Người nhà quê biết chỗ nào để gửi đơn nên cứ qua huyện qua tỉnh. Huyện với tỉnh hứa lần một rồi hứa lần mười. Toàn là hứa không thôi. Thời buổi này có nhiều tiền thì tội to thành tội nhỏ. Thời buổi này có ít tiền thì tội nhỏ thành tội to. Không tiền có mà đi kiện củ khoai. Không tiền thì có mà đợi đến mùa quýt. Không tiền có mà chờ vào mắt. Thấy mình tất tả không xong có người đã nói vậy. Nào là còn “Nhất thân nhì quen nữa”. Tội nặng nhẹ cũng tùy vào vị thân sơ. Mình là người nhà quê chẳng quen biết, thiếu học hành, tiền nong ăn đong từng bữa, người ta cứ dựa vào chỗ yếu của mình để chèn ép. Nhưng ơn giời, giờ còn có lúc có mắt. Giời thương vợ chồng mình nên giời còn cho ông cụ nhà mình cái anh linh. Ông cụ anh linh là do giời thương cảm. Nhưng đấy mới là vong linh ông cụ thay giời báo ứng, dễ gì giời với đất hòa hợp được với nhau?

Cảm thấy chuyện đang đi vào ngõ cụt, bà Chiên mặt tần ngần, mắt ngơ ngác đứng giữa nắng nhìn cây nhìn lá. Màn xanh kín mít như phủ kín mọi suy tính của bà. Hôm ở giữa tòa, ông Thanh đã nói đến là ông ấy hình như nhìn thấy có bóng người chạy vụt từ trong nhà cô Thoan ra trước khi ông ấy bước vào mà có ai để ý. Người ta đã khép cho ông Thanh nhà mình toàn những tội tầy đình. Nào là ý định thông dâm không thành sinh ý đồ cưỡng dâm. Nào là cưỡng dâm không được sinh giết người diệt khẩu. Ông chánh tòa hôm ấy tuyên đọc mà đến bây giờ bà Chiên còn hãi hùng, còn kinh sợ. Giọng ông chánh tòa nghe như sấm dậy khiến bà Chiên suy sụp, bà đổ gục người trong sự thất kinh. Ôi chao. Giọng ông chánh tòa đanh sắc và lạnh lùng, ông ấy tuyên án một cách dửng dửng trong tiếng thét tuyệt vọng của mình, trong tiếng nấc nghẹn oan ức của ông Thanh. “Ông ấy cũng đáng lắm. Ông chánh tòa ấy”. Bà Chiên bật cười xong vội tắt ngay nụ cười vừa hé. Mình nói như vậy là không được, nói vậy là nói ác cho người ta. Chuyện ông ấy bị tai biến giờ sinh lú lẫn là chuyện sức khỏe con người. Con người ta ai nắm tay được từ  đêm đến sáng. Sông Thương kia kìa, sông ấy còn có khúc đục khúc trong đấy thôi.

– Cô đã tìm được nhà nào kêu bán nương cà phê chưa?

Giọng con gái ngọt thừ làm bà Chiên giật bắn cả mình. Cô gái trẻ, vợ thằng Lý đang đứng ngay trước mặt.

– Cháu chỉ lo cô không quay lại nhà cháu nữa?

– À.

Bà Chiên ấp úng. Quả tình lúc này bà tự nhiên bỗng thấy ghê ghê cô gái. Nụ cười hiền và giọng nói ngọt thừ làm bà tự dưng thấy sờ sợ, muốn nhụt chí.

– Cháu đợi cô mãi ha.

Nét mặt cô gái tỏ vẻ mừng rỡ nhưng giọng nói chuyển run rẩy.

– Chồng cháu đang giấu cháu điều gì. Cô ơi, không lẽ cô biết mà cô cũng giấu cháu?

NGUYỄN TRỌNG VĂN

(Còn tiếp)

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 1

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 2

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 3

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 4

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 5

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 6

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 7

>> Tiếng con chim lợn kêu ngang qua – Kỳ 8

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *